Chương 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH SƠN MÔN TẾ XUYÊN - BẢO KHÁM Ở TỈNH HÀ NAM 1. Sự truyền bá dòng thiền Lâm Tế từ Trung Quốc vào Đại Việt Việt Nam có đường biên giới phía Bắc giáp với phía Nam Trung Quốc. Từ lâu, hai nước đã có quan hệ chặt chẽ qua những khía cạnh lịch sử, ngoại giao, văn hóa và cả tôn giáo, nhất là Phật giáo Đại thừa (Bắc truyền). Hầu hết kinh điển của Phật giáo được dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán và truyền vào Việt Nam qua những lần thỉnh trao Đại Tạng kinh từ thời Đinh đến thời Trần [30]; hay trong 05 phái Thiền của Trung Hoa [11] thì có 02 phái (Lâm Tế và Tào Động) có ảnh hưởng lớn đối với bản đồ phát triển Phật giáo Đại Việt.
Từ khởi nghĩa của Lý Tự Thành đánh sập hậu tẩm nhà Minh vào năm 1630 và chừng hơn 10 năm sau, khi người Mãn đánh bại khởi nghĩa Lý Tự Thành, toàn chiếm Trung Hoa và thiết lập lên triều đại Mãn Thanh thì cũng là lúc Thiền tông Lâm Tế theo dòng kệ của Thiền sư Đột Không Trí Bản (1381 - 1449) - Môn nhân truyền pháp Lâm Tế đời 25 ở chùa Phổ Minh núi Long Tiêu huyện Kiềm Dương, Trung Quốc được biệt truyền sang Đàng Ngoài nước Đại Việt. Dẫn theo cuốn “Kiềm Dương Phật giáo lược sử” do Thiền sư Tâm Chiếu Bất Tuyên soạn thì bài kệ truyền pháp của Thiền sư Đột Không Trí Bản gồm 48 chữ, mỗi chữ tương ứng với một đời, được các Thiền sư đi trước dùng để đặt tên cho đệ tử của mình, gọi là “Tự bối”. Nội dung của bài kệ truyền thừa được Cư sỹ nghiên cứu độc lập Hán Nôm Phật giáo Lê Quốc Việt dịch và Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm hiệu đính, cụ thể như sau: “Trí Tuệ Thanh Tịnh Dịch nghĩa: “Trí Tuệ Sáng Trong Đạo Đức Viên Minh Đạo Đức Sáng Tròn Chân Như Tính Hải Biển Tính Chân Như Tịch Chiếu Phổ Thông Lặng Chiếu Khắp Cùng Tâm Nguyên Quảng Tục Nguồn Tâm Rộng Tiếp Bản Giác Xương Long Gốc Giác Hanh Thông Năng Nhân Thánh Quả Siêng Trồng Quả Thánh Thường Diễn Khoan Hoằng Thường Bày Không Môn Duy Truyền Pháp Ấn Chỉ Truyền Pháp Ấn Chứng Ngộ Hội Dung Chứng Ngộ Hội Dung 11 Kiên Trì Giới Định Gắng Gìn Giới Định Vĩnh Kế Tổ Tông” Nối Mãi Tổ Tông” Khi cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Thành diễn ra, có rất nhiều tu sĩ Phật giáo thuộc Thiền tông Lâm Tế ôm ấp lý tưởng “phản Thanh phục Minh” đã né tránh chính sách đàn áp của nhà Thanh, chấp nhận hạnh nguyện Đầu đà sống lưu vong bằng việc theo chân di dân hoặc thương thuyền tỵ nạn đến Đại Việt, Chiêm Thành và Chân Lạp để truyền bá Phật giáo và định cư tại đây. Hai trong số những nhóm Thiền sư người Hoa tiêu biểu thuở ấy được “Ấn Phật tâm tông” (Sa di Minh Hành Tại Tại biên soạn) và Hương Hải Thiền sư Ngữ lục (Tăng thống Chân Lý biên soạn) nhắc đến có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Lâm Tế Đàng Ngoài, đó là nhóm Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết, Minh Hành Tại Tại, Minh Huyễn Liễu Nhất và nhóm Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm.
Sau đây, luận văn sẽ công bố và dịch toàn văn phần “Tổ sư xuất thế thực lục” ghi chép về Kiều tăng Viên Văn Chuyết Chuyết và phần khảo thuật về Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ và Viên Khoan Đại Thâm với dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài và trình bày vài nét khái quát về tư tưởng của dòng thiền này. Hành trạng Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết và khảo thuật về Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ và Viên Khoan Đại Thâm với dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài Theo phần “Tổ sư xuất thế thực lục” đặt đầu sách được mang dưới hai tên “Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục” (Tập 1, 2, 3, chùa Tây Am tàng thư) và “Ấn Phật tâm tông” (Tập 4, 5, 6 đã thất truyền, tàn khuyết tập 7, 8, 9 am Chân Thanh tàng thư, tập 10, 11, 12 lưu ở Thư viện Viện Sử học) - sách được đệ tử Sa di Minh Hành biên tập và khuyên giáo khắc in bởi Công chúa Diệu Thiện vào quãng năm 1647 tại chùa Phật Tích cho hay: “Tổ sư họ Lý, tên húy là Viên Văn, hiệu là Chuyết Chuyết, người Tiệm Sơn, Hải Chừng, Thanh Chương, Mân Điện (nay là Phúc Kiến, Trung Quốc). Ông nội tên húy là Kiều, bố tên là Nhược Lâm. Mẹ là Sái thị nằm mơ thấy từ nách mọc ra bông sen vàng mà có thai Sư, liền 3 năm mới sinh nên đặt tên là Tân Liên (từ cổ chưa từng có ai chửa 3 năm nên gọi là “Tân”, theo điềm trong mộng mà đặt là “Liên”).
Sư sinh nhằm giờ Sửu ngày mùng 2 (Giáp Tuất) tháng 2 (Kỷ Mão) năm Canh Dần niên hiệu Minh - Vạn Lịch thứ 17 (1590). Sư 5 tuổi (1594) thì mất mẹ, 7 tuổi (1596) thì mất cha, ông mới dắt sư sang nhờ thím nuôi dưỡng. Sư ấu thơ đã thông minh dĩnh ngộ, đến tuổi đội mũ thì bác thông kinh sử, mải học tới mức tổn hại đến thần khí, sư thường lui vào trong chùa Tiệm Sơn yên tĩnh đọc sách. Có vị 12 hành giả thấy sư ho ra máu, liền đem chuyện thưa với Trưởng lão, Trưởng lão nghe nói thì động niềm từ bi, liền tới coi rồi hỏi: “Thư sinh làm gì mà ra nông nỗi này?” Sư đáp: “Mải học”.
Trưởng lão lại hỏi: “Thế rốt cuộc học để làm cái gì?” Đáp: “Giúp vua cứu dân”. Trưởng lão nói: “Lành thay! Lành thay! Đó thực là chí ngút trời, nhưng chẳng qua cũng vẫn là ham muốn danh lợi, há lại chẳng muốn ngó tới cái “bản lai diện mục” của sống chết sao!” Sư vẫn chưa hiểu, Trưởng lão bèn sai hành giả đem ra một cái trống tiểu cho sư xem. Trưởng lão nói: “Trống này mặt bịt bằng da trâu, thân thì bằng gỗ khô, bên ngoài thân thì mảy may chẳng có một vật gì, mà bên trong thì bản thể rỗng không. Trước khi gõ thì làm gì thấy danh tiếng, nhưng sau khi gõ thì danh tiếng liền theo Nghiệp mà nảy sinh.
Danh tiếng chẳng qua một thời, còn nghiệp nát kia theo muôn thuở mà chẳng tan, vậy cái danh tiếng đó từ đâu mà ra?” Thư sinh biết mà không nói được ra, được lát thì đại ngộ, thấy những thứ xưa nay chẳng phải là chân tính, danh tiếng là thứ không thực, liền nói: “Công danh cái thế thị hư đản Thế vọng đẳng thiên tăng nghiệp tập Văn chương quán thế tương lang hổ Danh dự nhập nhĩ tự phi nhăng” Dịch nghĩa: “Công danh trùm đời đều hư huyễn Quyền thế ngang giời thêm trái oan Văn chương lừng lẫy sói lang Tiếng tăm nghe tựa như phường ruồi bâu” Liền bỏ Nho theo Phật, nghiền ngẫm yếu chỉ Vô sinh, luận bàn phép Tối thượng thừa. Tham thiền được mấy tháng thì ông và thím hay tin, tỏ ra thương cảm vô cùng, liền tìm đến chùa khuyên nhủ và muốn đưa sư về. Liệu biết có cái ý không thể vãn hồi được, vì thế mà thầy trò ngầm bàn chạy sang am Bồ Đề chùa Nam Sơn, ngay trong đêm lên yết kiến Trạng nguyên tăng Đà Đà Pháp sư. Đà Đà thấy sư là người kỳ lạ, lòng thầm mến liền nói với Trưởng lão tăng rằng: “Ngày sau ta nên tránh người này, người này hơn ta trăm lần”.
Liền trao cho sư yếu chỉ tâm tông, mỗi ngày càng thêm tỏ ngộ. Ngày đản Mậu Thân năm thứ 35 niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh (1608), sư thụ Tỷ kheo 250 giới vô tướng, giữ 84. 13 Sư vân du mười phương, theo duyên mà hóa độ cho người. Đến nước Cổ Miên, Quốc vương lễ sư bằng thầy, các bậc đại thần đều cung kính quy y, nhưng khổ nỗi dân nước đó hay bị cá sấu làm hại.
Một sớm, vua cùng sư đi đuổi cá sấu, sư vốn từ bi, không nỡ giết hại. Liền viết một bài sớ văn, ném xuống giữa dòng, cá sấu theo đó mà bỏ đi. Từ đó về sau, dân không còn bị khốn khổ nữa, người trong nước ai cũng tụng ơn, sư theo đó mà hoằng dương Phật pháp, rộng độ chúng sinh được 16 năm thì làm kệ xin cáo từ về nước. Vua xem kệ, ân cần lưu giữ, thấy sư một mực muốn về, vua bèn đặc ân tiễn đưa, quan liêu văn võ đại thần tiễn sư bằng vàng bạc đầy mấy gánh nải, sư tơ hào không lấy.
Bỗng có một thiện nam lấy trong tay áo ra một gói bạc khoảng trăm lạng dâng lên, sư nói: “Lành thay! Lành thay! Số bạc này là lộ phí giúp ta vượt qua mấy ngàn dặm đây!” liền nhận. Về đến quê nhà, thím mở ra xem thấy trong túi nải không có gì ngoài lá Bối đựng đầy ở trong. Từ đó mà phẩm giá lừng thiên hạ, tiếng tăm vang khắp cõi, văn thân đại phu không ai là không đem lòng ngưỡng mộ, mỗi khi chụm đầu bàn chuyện không ai là không ví “như ông Chuyết”. Sư đúng là cái “bát qúy của Thiền tông, rường cột của Phật pháp”.
Ở lại nước không lâu thì muôn duyên hội đủ ở vườn Kỳ, sư bèn cáo từ chúng quan bạn rằng: “Kẻ sỹ mà lưu luyến ở lại thì không đáng gọi lại kẻ sỹ!” Liền vượt biển sang chơi đất Quảng Nam, Thuận Hóa. Tiến lui chừng 7, 8 năm nói pháp giúp người, chúng sinh đều được lợi lạc, kẻ phú hào theo sư như đi chợ. Sư đi khất thực ở Hàn Than, Cổ Bảng thì gặp Minh Hành, sư cho là kỳ lạ, cho là của báu, liền đem Tâm pháp không hai trao truyền cho. Bỗng có thương gia giàu có ở đất Đông Đô là Nguyễn Tề thỉnh sư ra Bắc làm lễ cầu siêu cho cha mẹ.
Sư ngầm bàn với mọi người rằng: “Đó không phải việc của bọn ta, nhưng muốn khai quyền hiển thực thì không thể không đi”. Liền cùng đồ chúng cùng lục tục ra Bắc tìm đến nhà Tề, nhưng Tề không may phạm tội nên không được tha. Thầy trò bèn đi khất thực, được vài tháng thì mới gặp Trưởng giả Cấp Cô Độc. Đương thời có Đức bà là Lão cung tần giàu có mà tin Phật xin theo sư học đạo, ba cô con gái xin được quy y.
Không lâu thì lại có em trai Thanh vương Trịnh Tráng là Dũng Lễ công Trịnh Khải hâm mộ Thiền học của sư, liền sai người rước sư đến phủ. Qua vài câu hỏi đáp, Khải biết sư là người thấu triệt huyền vi, biện tài vô ngại, liền vái sư làm thầy, chắp lễ theo làm đệ tử. Khải tuy yêu trọng sư hết mực, nhưng đôi chỗ vẫn còn nghi ngờ đạo pháp, mới đem tục tình ra thử mà roi vàng bất 14 động, không nhiễm mảy bụi, trải qua mấy tháng vẫn nguyên như cũ, Khải cho là bậc dị nhân, liền cho con gái theo sư xuất gia.