mở đầu các lễ hội hiện đại, sau đó lá cờ còn xuất hiện trong các hoạt động xếp hình, xếp chữ, diễu binh, diễu hành biểu dương lực lượng… 3. Các nghi thức như: Chào cờ, Quốc ca, Quốc tế ca (nếu có): Đây là những nghi thức bắt buộc trong nghi lễ và trở thành thông lệ. Đây là lúc trang nghiêm nhất, quy tụ và tập hợp niềm tin của cộng đồng vào mục tiêu, lý tưởng thiêng liêng, thống nhất của đất nước; là thời điểm thể hiện ý chí quyết tâm trước khi bước vào thực hiện nhiệm vụ nào đó. Lễ Dâng hương: Là một hoạt động truyền thống thể hiện sự tôn kính của cá nhân và cả cộng đồng với các đối tượng được thờ cúng.
Lễ dâng hương nhằm gắn kết quá khứ và hiện tại, xâu chuỗi hiện thực và siêu nhiên, với mong muốn “âm phù, dương trợ” tạo ra sự thống nhất và đồng thuận trong mục tiêu vươn tới. Diễn văn/ Chúc văn khai mạc: Người có vị trí, địa vị trong xã hội đại diện cho tập thể đọc diễn văn khai mạc bày tỏ tình cảm của tập thể đối với các nhân vật, sự kiện mà lễ hội kỷ niệm, đồng thời thể hiện ý chí quyết tâm của tập thể trong giai đoạn kế tiếp. Định hướng, giao nhiệm vụ cho các cấp ngành địa phương, đơn vị… 6. Đại biểu phát biểu ý kiến: Đại diện đại biểu cho các tầng lớp nhân dân tham dự lễ hội lên phát biểu ý kiến, bày tỏ tình cảm, thái độ của tầng lớp, tổ chức mình, đồng thời thể hiện ý chí thống nhất, quyết tâm phấn đấu đạt được các mục tiêu nhiệm vụ được giao.
Duyệt/ Diễu binh, diễu hành, biểu dương lực lượng: Hoạt động này chỉ diễn ra trong các lễ hội kỷ niệm trọng thể, có ý nghĩa lớn lao, đánh dấu những thời điểm đặc biệt quan trọng của đất nước hoặc địa phương. Hình thức này nhằm biểu dương sức mạnh của tập thể, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí trong một khối thống nhất. Tham gia duyệt, diễu binh diễu hành quần chúng có các đơn vị lực lượng vũ trang của các quân binh chủng với các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật quân sự. Bên cạnh các đơn vị lực lượng vũ trang, còn có sự tham gia của các cấp,ban ngành đoàn thể được sắp xếp bố trí chặt chẽ, khoa học liên hoàn để biểu dương sức mạnh và thành tựu kinh tế văn hoá, xã hội đạt được trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tổ chức các hoạt động văn hoá nghệ thuật tập thể: Theo một kịch bản đã thống nhất được dàn dựng công phu, tập luyện, sau các nghi lễ là lúc tiến hành các hoạt động văn hóa nghệ thuật – thể thao thông qua các tiết mục hát múa, các màn đồng diễn thể dục, xếp hình, xếp chữ… 9. Bắn pháo hoa, thả đèn trời, thả bóng, thả chim bồ câu…Tuỳ vào tính chất và nội dung của sự kiện của lễ hội và điều kiện thực tế của đất nước hay các địa phương ở thời điểm tổ chức lễ hội mà trong chương trình của buổi lễ có hay không các hoạt động này. Các nghi thức và các hoạt động khác: Trong thời gian và không gian diễn ra lễ hội, tuỳ tình hình thực tế mà các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân, đơn vị có thể có nhiều hoạt động phong phú đa dạng khác mang đậm nét văn hóa truyền thống và hiện đại. Tóm lại, dù là lễ hội truyền thống hay lễ hội hiện đại thì vẫn luôn mang trong mình một nhiệm vụ, đó là giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình nói riêng và tinh hoa nhân loại nói chung , tiếp thu các thành tựu của khoa học và kĩ thuật để xây dựng một nền văn hóa với bản sắc dân tộc riêng, vị thế riêng trong thời kì mới.
Đặc điểm, chức năng, vai trò của lễ hội 1. Đặc điểm của lễ hội: - Lễ hội gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang tính thiêng,. Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng. Muốn hình thành lễ hội bao giờ cũng phải tìm ra được một lí do mang tính “ thiêng” nào đó.
- Tính linh thiêng của lễ hội còn quy định “ngôn ngữ” của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa. Chính vì vậy, lễ hội còn mang tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày. - Chủ thể của lễ hội là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc.Vì vậy mà lễ hội mang trong mình tính cộng đồng sâu sắc, cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội. Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội càng lớn.
- Lễ hội một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu… - Tính cung đình là một trong những đặc điểm làm cho lễ hội thêm phần trang trọng, lộng lẫy hơn. Bởi thế, các nghi thức diễn ra trong lễ hội như: tế lễ, dâng hương…đều mô phỏng sinh hoạt cung đình. Mặt khác, nghi lễ cung đình còn giúp người tham gia nâng lên một vị trí khác, đáp ứng nhu cầu, và nguyện vọng của họ. - Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền song lễ hội cũng dần tiếp thu những yếu tố đương đại trong hoạt động lịch sử của mình như những trò chơi, các bố trí, các phương tiện kĩ thuật hiện đại như rađio, video, sóng điện tử internet…điều này đã làm tăng tính đương đại cho lễ hội.
Chức năng, vai trò của lễ hội Có thể nói, lễ hội Việt Nam đã trải qua nhiều biến thiên lịch sử và vẫn đang tồn tại bền vững trong xã hội hiện đại là vì lễ hội có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng đối với đời sống của con người, và chính điều đó làm nên sự tồn tại vững bền qua thời gian của di sản văn hóa này. Thứ nhất, lễ hội thực hiện chức năng liên kết cộng đồng, dù dưới hình thức nào lễ hội truyền thống vẫn là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân, là “cuộc vui chơi đông người” được tổ chức sau thời gian lao động, sản xuất hay nhân dịp kỷ niệm một sự kiện xã hội quan trọng liên quan đến sự tồn tại của một cộng đồng hoặc để quần chúng tìm đến một cái gì đó. Ta thấy hầu như toàn bộ lễ hội truyền thống nào cũng đều phản ánh chức năng này, từ lễ hội chùa Hương (Hà Tây), lễ hội Nghinh Ông (Bình Thuận) đến lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang)… Thứ hai, lễ hội có chức năng phản ánh, bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện ở sự ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống đã qua (như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Gióng…). Thứ ba, lễ hội còn thể hiện chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh, giải quyết những khát khao, những ước mơ của cộng đồng các dân tộc ở địa phương như lễ hội Dinh Thầy Thím, Cầu Ngư (Bình Thuận), Chùa Bà (Bình Dương), Núi Bà Đen (Tây Ninh)… Thông qua đó, lễ hội tạo cho con người niềm lạc quan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tình nhân đạo, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn.
Thứ tư, lễ hội còn có vai trò tạo môi trường hưởng thụ và giải trí. Đến với lễ hội mọi người được “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội, được “hóa thân” đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi. Trong lễ hội, người dân không chỉ hưởng thụ mà còn là người sáng tạo văn hóa, là chủ nhân thực sự trong đời sống văn hóa của chính bản thân mình. Hiện nay do phát huy tốt vai trò, chức năng nêu trên, các lễ hội đã tiếp tục thu hút được hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn quần chúng nhân dân tham gia, tạo nên một không khí náo nhiệt, hào hứng giữa đời sống lao động sản xuất của nhân dân.
Chiều sâu của tinh thần lễ hội truyền thống là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén cho mọi thời đại của mỗi dân tộc; do đó, thực hiện tốt các chức năng của lễ hội truyền thống là góp phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành mạnh, phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đề ra trong Nghị quyết lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII). Lễ hội du lịch Du lịch trong những năm gần đây có những bước phát triển mạnh mẽ, là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng về du lịch, trong đó lễ hội được xem như một bộ phận cấu thành tiềm năng ấy. Cùng với sự đổi thay nhiều mặt của đất nước trong xu hướng toàn cầu hóa, các lễ hội du lịch trên thế giới phát triển một cách nhanh chóng và đạt được nhiều thành công.
Bắc Kinh là thành phố đại diện và là biểu tượng của Trung Quốc. Tại đây đã tổ chức thành công 15 ngày Bắc Kinh Liên hoan Du lịch Quốc tế (BITF). Đây là lễ hội chính thức hàng đầu tại Trung Quốc. BITF hiện được coi là số 1 trong top 10 lễ hội có ảnh hưởng bởi Lễ hội quốc tế và Hiệp hội tổ chức sự kiện (IFEA).
Lễ hội này được tổ chức vào mỗi mùa thu mỗi năm, thu hút đông đảo người dân trên toàn thế giới tham dự, thu lại nguồn ngoại tệ lớn và tạo bước ngoặt mới cho du lịch Trung Quốc. Hasan Kamoonpuri - Liên hoan Du lịch Salalah (STF) đã diễn ra vào 15/7 đến 31/8/2013 dưới sự bảo trợ của Sayyid Ali bin Hamoud al Busaidy, Bộ trưởng Bộ Diwan của Tòa án Hoàng gia, hoạt động này bao gồm hơn 500 sự kiện có nghĩa thu hút đông đảo những người Hồi giáo tham gia và khách du lịch trên toàn thế giới.