Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người tại Việt Nam diễn biến hết sức phức tạp với thủ đoạn ngày càng manh động. Tại tỉnh Bắc Ninh – địa bàn công nghiệp trọng điểm phía Bắc với tốc độ gia tăng dân số cơ học nhanh chóng, Tòa án nhân dân hai cấp trong giai đoạn 5 năm từ 2013 đến 2017 đã thụ lý và xét xử sơ thẩm, phúc thẩm hàng trăm vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đặc biệt, nghiên cứu đặt trong bối cảnh chuyển giao pháp lý quan trọng khi Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 với điều luật chuyên biệt là Điều 134, thay thế cho Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội danh này, đánh giá toàn diện thực trạng xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013 - 2017, chỉ ra những vướng mắc, sai sót nghiệp vụ còn tồn tại và nguyên nhân cốt lõi. Từ đó, tác giả luận giải sự cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất, đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao tỷ lệ xét xử đúng người, đúng tội đạt trên 98%, hạn chế tối đa các bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan xuống dưới mức 1,5%, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý luận về tội phạm học, khoa học luật hình sự và học thuyết quyền con người được hiến định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 về quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tính mạng, danh dự và nhân phẩm. Nghiên cứu triển khai phân tích dựa trên mô hình bốn yếu tố cấu thành tội phạm truyền thống, làm rõ các khái niệm cốt lõi:

Thứ nhất, khách thể của tội phạm được xác định là quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người đang sống trong điều kiện bình thường, đồng thời có mối liên hệ mật thiết với danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm biểu hiện qua hành vi dùng sức mạnh vật chất hoặc công cụ, phương tiện tác động trái pháp luật lên thân thể người khác, gây ra hậu quả tổn thương cơ thể với tỷ lệ từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng kèm theo các tình tiết định khung cơ bản, cùng mối quan hệ nhân quả tất yếu giữa hành vi và hậu quả.

Thứ ba, mặt chủ quan của tội phạm với hình thức lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, phân định ranh giới nhận thức giữa ý chí gây thương tích đơn thuần với ý thức tước đoạt tính mạng trong tội giết người chưa đạt.

Thứ tư, chủ thể của tội phạm là thể nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định từ đủ 14 tuổi hoặc đủ 16 tuổi trở lên tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự.

Tiến trình lý thuyết còn được soi chiếu qua dòng chảy lịch sử lập pháp từ Điều 465 Quốc triều hình luật triều Lê với các chế tài phạt 60 đến 80 trượng, Thông tư số 442-TTg năm 1955, Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 đến cấu trúc 6 khoản hoàn thiện tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp gồm hồ sơ xét xử 450 vụ án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích do Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh giải quyết trong khung thời gian 5 năm, từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2017, kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án, Viện kiểm sát và Công an tỉnh.

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu là phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với các bản án có hiệu lực pháp luật trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn khảo sát, kết hợp chọn mẫu điển hình 35 vụ án phức tạp, có tranh chấp về định tội danh hoặc vướng mắc trong việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng.

Tác giả lựa chọn hệ thống phương pháp phân tích đa ngành gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật để giải nghĩa câu chữ của điều luật; phương pháp thống kê xã hội học để định lượng cơ cấu tội phạm, độ tuổi và mức hình phạt; phương pháp so sánh luật học đối chiếu giữa Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999 và 2015; phương pháp tổng hợp và mô hình hóa nhằm rút ra những kết luận khoa học chính xác, phản ánh khách quan bức tranh thực tiễn xét xử tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ hệ thống dữ liệu thực tế tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013 - 2017 cho thấy 3 phát hiện chủ yếu:

Thứ nhất, tội cố ý gây thương tích luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tội phạm xâm phạm nhân thân tại địa phương, dao động từ 18% đến 22% tổng số vụ án hình sự thụ lý hàng năm. Số lượng vụ án có xu hướng gia tăng tại các địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp như thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong và huyện Quế Võ.

Thứ hai, đặc điểm nhân thân người phạm tội phản ánh tính chất trẻ hóa rõ rệt, trong đó nhóm bị cáo có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ 67,4%, nhóm dưới 18 tuổi chiếm 8,6%. Đáng chú ý, hơn 72% số vụ án xuất phát từ mâu thuẫn bộc phát, va chạm giao thông hoặc tranh chấp sinh hoạt hàng ngày, trong đó 63,5% trường hợp đối tượng sử dụng các loại hung khí nguy hiểm tự chế như dao phóng lợn, tuýp sắt, gậy gỗ để tấn công nạn nhân.

Thứ ba, về mức độ áp dụng hình phạt, Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh đã tuyên hình phạt tù có thời hạn chiếm 61,8% tổng số bị cáo; hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo chiếm 24,5%; cải tạo không giam giữ chiếm 11,2% và các hình phạt khác chiếm 2,5%. Phần lớn các vụ án được xét xử ở Khoản 1 và Khoản 2 Điều 134, tuy nhiên các vụ án thuộc khung tăng nặng với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người cũng chiếm tỷ lệ đáng kể khoảng 14,8%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm gia tăng bắt nguồn từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa nhanh tạo sức ép lớn lên hạ tầng quản lý xã hội khi tỉnh Bắc Ninh thu hút hơn 300.000 lao động nhập cư. Trình độ nhận thức pháp luật của một bộ phận thanh thiếu niên còn hạn chế, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hành vi mang tính chất côn đồ.

So sánh với các nghiên cứu thực tiễn tại Thừa Thiên Huế hoặc thành phố Hà Nội trong cùng thời kỳ, mô hình diễn biến tội phạm tại Bắc Ninh mang đậm dấu ấn của địa bàn công nghiệp hóa, tính chất phạm tội có tổ chức và sử dụng phương tiện nguy hiểm có chiều hướng gia tăng nhanh hơn các khu vực thuần nông khoảng 15%.

Về mặt áp dụng pháp luật, nghiên cứu chỉ ra một số sai sót thực tiễn của Hội đồng xét xử do sự thiếu vắng các hướng dẫn cụ thể từ cơ quan tư pháp trung ương đối với Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 – đạo luật được 439 trên 455 đại biểu Quốc hội tán thành thông qua với tỷ lệ 89,41%. Các vướng mắc điển hình bao gồm: việc phân biệt giữa lỗi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người với tội giết người chưa đạt; cách hiểu thế nào là hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm hoặc tình tiết chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ quy định tại Khoản 6 Điều 134.

Toàn bộ các phát hiện trên được tác giả minh họa trực quan trong luận văn qua Bảng 2.1 so sánh tình hình tội phạm, Bảng 2.2 biểu diễn cơ cấu mức hình phạt áp dụng và Bảng 2.3 phân tích đặc điểm nhân thân bị cáo, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng nhận diện và định hình giải pháp xử lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử tội cố ý gây thương tích, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần khẩn trương ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017. Mục tiêu là định lượng rõ ràng khái niệm axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm, phương tiện có khả năng gây hại cho nhiều người, hoàn thành việc ban hành văn bản hướng dẫn trong thời gian sớm nhất, giúp giảm tỷ lệ vướng mắc trong định tội danh xuống dưới 2%.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh chủ trì phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe, rút ngắn thời gian trưng cầu và trả kết quả giám định pháp y từ 30 ngày xuống dưới 15 ngày, bảo đảm tính kịp thời và chính xác của chứng cứ.

Thứ ba, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân. Hàng năm tổ chức tối thiểu 2 đợt tập huấn chuyên sâu về kỹ năng phân tích cơ chế hình thành vết thương, đánh giá động cơ, mục đích phạm tội, phấn đấu 100% cán bộ nghiệp vụ nắm vững quy định mới của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh Bắc Ninh cùng các tổ chức đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các trường trung học phổ thông, cao đẳng, đại học trên địa bàn, phấn đấu kéo giảm số vụ phạm pháp hình sự liên quan đến gây thương tích từ 10% đến 15% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn và phương pháp luận sắc bén để định tội danh chuẩn xác, phân hóa đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tránh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm trong các vụ án phức tạp.

Nhóm thứ hai là Luật sư và Chuyên viên tư vấn pháp lý. Đây là tài liệu tham khảo giá trị giúp xây dựng luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo hoặc người bị hại, đặc biệt trong việc tranh tụng về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từ 11% đến 61% và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Nhóm thứ ba là Giảng viên, Nghiên cứu sinh, Học viên cao học và Sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Luận văn đóng vai trò như một nguồn tài liệu tham khảo học thuật hệ thống, cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử lập pháp và phương pháp nghiên cứu thực tiễn một đề tài luật học.

Nhóm thứ tư là Ban quản lý các khu công nghiệp, chính quyền cơ sở và lực lượng Công an xã, phường. Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm bạo lực, từ đó hỗ trợ xây dựng kế hoạch tuần tra, phòng ngừa nghiệp vụ và giữ gìn an ninh trật tự tại địa bàn cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 có những thay đổi căn bản nào về mặt cấu trúc so với Bộ luật Hình sự năm 1999? Trả lời: Cấu trúc điều luật được phân chia lại từ 7 khoản thành 6 khoản với mức hình phạt tù tối đa tăng lên tới 20 năm hoặc tù chung thân. Điều luật bổ sung hành vi dùng axit nguy hiểm, phân định rõ tỷ lệ tổn thương cơ thể thay cho thuật ngữ tỷ lệ thương tật, và quy định cụ thể chế tài hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội tại Khoản 6.

Câu hỏi 2: Gây tổn hại sức khỏe cho người khác dưới 11% có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Trả lời: Người gây thương tích dưới 11% vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 134 nếu thuộc một trong các tình tiết định khung cơ bản như: dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, dùng axit nguy hiểm, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, hoặc có tính chất côn đồ.

Câu hỏi 3: Tiêu chí nào giúp phân biệt chính xác giữa tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người và tội giết người chưa đạt? Trả lời: Căn cứ phân biệt chủ yếu dựa vào mặt chủ quan và tính chất hành vi khách quan. Trong tội cố ý gây thương tích, người phạm tội chỉ có ý thức xâm phạm sức khỏe nạn nhân, hậu quả chết người xảy ra ngoài ý muốn với lỗi vô ý. Ngược lại, tội giết người thể hiện ý thức tước đoạt tính mạng thông qua vị trí tấn công trọng yếu và cường độ bạo lực nguy hiểm.

Câu hỏi 4: Khái niệm hung khí nguy hiểm trong xét xử thực tiễn tại Bắc Ninh giai đoạn 2013 - 2017 được hiểu như thế nào? Trả lời: Tòa án vận dụng tinh thần Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP, xác định hung khí nguy hiểm gồm vũ khí quân dụng, súng săn, dao nhọn, kiếm, tuýp sắt, hoặc các vật thể tự nhiên có tính năng sát thương cao khi được sử dụng với cường độ mạnh tấn công vào cơ thể người khác.

Câu hỏi 5: Luận văn có giá trị đóng góp gì cho việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn hiện nay? Trả lời: Công trình là một trong những nghiên cứu thạc sĩ đầu tiên đánh giá toàn diện Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 từ thực tiễn địa phương, chỉ ra các khoảng trống pháp lý cần giải thích, cung cấp hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử cho các Tòa án trên toàn quốc.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ luật học về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu đề ra thông qua 5 đóng góp nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, khách thể, chủ thể và các dấu hiệu pháp lý đặc thù của cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phân tích sâu sắc 450 hồ sơ vụ án thực tế trong 5 năm từ 2013 đến 2017 tại tỉnh Bắc Ninh, làm rõ mối liên hệ giữa tốc độ công nghiệp hóa và xu hướng gia tăng tội phạm bạo lực.
  • Đánh giá chi tiết những điểm mới tiến bộ tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, chỉ ra những điểm còn vướng mắc cần hướng dẫn áp dụng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi bao gồm hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường phối hợp liên ngành tư pháp, bồi dưỡng nghiệp vụ Thẩm phán và đẩy mạnh phòng ngừa xã hội.
  • Xây dựng lộ trình triển khai cụ thể nhằm mục tiêu giảm thiểu từ 10% đến 15% số vụ phạm tội hàng năm, nâng cao chất lượng xét xử và bảo vệ triệt để quyền con người.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ ngành tư pháp hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả vào hoạt động thực tiễn xét xử và nghiên cứu học thuật chuyên sâu.