Luận án tiến sĩ về bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

180
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Bảo hiểm y tế với tiếp cận dịch vụ y tế

1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Các nghiên cứu về Việt Nam

1.2. Bảo hiểm y tế với gánh nặng tài chính y tế

1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.2.2. Các nghiên cứu về Việt Nam

1.3. Bảo hiểm y tế với chất lượng dịch vụ y tế

1.4. Kết luận và khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI CAO TUỔI

2.1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm y tế cho người cao tuổi

2.1.1. Các khái niệm và thước đo liên quan

2.1.2. Bảo hiểm y tế

2.1.3. Khái niệm và đặc điểm của người cao tuổi

2.1.4. Tiếp cận dịch vụ y tế và gánh nặng tài chính y tế

2.2. Lợi ích của bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi và các yếu tố tác động

2.2.1. Lợi ích của bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi

2.2.2. Các yếu tố tác động đến lợi ích của bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi

2.3. Vai trò của nhà nước trong hoạt động bảo hiểm y tế xã hội cho người cao tuổi

2.3.1. Lý do can thiệp của nhà nước vào thị trường bảo hiểm y tế

2.3.2. Các hoạt động can thiệp của nhà nước

2.4. Kinh nghiệm quốc tế về bảo hiểm y tế cho người cao tuổi

2.4.1. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc

2.4.1.1. Chương trình bảo hiểm y tế chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi

2.4.2. Kinh nghiệm từ Trung Quốc

2.4.2.1. Chương trình hợp tác xã y tế mới

2.4.3. Kinh nghiệm từ Ghana

2.4.3.1. Chương trình bảo hiểm y tế quốc gia

2.4.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng về người cao tuổi ở Việt Nam

3.1.1. Thực trạng già hóa dân số ở Việt Nam

3.1.2. Sức khỏe và gánh nặng bệnh tật của người cao tuổi ở Việt Nam

3.1.3. Thực trạng đời sống kinh tế của người cao tuổi ở Việt Nam

3.2. Vai trò của nhà nước trong hoạt động bảo hiểm y tế và sự tham gia bảo hiểm y tế của người cao tuổi ở Việt Nam

3.2.1. Vai trò của nhà nước trong hoạt động bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở Việt Nam

3.2.2. Tham gia bảo hiểm y tế của người cao tuổi ở Việt Nam

3.3. Thực trạng lợi ích của bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở Việt Nam

3.3.1. Sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh của người cao tuổi

3.3.2. Bảo hiểm y tế với tiếp cận dịch vụ y tế của người cao tuổi

3.3.3. Bảo hiểm y tế và gánh nặng tài chính của người cao tuổi

3.3.4. Đánh giá lợi ích và phân phối lợi ích của bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi

3.3.5. Nguyên nhân cản trở người cao tuổi tiếp cận dịch vụ y tế bằng bảo hiểm y tế

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM

4.1. Quan điểm và định hướng về bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở Việt Nam

4.1.1. Quan điểm về bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở Việt Nam

4.1.2. Định hướng về bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở Việt Nam

4.2. Các giải pháp nhằm nâng cao lợi ích của bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở Việt Nam

4.2.1. Giải pháp nhằm mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế dân số cao tuổi và thí điểm triển khai bảo hiểm y tế chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi

4.2.2. Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế

4.2.3. Giải pháp khác

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bảo hiểm y tế cho người cao tuổi tại Việt Nam

Bảo hiểm y tế (BHYT) cho người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam đã trở thành một chủ đề quan trọng trong bối cảnh dân số đang già hóa nhanh chóng. Từ năm 2011, tỷ lệ NCT đã vượt qua 10% tổng dân số, đặt ra nhiều thách thức cho hệ thống an sinh xã hội. NCT thường phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe, đặc biệt là các bệnh mãn tính, dẫn đến chi phí điều trị cao. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và cải thiện chính sách BHYT cho NCT là cần thiết để đảm bảo quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm dân số này. Theo một nghiên cứu của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, tốc độ già hóa dân số tại Việt Nam là nhanh nhất thế giới, điều này càng làm nổi bật tầm quan trọng của BHYT trong việc giảm gánh nặng tài chính cho NCT khi tiếp cận dịch vụ y tế (DVYT).

II. Thực trạng bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở Việt Nam

Thực trạng BHYT cho NCT ở Việt Nam cho thấy nhiều bất cập. Mặc dù số lượng người tham gia BHYT ngày càng tăng, nhưng vẫn còn nhiều NCT gặp khó khăn trong việc tiếp cận DVYT. Theo số liệu từ Bộ Y tế, tỷ lệ NCT tham gia BHYT còn thấp, đặc biệt ở khu vực nông thôn và miền núi. Nhiều NCT không thể sử dụng thẻ BHYT do thiếu thông tin hoặc không đủ điều kiện tài chính. Hơn nữa, chất lượng DVYT mà NCT nhận được vẫn chưa đồng đều, dẫn đến sự khác biệt trong trải nghiệm chăm sóc sức khỏe. Một nghiên cứu cho thấy, nhiều NCT vẫn phải chi trả tiền túi lớn cho DVYT, gây ra tình trạng nghèo hóa do chi tiêu y tế. Điều này cho thấy cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình.

III. Lợi ích của bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi

Lợi ích của BHYT đối với NCT không thể phủ nhận. BHYT giúp giảm gánh nặng tài chính khi NCT cần khám chữa bệnh (KCB). Theo một nghiên cứu, NCT có thẻ BHYT có khả năng tiếp cận DVYT tốt hơn và giảm thiểu chi phí điều trị. Hơn nữa, BHYT còn giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho NCT thông qua việc cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế tại các cơ sở y tế. Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích này, cần có sự can thiệp từ nhà nước nhằm mở rộng quyền lợi và nâng cao chất lượng DVYT cho NCT. Việc cải thiện thông tin về BHYT cũng là một yếu tố quan trọng để NCT có thể tận dụng quyền lợi của mình.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hiểm y tế cho người cao tuổi

Để nâng cao hiệu quả của BHYT cho NCT, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần mở rộng độ bao phủ BHYT cho NCT, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi. Thứ hai, cần cải thiện chất lượng DVYT mà NCT nhận được, đảm bảo rằng họ có thể tiếp cận các dịch vụ y tế cần thiết mà không gặp khó khăn. Thứ ba, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền lợi của BHYT cho NCT, giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức sử dụng thẻ BHYT. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội để đảm bảo rằng NCT được chăm sóc sức khỏe tốt nhất có thể.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Mục tiêu của chương này là xác định khoảng trống nghiên cứu của luận án dựa trên việc nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ở Việt Nam cũng như trên thế giới và đánh giá các kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại. Bảo hiểm y tế với tiếp cận dịch vụ y tế BHYT là công cụ tài chính để cải thiện tiếp cận DVYT (Nyman, 1999). Phần lớn các nghiên cứu quan hệ giữa BHYT với tiếp cận, sử dụng DVYT ở Việt Nam và các quốc gia khác phát hiện thấy BHYT làm tăng khả tiếp cận sử dụng DVYT. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu tổng quan của Hadley (2003) về mối quan hệ giữa BHYT với sử dụng dịch y tế, sức khỏe, việc làm và thu nhập ở các quốc gia phát triển, hay của Giedion và Diaz (2010) về tác động của BHYT đến sử dụng DVYT ở các nước thu nhập thấp và trung bình và của Spaan và cộng sự (2012) về tác động của BHYT ở các nước Châu Á và Châu Phi.

Kết quả này cũng khẳng định lại những gì mà lý thuyết bảo hiểm đã dự báo: BHYT làm giảm chi phí mà người có BHYT phải chi trả khi sử dụng DVYT nên nó làm gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ của họ. Các nghiên cứu trên thế giới - Bảo hiểm y tế làm gia tăng sử dụng DVYT: Sử dụng dữ liệu mảng từ Điều tra y tế quốc gia với phương pháp khác biệt kép (DID) và phương pháp điểm xu hướng (PSM), Wagstaff và các cộng sự (2007) chỉ ra Chương trình BHYT mới (NCMS) ở Trung Quốc làm tăng sử dụng dịch vụ ngoại trú và nội trú từ 20% - 30%. Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu 12 z của Xu và các cộng sự (2006), Giedion và cộng sự (2009), Chankova và cộng sự (2010), Bitran và cộng sự (2010), Cuevas và cộng sự (2010) và Sekyi và cộng sự (2012) về tác động của các chương trình BHYT đến sử dụng DVYT các nước Ghana, Hoa Kỳ, Colombia, Peru và Indonesia. Alkenbrack và cộng sự (2013) nghiên cứu tác động của BHYT cộng đồng đến sử dụng dịch vụ và chi trả tiền túi ở Lào.

Kết quả cho thấy người có BHYT sử dụng dịch vụ cao hơn đáng kể so với nhóm không có. Nghiên cứu của Kennedy và cộng sự (2011) đánh giá tác động của chương trình BHYT cộng đồng (MHI) đến tiếp cận và chất lượng DVYT ở phía Bắc Ghana, thông qua sử dụng dữ liệu từ phỏng vấn hai nhóm hộ gia đình có và không có BHYT và thảo luận nhóm chuyên sâu. Kết quả cho thấy tần suất sử dụng dịch vụ của người có BHYT gấp gần 3 lần so với người không có BHYT. Phần lớn người không có BHYT (93,75%) phải trì hoãn đến cơ sở y tế để điều trị do chi phí cao và họ cố gắng điều trị ở nhà và chỉ đến CSYT khi bệnh nặng không thể điều trị ở nhà.

Những phát hiện tương tự được tìm thấy trong các nghiên cứu của Saksena và các cộng sự (2010), Jutting (2003), Shimeles (2010), Devadasan và cộng sự (2007) về tác động của các chương trình BHYT cộng đồng đến tiếp cận DVYT một số quốc gia Châu Phi (như Ghana, Senegal) và và Châu Á (như Ấn Độ). Đối với NCT, Chen và các cộng sự (2007) nghiên cứu tác động của chương trình BHYT quốc dân đến tiếp cận DVYT và sức khỏe của NCT ở Đài Loan. Sử dụng dữ liệu hỗn hợp theo thời gian (Longitudinal data) với phương pháp khác biệt kép (DID – difference in difference), các tác giả nhận thấy Chương trình BHYT quốc gia đã làm tăng đáng kể việc sử dụng DVYT cả nội trú và ngoại trú của NCT và tác động rõ rệt hơn ở nhóm có thu nhập thấp và trung bình. Cụ thể, BHYT làm tăng sử dụng dịch vụ ngoại trú 14,18%, dịch vụ nội trú 9,05% vào năm 1996.Các tác giả cho rằng, việc thực 13 z hiện chính sách BHYT toàn dân là cách hiệu quả để giảm bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ y tế.

Một phát hiện tương tự của Duku và cộng sự (2015) phân tích về tác động của chính sách miễn tiền phí BHYT đối với NCT ở Ghana. Kết quả cho thấy gần 67% NCT sơ lão (60–69 tuổi) và 100% NCT trung lão và đại lão (từ 70 tuổi trở lên) có BHYT sử dụng DVYT nhiều hơn 10 lần so với nhóm không có BHYT trong vòng 6 tháng trước cuộc khảo sát. Các chính sách được khuyến nghị là: không thu tiền phí đăng ký đối với nhóm NCT; tập trung truyền thông hiệu quả đối với nhóm mục tiêu, cụ thể là hướng đến người cao tuổi, phụ nữ, đặc biệt là nhóm có trình độ học vấn thấp; và cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu để xác định các chính sách phù hợp để đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế của nhóm dân số cao tuổi đang tăng lên rất nhanh. Nghiên cứu của Hurd và cộng sự (1997) về BHYT tác động như thế nào đối với việc sử dụng DVYT của NCT ở Hoa Kỳ nhận thấy tần suất sử dụng dịch vụ cao nhất rơi vào nhóm có nhiều loại BHYT hay có hai loại là Medicare và Medicaid (0,92 lần/năm) và nhỏ nhất rơi vào nhóm không có BHYT (0,66 lần/năm).

Càng có nhiều loại BHYT thì xác suất nằm viện càng lớn. Tuy nhiên, tác động của BHYT thay đổi theo nhóm dân cư. Các nghiên cứu của Chen (2007), Trujillo và cộng sự (2005), Giedion và cộng sự (2009) chứng minhnhóm dễ tổn thương nhất (có thu nhập thấp và ở nông thôn) hưởng lợi nhiều nhất trong khi nghiên cứu của Wagstaff và cộng sự (2007) chứng minh chỉ nhóm giàu hơn mới tăng khả năng tiếp cận, sử dụng DVYT khi có BHYT. Nghiên cứu của Yip và cộng sự (2008) lại cho thấy nhóm trung lưu hưởng lợi ít nhất.

Wagstaff và cộng sự (2007) tìm thấy tác động rất nhỏ của Chương trình BHYT hợp tác xã mới ở Trung Quốc (NCMS) đến tiếp cận, sử dụng DVYT của người nghèo. 14 z - Bảo hiểm y tế không làm gia tăng sử dụng dịch vụ: Trong số tài liệu được sử dụng, nghiên cứu Cercone và cộng sự (2010) cho thấy kết quả ngược lại là BHYT đã không giúp cải thiện sử dụng DVYT.Sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra y tế quốc gia, cuộc điều tra về thu nhập và chi tiêu quốc dân và dữ liệu từ giấy xuất viện kết hợp với mô hình kinh tế lượng, nghiên cứu này đánh giá tác động của BHYT đến tiếp cận, sử dụng và sức khỏe ở Costa Rica. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người có BHYT với người không có BHYT trong việc sử dụng dịch vụ ngoại trú, nội trú và cấp cứu. Các tác giả cho rằng nguyên nhân là do ở Costa Rica không ai bị từ chối điều trị khi ốm đau và những người không có BHYT khi bị ốm có thể nhận được điều trị nhưng có thể kết quả điều trị không tốt bằng người có BHYT.

Các nghiên cứu về Việt Nam - Bảo hiểm y tế làm gia tăng sử dụng DVYT: Cùng sử dụng dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình ở Việt Nam (VHLSS) trong cặp hai năm (2002 và 2004; và 2004 và 2006) với phương pháp phân tích điểm xu hướng (PSM), nghiên cứu của Wagstaff (2007) về BHYT cho người nghèo và nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2012) về BHYT tự nguyện. Kết quả đều xác định BHYT có tác động tích cực đối với việc sử dụng DVYT. Cụ thể, BHYT cho người nghèo giúp họ tăng sử dụng DVYT ngoại trú là 16%, dịch vụ nội trú tăng 30%/năm; BHYT tự nguyện giúp người có bảo hiểm tăng số lần khám hàng năm ngoại trú khoảng 43% và nội trú là 63%. Tuy nhiên, Wagstaff cho rằng khám, chữa bệnh (KCB) nội trú không phải là cách điều trị mang lại hiệu quả về mặt chi phí đối với các hộ nghèo vì khiến họ phải chịu chi phí đi lại và chi phí không chính thức khác.

Bằng phương pháp nghiên cứu so sánh trước sau có đối chứng, đề tài nghiên cứu phát triển BHYT nông thôn công bằng và bền vững, được thực hiện tại 4 huyện ở tỉnh Hải Dương và Bắc Giang của Viện 15 z Chiến lược và Chính sách Y tế (2008) cho thấy nhóm có thẻ BHYT sử dụng DVYT nhiều hơn nhóm không có thẻ BHYT đối với cả DVYT nội trú và ngoại trú. Đối với NCT, nghiên cứu của Giang Thanh Long và Bùi Đại Thụ (2013) sử dụng dữ liệu VHLSS 2004 và 2008 với phương pháp thống kê mô tả, các tác giả phân tích về tiếp cận DVYT của NCT có thẻ BHYT ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, BHYT giúp NCT tăng số lần thăm khám theo thời gian, trong đó NCT càng cao tuổi thì sử dụng càng nhiều dịch vụ hơn nhóm thấp tuổi hơn, trong khi nhóm NCT nghèo, dễ tổn thương với nghèo (nông thôn, dân tộc thiểu số) có mức sử dụng thấp hơn nhóm khác tương ứng (không nghèo, thành thị, dân tộc Kinh). Thống kê cũng phát hiện thấy NCT sử dụng dịch vụ ở bệnh viện và cơ sở y tế tư nhân cao hơn đáng kể so với ở các cơ sở y tế xã, phường.

Các tác giả khuyến nghị nâng cao tiếp cận DVYT đầy đủ cho nhóm NCT nghèo và dễ tổn thương thông qua cải thiện cung cấp DVYT cấp cơ sở. - Bảo hiểm không làm gia tăng sử dụng DVYT: Sử dụng dữ liệu VHLSS 2006 và 2008 với phương pháp hồi quy Poisson, Nguyễn Việt Cường (2014) kết luận cả BHYT tự nguyện và BHYT miễn phí cho học sinh từ 6 đến 14 tuổi ở Việt Nam đã không làm tăng sử dụng DVYT ngoại trú. Việc có BHYT đã không khuyến trẻ đi khám nhiều hơn. Tác giả cho rằng, trẻ em chỉ đi khám ở các cơ sở y tế khi thật cần thiết vì phải đến trường học.

Nghiên cứu của Kexu và cộng sự (2006) sử dụng dữ liệu VHLSS 1997/1998 với phương pháp hồi quy logistic đa biến để đánh giá tác động của BHYT xã hội đến sử dụng DVYT và phát hiện ra rằng BHYT không làm tăng sự tiếp cận đối với DVYT tư nhân của người có bảo hiểm do BHYT xã hội chỉ chi trả cho người có bảo hiểm sử dụng dịch vụ ở các cơ sở y tế công trong thời kỳ thu thập dữ liệu. Tác giả đề xuất chính sách thiết kế gói lợi ích phù hợp và khuyến khích nhà cung cấp tư nhân tham gia nếu chất lượng đạt tiêu chuẩn nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Bảo hiểm y tế cho người cao tuổi ở Việt Nam" của tác giả Phí Mạnh Phong, dưới sự hướng dẫn của PGS. Giang Thanh Long tại Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung vào việc phân tích và đánh giá hệ thống bảo hiểm y tế hiện tại dành cho người cao tuổi tại Việt Nam. Bài viết nêu rõ những thách thức mà nhóm đối tượng này đang phải đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và bảo hiểm cho họ. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về chính sách y tế, cũng như những khuyến nghị thiết thực để nâng cao sức khỏe và đời sống cho người cao tuổi.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Dịch vụ Công tác Xã hội cho Người Cao Tuổi tại Bà Rịa - Vũng Tàu: Luận Văn Thạc Sĩ, nơi nghiên cứu về các dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi, hay Nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi trong công tác xã hội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hoạt động chăm sóc và hỗ trợ cho người cao tuổi tại các trung tâm chăm sóc. Cuối cùng, bài viết Chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hỗ trợ hiện hành dành cho nhóm đối tượng này. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới về vấn đề bảo hiểm y tế và chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam.