Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại việt nam

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp cải thiện báo cáo biến cố bất lợi trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng và an toàn.

Chuyên ngành

Dược Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

206
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO BIẾN CỐ BẤT LỢI NGHIÊM TRỌNG TRONG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG THUỐC

2.1. Một số khái niệm liên quan đến báo cáo biến cố bất lợi trong thử nghiệm lâm sàng thuốc

2.2. Qui định về báo cáo bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng

2.3. Trách nhiệm các bên liên quan trong hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng

2.4. Thực trạng theo dõi, ghi nhận và báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng trên Thế giới và tại Việt Nam

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng

2.6. Các công cụ nghiên cứu về hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng

2.7. Đánh giá về tổ chức quản lý hoạt động báo cáo

2.8. Đánh giá chất lượng báo cáo đơn lẻ biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng

2.9. Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tổng hợp thông tin về biến cố bất lợi trong thử nghiệm lâm sàng thuốc

2.10. Đánh giá thực trạng báo cáo thiếu biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc

2.11. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1. Địa điểm nghiên cứu

3.2.2. Thời gian nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.3.2. Các biến số nghiên cứu

3.3.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

3.3.4. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.3.5. Xử lý và phân tích số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam năm 2014

4.1.1. Số lượng báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược năm 2014

4.1.2. Cơ cấu báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược năm 2014

4.1.3. Chất lượng báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

4.1.3.1. Tuân thủ về thời hạn báo cáo

4.1.4. Thực trạng công tác quản lý thực hành báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại một số bệnh viện triển khai thử nghiệm lâm sàng

4.1.5. Thực trạng báo cáo thiếu (under-reporting) biến cố bất lợi nghiêm trọng tại một số bệnh viện triển khai thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược

4.1.6. Một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo biến cố bất lợi trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược năm 2014

4.1.6.1. Nghiên cứu định tính các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược
4.1.6.2. Nghiên cứu định lượng một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược

4.1.7. Bước đầu đánh giá hiệu quả của một số giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam

4.2. Thực trạng hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng tại Việt Nam năm 2014

4.2.1. Số lượng báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

4.2.2. Cơ cấu báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

4.2.3. Thực trạng về chất lượng báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

4.2.4. Thực trạng về việc tuân thủ thời hạn báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng năm 2014

4.2.5. Thực trạng công tác quản lý thực hành báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng tại các bệnh viện triển khai thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam

4.2.6. Thực trạng báo cáo thiếu (under-reporting) biến cố bất lợi nghiêm trọng tại các bệnh viện triển khai thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam

4.3. Xác định yếu tố ảnh hưởng và xếp hạng tác động của từng yếu tố đến hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam

4.4. Đánh giá sự thay đổi về số lượng báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

4.5. Đánh giá sự thay đổi về cơ cấu báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

4.6. Đánh giá sự thay đổi về chất lượng báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

4.7. Hạn chế của nghiên cứu

4.8. Đóng góp của nghiên cứu

4.8.1. Về phương pháp luận

4.8.2. Đóng góp về ý nghĩa thực tiễn

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

5.1. Thực trạng hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam năm 2014

5.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam

5.3. Bước đầu đánh giá hiệu quả của một số giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược tại Việt Nam giai đoạn 2015-2017

5.4. Đối với Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế

5.5. Đối với Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc

5.6. Đối với các bệnh viện triển khai thử nghiệm lâm sàng

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng báo cáo biến cố bất lợi trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy tình hình báo cáo biến cố bất lợi trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Một số nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tỷ lệ thử nghiệm lâm sàng không có báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) rất cao. Chất lượng báo cáo an toàn thuốc cũng đáng lo ngại, với nhiều trường hợp thiếu thông tin, thiếu nhận định mối liên quan đến thuốc nghiên cứu, và vi phạm quy định thử nghiệm lâm sàng Việt Nam. Việc tuân thủ thời hạn báo cáo cũng chưa được đảm bảo, dẫn đến sự chậm trễ trong việc phát hiện và xử lý các phản ứng bất lợi nghiêm trọng. An toàn thuốc bị ảnh hưởng trực tiếp. Các biến cố bất lợi nghiêm trọng tiềm ẩn nguy cơ cao nhưng bị bỏ sót. Cần cải thiện quản lý biến cố bất lợi. Tình trạng báo cáo thiếu phổ biến, gây khó khăn cho việc đánh giá đầy đủ an toàn thuốc. Nắm bắt thông tin bệnh nhân chính xác là yếu tố quan trọng nhưng chưa được thực hiện tốt. Hiện trạng này đòi hỏi sự cải thiện chất lượng dữ liệu.

1.1. Số lượng và chất lượng báo cáo

Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ thử nghiệm lâm sàng thiếu báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) rất cao. Chất lượng báo cáo an toàn thuốc thấp, nhiều báo cáo thiếu thông tin quan trọng, không đánh giá được mối liên quan đến thuốc. Thiếu sót trong phương pháp báo cáo biến cố bất lợi dẫn đến việc đánh giá rủi ro không chính xác. Việc tuân thủ tiêu chuẩn báo cáo còn hạn chế. Mẫu báo cáo biến cố bất lợi chưa được chuẩn hóa. Hệ thống quản lý an toàn chưa hiệu quả. Quản lý rủi ro chưa được chú trọng. Giám sát an toàn thuốc cần được tăng cường. Thực hành tốt lâm sàng (GCP) chưa được thực hiện nghiêm túc. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn thuốc và sức khỏe bệnh nhân. Giám sát an toàn sau khi bán cần được cải thiện. Cần có thông tin minh bạch hơn về các biến cố bất lợi.

1.2. Tuân thủ quy định và thời hạn báo cáo

Việc tuân thủ quy định thử nghiệm lâm sàng Việt NamICH GCP còn nhiều hạn chế. Nhiều báo cáo không đúng thời hạn báo cáo. Quy trình báo cáo chưa rõ ràng, dẫn đến sự chậm trễ trong việc xử lý các trường hợp khẩn cấp. Trách nhiệm báo cáo chưa được phân định rõ ràng. Cơ quan quản lý thuốc Việt Nam cần giám sát chặt chẽ hơn. Cần có huấn luyện báo cáo biến cố bất lợi cho các cán bộ y tế. Phân tích dữ liệu an toàn chưa được thực hiện bài bản. Xử lý biến cố bất lợi thiếu hiệu quả. Tình trạng vi phạm quy trình phổ biến. Cần có hình phạt vi phạm nghiêm khắc hơn. Đánh giá rủi ro chưa đầy đủ. Thiếu mục tiêu báo cáo rõ ràng. Cần cải thiện chất lượng dữ liệu để có đánh giá khách quan hơn. Thực hành tốt lâm sàng (GCP) cần được áp dụng nghiêm túc hơn. Sự thiếu hiểu biết về luật dược phẩm Việt Nam cũng là một nguyên nhân.

II. Yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo biến cố bất lợi

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc báo cáo biến cố bất lợi. Nguyên nhân biến cố bất lợi đa dạng, cần được phân tích kỹ lưỡng. Thực hiện thử nghiệm lâm sàng giai đoạn khác nhau có thể dẫn đến các vấn đề báo cáo khác nhau. Thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm hay thử nghiệm lâm sàng mở đối chứng đều có những thách thức riêng. Thiếu nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo SAE. Thiếu đào tạo và huấn luyện về phương pháp báo cáo biến cố bất lợi. Hệ thống báo cáo phức tạp, thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật. Áp lực công việc của nhân viên y tế. Sự thiếu tin tưởng vào hệ thống báo cáo. Những rào cản văn hóa và xã hội. Cần có phương pháp phòng ngừa biến cố bất lợi hiệu quả. Cần cải thiện hệ thống quản lý an toàn. Thử nghiệm lâm sàng quốc tếthử nghiệm lâm sàng thuốc trong nước có những điểm khác biệt cần lưu ý.

2.1. Yếu tố chủ quan

Nhận thức của nhân viên y tế về tầm quan trọng của việc báo cáo SAE còn hạn chế. Thiếu kỹ năng và kiến thức về quy trình báo cáo. Áp lực công việc lớn, dẫn đến việc báo cáo không đầy đủ hoặc không đúng thời hạn. Sự thiếu động lực và trách nhiệm cá nhân. Mức độ hiểu biết về an toàn thuốc còn thấp. Khả năng tiếp cận thông tin báo cáo chưa thuận lợi. Trách nhiệm báo cáo chưa được làm rõ. Huấn luyện báo cáo biến cố bất lợi chưa được chú trọng. Cần nâng cao năng lực của nhân viên y tế thông qua các chương trình đào tạo và huấn luyện. Xây dựng hệ thống khuyến khích và khen thưởng đối với những cá nhân có báo cáo chất lượng cao. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin bệnh nhânphân tích dữ liệu an toàn.

2.2. Yếu tố khách quan

Hệ thống báo cáo SAE chưa hoàn thiện, phức tạp và khó sử dụng. Thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ thông tin. Quy định pháp luật chưa rõ ràng hoặc thiếu tính khả thi. Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Tài nguyên y tế hạn chế, ảnh hưởng đến công tác giám sát và báo cáo. Cần đơn giản hóa quy trình báo cáo. Đầu tư vào công nghệ thông tin để hỗ trợ công tác báo cáo. Hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Tăng cường nguồn lực y tế để hỗ trợ công tác giám sát và báo cáo. Đảm bảo sự minh bạch và tin cậy của hệ thống báo cáo. Cần có hệ thống quản lý an toàn hiệu quả. Cục quản lý dược cần có vai trò giám sát chặt chẽ hơn. Thực hành tốt lâm sàng (GCP) cần được áp dụng nghiêm túc để đảm bảo chất lượng báo cáo.

III. Giải pháp cải thiện

Cải thiện báo cáo biến cố bất lợi cần nhiều giải pháp tổng thể. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo SAE. Cải thiện quy trình báo cáo. Đào tạo và huấn luyện về phương pháp báo cáo biến cố bất lợi. Đơn giản hóa hệ thống báo cáo. Tăng cường sự hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ thông tin. Hoàn thiện khung pháp lý. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Đầu tư vào nguồn lực y tế. Xây dựng hệ thống khuyến khích và khen thưởng. Đảm bảo sự minh bạch và tin cậy của hệ thống báo cáo. Áp dụng thực hành tốt lâm sàng (GCP) nghiêm túc. Xây dựng hệ thống quản lý an toàn hiệu quả. Tăng cường giám sát an toàn thuốc.

3.1. Nâng cao nhận thức và đào tạo

Tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo biến cố bất lợi. Đào tạo chuyên sâu về quy trình báo cáophương pháp báo cáo biến cố bất lợi. Cung cấp tài liệu hướng dẫn rõ ràng và dễ hiểu. Tăng cường tuyên truyền về an toàn thuốc và trách nhiệm báo cáo. Sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại để tiếp cận rộng rãi hơn. Xây dựng cộng đồng chia sẻ kinh nghiệm về báo cáo biến cố bất lợi. Cải thiện khả năng tiếp cận thông tin báo cáo cho nhân viên y tế. Tăng cường sự hỗ trợ từ các chuyên gia về an toàn thuốc. Tạo cơ chế khuyến khích và ghi nhận sự đóng góp của các nhân viên y tế trong việc báo cáo biến cố bất lợi. Cần có những biện pháp khuyến khích để thúc đẩy việc báo cáo.

3.2. Cải thiện hệ thống và quy trình

Đơn giản hóa quy trình báo cáo và sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ việc báo cáo. Xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu báo cáo hiện đại và hiệu quả. Hoàn thiện khung pháp lý về báo cáo biến cố bất lợi. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc giám sát và xử lý thông tin báo cáo. Cung cấp các công cụ hỗ trợ cho việc thu thập thông tin bệnh nhânphân tích dữ liệu an toàn. Xây dựng hệ thống giám sát và phản hồi nhanh chóng đối với các trường hợp báo cáo khẩn cấp. Cải thiện cơ sở hạ tầng để hỗ trợ công tác báo cáo. Cần có hệ thống quản lý an toàn hiệu quả. Tăng cường giám sát an toàn thuốc. Đảm bảo thông tin minh bạch trong quá trình báo cáo. Tăng cường trách nhiệm báo cáo của các bên liên quan.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Thử nghiệm lâm sàng thuốc và thực trạng triển khai thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam 1. Khái niệm thử nghiệm lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng thuốc Mặc dù được định nghĩa và diễn giải theo nhiều cách khác nhau, về cơ bản, thử nghiệm lâm sàng (TNLS) là các nghiên cứu về một can thiệp y khoa trên đối tượng con người nhằm mục đích xác định hiệu quả, hiệu lực và độ an toàn của can thiệp đó. Các can thiệp này không chỉ giới hạn ở thuốc mà còn có thể là các chế phẩm tế bào, sinh học, quy trình phẫu thuật, xạ trị, trang thiết bị y tế, điều trị hành vi, chăm sóc dự phòng hoặc giảm nhẹ v.

Như vậy, TNLS thuốc có thể được hiểu là các nghiên cứu về hiệu lực, hiệu quả và an toàn của thuốc trên đối tượng nghiên cứu là con người. Nội dung nghiên cứu của TNLS thuốc bao gồm dược lý, dược lực học, xác định liều lượng, tác dụng không mong muốn; nghiên cứu về sự hấp thu, phân bố, chuyển hoá, thải trừ của thuốc [38], [76], [99]. Tình hình triển khai nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc trên Thế giới Trong bối cảnh mô hình bệnh tật trên Thế giới có sự chuyển dịch, sự ra đời của các thuốc mới cùng với các yêu cầu kỹ thuật để bảo đảm an toàn và hiệu quả khi sử dụng thuốc mới trên con người ngày càng phổ biến và được quan tâm. Trước tình hình trên, triển khai TNLS thuốc trên Thế giới đã có gia tăng nhanh về số lượng và mở rộng về quy mô.

4 luan an Số lượng TNLS Số lượng TNLS đã công bố kết quả 234728 243758 207266 183058 159555 Số lượng 101138 83395 21266 25273 26007 11938 13904 16941 1859 361 6095 913 1291 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 4/2017 Năm Hình 1.1 Số lượng thử nghiệm lâm sàng đã đăng ký và số lượng thử nghiệm lâm sàng đã công bố kết quả từ năm 2009 đến năm 2017 Về số lượng, theo thống kê của Trung tâm TNLS thuộc cơ quan Y tế quốc gia Hoa Kỳ (the U. National Institutes of Health), số lượng TNLS đăng ký và số lượng TNLS đã công bố kết quả trên trang cơ sở dữ liệu TNLS trực tuyến (ClinicalTrials.gov) đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2009, số TNLS đã đăng ký chỉ là 83,395; đến tháng 4 năm 2017, con số này đã lên tới 241,722 TNLS (tăng gần gấp 3 lần). Cùng với đó, số lượng TNLS đã công bố kết quả cũng tăng từ 1,859 vào năm 2009 lên gần 14 lần, tới 26,007 thử nghiệm tính tới tháng 4 năm 2017 (hình 1.

Về quy mô thử nghiệm, các TNLS thuốc hiện nay có xu hướng toàn cầu hóa và thường được tiến hành tại nhiều quốc gia trên Thế giới nhằm bảo đảm tính phổ quát về số lượng người tham gia, đa dạng hóa các yếu tố chủng tộc, dịch tễ học, điều kiện chăm sóc y tế và điều kiện sống v. Năm 2011, George và cộng sự đã tiến hành khảo sát về tình hình triển khai nghiên cứu TNLS tại 25 quốc gia từ 1/2007 đến 12/2011 [40]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù các quốc gia phát triển về y tế như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức và Anh vẫn đứng đầu trong việc triển khai TNLS, các quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn 5 luan an Quốc lại được ghi nhận là những khu vực năng động và ngày càng tích cực tham gia vào TNLS. Việc mở rộng TNLS tới các quốc gia có nền kinh tế mới nổi hoặc đang phát triển, có mô hình bệnh tật đa dạng và hệ thống y tế đủ điều kiện, được coi là một xu thế tất yếu hiện nay.

Thực trạng triển khai và quản lý thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam Tương tự với xu hướng trên Thế giới, số lượng TNLS triển khai tại Việt Nam cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Theo báo cáo tổng kết của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo - Bộ Y tế, năm 2007 chỉ có 10 TNLS được phê duyệt triển khai thì đến năm 2013, con số này đã tăng lên 50 TNLS. Trong số các sản phẩm được thử nghiệm bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, vắc xin, phương pháp mới – kỹ thuật mới và thiết bị y tế, số lượng TNLS thuốc hóa dược chiếm tỷ lệ vượt trội, đặc biệt kể từ năm 2011. Các TNLS vắc xin, mặc dù chiếm tỷ lệ cao trong giai đoạn 2007-2010, có xu hướng ngày càng giảm.

Các nhóm sản phẩm còn lại có số lượng TNLS không đáng kể và không có sự gia tăng trong những năm gần đây (Hình 1. 45 41 40 Hóa Dược 40 38 Thuốc Dược liệu 35 Văc xin PP mới KT mới 30 30 Thiết bị y tế 25 21 20 18 16 16 14 15 9 10 7 7 776 7 5 6 5 5 4 5 12 00 2 00 00 2 00 1 00 1 00 0 2 0 0 01 0 2 1 21 0 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Hình 1. Số lượng thử nghiệm lâm sàng phê duyệt mới tại Việt Nam giai đoạn 2007-2016 Về cơ sở pháp lý, tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn Quốc gia về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học vào năm 2014 [9]. Hướng dẫn này tuân 6 luan an thủ và hài hòa với các hướng dẫn đạo đức nghiên cứu quốc tế, phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán, nguyên lý đạo đức cũng như trình độ nghiên cứu khoa học của Việt Nam.

Nội dung của hướng dẫn bao gồm các chuẩn mực về mặt đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, trong đó để bảo đảm tính hướng thiện và công bằng thì vấn đề cân nhắc lợi ích – nguy cơ cho đối tượng nghiên cứu luôn cần được xem xét kỹ lưỡng trong bất cứ một nghiên cứu nào. Để giảm thiểu tối đa các nguy cơ có thể có cho đối tượng thì một trong những nguyên tắc hàng đầu là phải bảo đảm an toàn tối đa cho người tham gia nghiên cứu. Để thực hiện được nguyên tắc này, việc theo dõi, phát hiện, xử trí, báo cáo AE trong nghiên cứu TNLS đã được hướng dẫn chi tiết và được pháp chế hóa bằng các văn bản, hướng dẫn khác của Bộ Y tế [2-5], [9], [12], [13]. Hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc Trong quá trình triển khai TNLS thuốc, việc ghi nhận, xử trí và báo cáo các biến cố bất lợi (AE), đặc biệt là các biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) xảy ra trong nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng.

Thứ nhất, ghi nhận, xử trí và báo cáo SAE được công nhận là hoạt động quan trọng và cơ bản nhất để bảo đảm an toàn trực tiếp cho các đối tượng thử nghiệm. Trong nhiều trường hợp, dữ liệu an toàn từ báo cáo SAE là cơ sở để tạm ngừng hoặc ngừng vĩnh viễn việc triển khai nghiên cứu. Điều này có thể xuất phát từ việc người tham gia thử nghiệm, bệnh viện hoặc nhà tài trợ tự nguyện ngừng vì lý do an toàn hoặc do yêu cầu bắt buộc của cơ quan quản lý. Thứ hai, báo cáo và thống kê dữ liệu về SAE góp phần quan trọng trong xác định tính an toàn của thuốc nghiên cứu, tạo điều kiện để nhà sản xuất xin cấp phép lưu hành thuốc cũng như tạo cơ sở để cơ quan quản lý tiến hành duyệt hồ sơ đăng ký thuốc.

Dựa trên dữ liệu an toàn từ báo cáo SAE, nhà sản xuất thậm chí có thể cân nhắc về việc không tiếp tục xin phép lưu hành thuốc nếu nhận thấy các vấn đề an toàn nghiêm trọng hoặc một cân bằng lợi ích – nguy cơ không thuận lợi từ thuốc thử nghiệm. Trên cơ sở đó, có thể khẳng định rằng, ghi nhận 7 luan an và báo cáo SAE trong TNLS là hoạt động trọng tâm, có giá trị kể cả về mặt đạo đức, khoa học, pháp lý và thực tiễn [5], [39], [89], [99]. Một số khái niệm liên quan đến báo cáo biến cố bất lợi trong thử nghiệm lâm sàng thuốc [5], [23-25], [49], [50], [90], [95], [99]  Biến cố bất lợi (adverse event - AE): Là sự việc hoặc tình trạng y khoa bao gồm bất kỳ dấu hiệu, triệu chứng, tình trạng bệnh tật hoặc kết quả xét nghiệm có chiều hướng xấu xảy ra trong quá trình, thời gian thử thuốc trên lâm sàng ảnh hưởng đến đối tượng tham gia nghiên cứu, có hoặc không có liên quan đến thuốc thử lâm sàng.  Biến cố bất lợi nghiêm trọng (serious adverse event - SAE): Là AE có thể dẫn tới một trong các tình huống sau đây trên đối tượng tham gia nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng: a) Tử vong; b) Đe dọa tính mạng; c) Phải nhập viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện; d) Tàn tật, thương tật vĩnh viễn hoặc nghiêm trọng; đ) Dị tật bẩm sinh hoặc dị dạng cho thai nhi của đối tượng nghiên cứu; e) Tình huống mà phải có can thiệp y khoa phù hợp để ngăn chặn hoặc phòng tránh một trong những tình huống a, b, c, d, đ hoặc các tình huống khác có ý nghĩa về mặt y khoa theo nhận định của NCV tại điểm nghiên cứu.

 AE ngoài dự kiến trong nghiên cứu TNLS (unexpected AE) Là các AE xảy ra trong nghiên cứu TNLS thuốc mà bản chất hoặc mức độ nặng hoặc mức độ đặc hiệu hoặc hậu quả đối với người bệnh của biến cố không giống với mô tả hoặc chưa được dự liệu chi tiết từ trước trong đề cương hoặc các tài liệu nghiên cứu có liên quan.  Phản ứng bất lợi của thuốc (Adverse Drug Reaction - ADR) Là đáp ứng gây hại ngoài ý muốn theo chiều hướng xấu xảy ra trên đối tượng tham gia TNLS và được đánh giá là có liên quan nhân quả với sản phẩm 8 luan an thử nghiệm, ở bất kỳ liều nào. Đối với các sản phẩm đã lưu hành trên thị trường phản ứng bất lợi của thuốc là đáp ứng gây hại và ngoài dự kiến, xảy ra ở liều thông thường được sử dụng cho người với mục đích phòng bệnh, chẩn đoán hoặc điều trị bệnh.  Phản ứng bất lợi nghiêm trọng ngoài dự kiến nghi do thuốc nghiên cứu (Serious and Unexpected Suspected Adverse Reaction - SUSAR) Là một phản ứng bất lợi nghi ngờ liên quan đến thuốc nghiên cứu, diễn ra trong suốt nghiên cứu, vừa ngoài dự kiến (tức là trước đó trong y văn, Hồ sơ sản phẩm dành cho NCV hoặc Bản tóm tắt đặc tính sản phẩm không có thông tin về bản chất, mức độ nặng, mức độ đặc hiệu hoặc hậu quả cho người bệnh, tần suất của biến cố) lại vừa nghiêm trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Nghiên cứu cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam" của tác giả Võ Thị Nhị Hà, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Thanh Bình và TS. Nguyễn Ngô Quang, tập trung vào việc nâng cao hiệu quả trong quy trình báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng trong các thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện chất lượng báo cáo mà còn góp phần nâng cao độ tin cậy của các thử nghiệm lâm sàng, từ đó bảo vệ quyền lợi của người tham gia và đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý và cải tiến quy trình trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank", nơi đề cập đến việc quản lý rủi ro trong lĩnh vực tài chính, một khía cạnh quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho các hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu quản lý rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại tại Bắc Kạn" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý rủi ro trong ngành ngân hàng, một lĩnh vực có nhiều điểm tương đồng với việc quản lý rủi ro trong thử nghiệm lâm sàng.

Cuối cùng, bài viết "Phát triển tư duy và kỹ năng lập luận toán học cho học sinh trung học cơ sở" có thể giúp bạn hiểu thêm về việc phát triển kỹ năng phân tích và lập luận, điều này rất cần thiết trong việc đánh giá và báo cáo các biến cố trong thử nghiệm lâm sàng.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các góc nhìn đa dạng về quản lý và cải tiến quy trình trong các lĩnh vực liên quan.