CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ Y TẾ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm thực hiện chính sách pháp luật về y tế ở vùng dân tộc thiểu số 1. Khái niệm thực hiện chính sách pháp luật về y tế ở vùng dân tộc thiểu số Khái niệm dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số Theo Từ điển Tiếng Việt, DTTS là dân tộc gồm có một số ít người, sống trong hình thức bộ lạc tuy có lối ăn mặc riêng, một ngôn ngữ riêng nhưng thường thì gần giống như dân của nước mà dân tộc đó đang ở.
Còn dân tộc đa số là dân tộc chiếm số đông nhất, so với các dân tộc chiếm số ít, trong một nước có nhiều dân tộc [27, Tr. Theo nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [5] Dưới góc độ khoa học pháp lý, DTTS là khái niệm thuộc phạm trù “người thiểu số” - là những nhóm người dễ bị tổn thương, được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện pháp lý quốc tế và trong nghiên cứu: “Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: (a) Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (b) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c) Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (d) Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e) Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ” [27]. 7 Luan van Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Khổng Diễn, vùng dân tộc là tỉnh, huyện, xã có trên 50% người DTTS sinh sống tập trung lại thành vùng; vùng DTTS, miền núi có thể hiểu theo nghĩa là nơi cư trú, sinh sống của các dân tộc ở vùng đồng bằng, miền núi. Như vậy, theo quan niệm của ông, vùng dân tộc cần có tiêu chí trên 50% DTTS sinh sống, nhưng vùng DTTS lại không cần đưa ra những tiêu chí cụ thể.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Lâm Thành: vùng DTTS là một vùng địa bàn liên xã, huyện hoặc liên tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống thành khu vực cộng đồng, hình thành các đặc điểm KT-XH và văn hóa rõ nét. Như vậy, có những cấp độ khác nhau về qui định như: qui mô liên xã là vùng dân tộc xét trên phạm vi cấp huyện, qui mô liên huyện là vùng dân tộc xét trên phạm vi cấp tỉnh, qui mô liên tỉnh là vùng dân tộc xét trên phạm vi quốc gia. Có những đơn vị hành chính địa phương có đồng bào DTTS sinh sống nhưng với số lượng ít, không hình thành cộng đồng hoặc cộng đồng quá nhỏ thì được xem là “vùng có dân tộc thiểu số” hoặc “vùng xen kẽ dân tộc thiểu số [22]. Khái niệm vùng DTTS theo từng ngữ cảnh mà xác định nó ở quy mô khác nhau có thể liên xã, liên huyện, liên tỉnh dựa trên các tiêu chí xác định.
Từ những quan niệm trên có thể rút ra định nghĩa: Vùng dân tộc thiểu số là nơi sinh sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Khái niệm CSPL về y tế ở vùng dân tộc thiểu số Y tế nghĩa đen là chữa bệnh và cứu giúp, hay Chăm sóc sức khỏe, là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích, và suy yếu về thể chất, tinh thần khác ở người. Y tế đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thứ cấp và chăm sóc thứ 3, cũng như trong y tế công cộng [40]. Hệ thống chăm sóc y tế là các tổ chức được thành lập để đáp ứng nhu cầu sức khỏe của dân số.
Chăm sóc sức khỏe được thực hiện khác nhau giữa các nước, các nhóm và cá nhân, phần lớn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế - xã hội cũng 8 Luan van như các qui định chính sách y tế tại chỗ. Các nước và vùng lãnh thổ có chính sách khác và kế hoạch liên quan đến các mục tiêu chăm sóc sức khỏe cá nhân và dựa trên dân số trong xã hội của họ. Ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ, quy hoạch chăm sóc sức khỏe được phân phối giữa các đối tác trên thị trường, trong khi ở một số nước kế hoạch này được thực hiện tập trung hơn giữa các chính phủ hoặc các cơ quan phối hợp khác. Trong mọi trường hợp, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hệ thống chăm sóc sức khỏe tốt đòi hỏi một cơ chế tài chính mạnh mẽ, đội ngũ cán bộ được đào tạo và trả lương tốt; thông tin đáng tin cậy làm cơ sở để ra quyết định và lập chính sách; cơ sở vật chất và hậu cần duy trì tốt để cung cấp thuốc và công nghệ có chất lượng.
Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý [15]. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách tương phản để hỗ trợ việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan.
Pháp luật được định nghĩa là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước được ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Như vậy, theo tác giả: CSPL về y tế là hệ thống các chủ trương, nguyên tắc, quy định của các chủ thể có thẩm quyền là Nhà nước đưa ra nhằm định hướng, điểu chỉnh việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân nói chung và vùng DTTS nói riêng. Khái niệm thực hiện CSPL về y tế ở vùng dân tộc thiểu số. Nhà nước ban hành các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định, qui định những khả năng, mức độ ứng xử của mọi người, mọi tổ 9 Luan van chức.
Khả năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực trong đời sống khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách, quy phạm pháp luật. Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng bảo đảm chính sách có hiệu quả, hiệu lực hay không. CSPL chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện, các quy định của pháp luật trở thành những hành vi hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật. Bản chất thực hiện CSPL là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc, quy định của CSPL trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể trong các mối quan hệ xã hội.
Trong lĩnh vực y tế ở vùng DTTS, thực hiện CSPL về y tế ở vùng DTTS chính là quá trình hiện thực hóa, đưa các qui định thông qua CSPL về y tế của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn đời sống thông qua bộ máy tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo chăm sóc sức khỏe nhân dân là người đồng bào DTTS. Vai trò thực hiện chính sách pháp luật về y tế ở vùng dân tộc thiểu số Thứ nhất, thực hiện CSPL về y tế là nhân tố quan trọng bảo đảm tuân thủ các quy định của CSPL về KCB và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Quan điểm này của Đảng xuất phát từ quá trình nhận thức về vai trò của sức khỏe và mối quan hệ giữa sức khỏe của người dân với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta đã chỉ rõ: Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội.
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước, đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ. Thứ hai, thực hiện CSPL về y tế ở vùng DTTS góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và đồng bào các dân tộc, nâng cao thể chất và trí tuệ người dân. Chăm sóc sức khỏe nhân dân, là một trong những nhiệm vụ quan trọng, là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện được mục tiêu: Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và 10 Luan van tử vong, nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, thực hiện CSPL về y tế ở vùng DTTS là hiện thực hóa giá trị, mục đích, ý nghĩa của y tế, bảo đảm các chương trình, dự án về y tế được triển khai công khai, minh bạch. Các cơ quan quản lý y tế và cơ sở khám, chữa bệnh có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước phải công khai việc thu, quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước bao gồm giá thuốc, các loại phí liên quan đến việc khám, chữa bệnh cùng các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Đặc điểm thực hiện chính sách pháp luật về y tế ở vùng dân tộc thiểu số Thứ nhất, CSPL về y tế ở vùng DTTS do nhiều chủ thể thực hiện. Bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước về y tế như Chính phủ, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân các cấp còn có cơ quan chuyên môn Sở Y tế, Trung tế y tế cấp huyện, Trạm y tế cấp xã, hệ thống các bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, hệ thống bảo hiểm xã hội…mỗi cơ quan, đơn vị lại có chức năng, thẩm quyền riêng.
Do đó cần thiết phải phân định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị và thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ. Thứ hai, thực hiện CSPL về y tế ở vùng DTTS có nội dung rất đa dạng, phức tạp, có sự tác động qua lại giữa nội dung.