CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG NGUON NHÂN LỰC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài. Theo một nghiên cứu khảo sát về đặc điểm cá nhân của y tả va sự hai lòng công việc cua y tá được kiểm tra trong một mẫu đại diện quốc gia của 834 y tá ở Anh cho thay mức độ hai lòng về công việc của nhân viên y tá với tổ chức thúc đây sự nỗ lực trong công việc cũng như mối quan hệ tốt với các điều dưỡng, nhân viên khác.
Cũng theo một nghiên cứu về tầm quan trọng thực tế các đặc điểm cá nhân của bác sĩ đối với chất lượng chăm sóc bệnh nhân tại Ilinois, Mỹ cho thấy: Thứ nhất, môi trường làm việc hiện tại của bác sĩ có ảnh hưởng nhiều hơn đến chất lượng chăm sóc bệnh nhân hơn là trình độ y khoa mà các bác sỹ được đảo tạo. Điều này cho thấy rằng, sự thay đôi trong hành vi hiện tai là kết quả đặc điểm của tình trạng công việc đã được nội bộ hóa trước đó; Thứ hai, ảnh hưởng của tổ chức kém mạnh mẽ hơn đối với những người được huấn luyện nhiều hơn, nhưng mạnh hơn đối với các bác sĩ ít được đào tạo hơn; Cuối cùng, cách thiết lập công việc cũng như quy trình làm việc của bệnh viện với những đặc điểm riêng ảnh hưởng đến hành vi của các bác sĩ nhưng độc lập với trình độ của bác sĩ. Một nghiên cứu khác dựa trên lý thuyết tổ chức và công trình của Roemer và Friedman, bảy khía cạnh của cau trúc tô chức nhân viên y té bénh viện được dé xuất và kiểm tra. Dữ liệu được dựa trên một cuộc khảo sát toàn quốc năm 1973 về nhân viên y tế bệnh viện do Hiệp hội Bệnh viện Hoa Kỳ thực hiện.
Phân tích nhân tố mang lại sáu khía cạnh tương đối độc lập hỗ trợ một cái nhìn đa chiều về cấu trúc tô chức nhân viên y tế. Sáu khía cạnh bao gồm: 1) Khả năng tài nguyên; 2) Bác sĩ tổng quát Định hướng hop đồng; 3) Truyền thông / Kiểm soát; 4) Định hướng nhân viên địa phương; 5) Tham gia vào việc ra quyết định và 6) Định hướng hợp đồng dựa trên bệnh viện. Các khía cạnh này có thể được sử dụng dé phat triển một kiểu hình thực nghiệm về cau trúc tổ chức nhân viên y té cua bénh vién va điều tra mối quan hệ giữa tô chức cán bộ y tế và các van dé chính sách công liên quan đến việc ngăn chặn chỉ phí và đảm bảo chất lượng. Tại Trung Quốc, một đất nước có tốc độ phát triển kinh tế chóng mặt, đi cùng với đó là sự phát triển của hệ thống y tế và an sinh xã hội tăng, tuy nhiên với dân số hơn 1 tỷ người đã làm cho hệ thống y tế của đất nước này chịu áp lực rất lớn.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, tỷ lệ can bộ y tế trên người dân của Trung Quốc là 1/6.666, thấp hơn nhiều lần so với mức trung bình của thế giới là 1/1. Ong Mao Qun’an, người phát ngôn của Ủy ban Kế hoạch hóa gia đình và Sức khỏe quốc gia, thừa nhận rằng các bệnh viện hiện không còn có thể đáp ứng đủ nhu cầu của người dân nữa. Bernhard Schwartländer, trợ lý cấp cao của Tổ chức Y tế Thế giới cũng cho biết: “Người dân Trung Quốc không tin tưởng vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu vì cho răng ở đó không có bác sĩ giỏi”. Chính vì thế, những bệnh viện tuyến trên bị quá tải và không đủ điều kiện cơ sở vật chất để đáp ứng cho một lượng lớn bệnh nhân đến khám chữa bệnh.
Nhân lực V tế Trung Quốc đang thiếu ở mức báo động. Cu Ba là một trong những quốc gia có hệ thống y tế hàng đầu trên thế giới. Hiện nay tại Cu Ba có 256 bệnh viện, 13 trung tâm nghiên cứu y khoa, 445 phòng khám hoạt động 24/24 giờ, 13. Tỷ lệ bác sĩ/dân ở Cuba là 1/170, trong khi Mỹ là 1/188.
Một bác sĩ và đội ngũ y tá chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho khoảng 700 người (trong khi các bác sĩ ở Anh phải trông coi gấp đôi). Ngay cả khi một bệnh nhân được xác định hoàn toàn không có bệnh tật, bác sĩ cũng bat ngo đến thăm họ mỗi năm một lần, nhăm quan sát cách sống của người nay và môi trường sống của họ. Không chỉ quan tâm đến sức khỏe người dân trong nước, các bác sĩ Cuba đã đi khắp nơi trên thế giới dé thực hiện sứ mệnh nhân đạo. Cuba hiện có 25 ngàn bác sĩ có mặt tại 68 quốc gia.800 bác sĩ thuộc 47 nước đang phát triển tốt nghiệp ở Cuba.
Hệ thống y tế tại Cu Ba đang được rất nhiều nước trên thế giới xem là hình mẫu lý tưởng và đáng học hỏi.ong quan tinh hình nghién CỨU trong nước Lĩnh vực y tế luôn là mối quan tâm hàng dau tai tat cả các nước trên thé giới và ngay tại Việt Nam cũng vô cùng được chú trọng. Những năm gần đây, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đảo tạo nguồn nhân lực y tế như mở rộng thêm các trường cho phép dao tạo bác sỹ, y tá, điều dưỡng, dược sỹ. tuy nhiên vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 đạt được 9 bác sỹ trên l van dân, hoàn chỉnh mô hình tô chức và củng cố mạng lưới y tẾ cơ sở, tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng chuyên môn, y đức cũng như tỉnh thần trách nhiệm của đội ngũ nhân viên y tế.
Nhằm giải quyết việc thiếu hụt nhân lực trong một số lĩnh vực trong vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn, một số chính sách, dự án đã được ban hành và thực hiện như Đề án Khuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực y tế các chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y, giải phẫu bệnh giai đoạn 2013 — 2020; Dự án Thí điểm bác sỹ trẻ tình nguyện; Thông tư quy định tiêu chuẩn chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản. Ngoài ra còn triển khai việc cấp chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh theo Luật khám, chữa bệnh; ban hành chuẩn năng lực cho các loại hình nhân lực y tế; kiểm định chất lượng giáo dục dé nang cao chat lượng nguồn nhân lực. Phát triển đội ngũ nhân luc y tế có chất lượng, cơ cau và phân bồ hợp lý được Bộ Y tế xác định là mục tiêu chính trong Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 — 2010. Một số văn bản liên quan đến chế độ tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực y tế tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện như Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định SỐ 64/2009/NĐ-CP, ngày 30/9/2009 về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Theo “Báo cáo Thực trạng, vai trò va tiềm năng của y tế tư nhân”- Chương trình hợp tác y tế Việt Nam — Thụy Điền cho thấy một cái nhìn tổng quát hơn về tình hình nguồn nhân lực y tế tại các bệnh viện tư nhân. Từ báo cáo cho thấy, ngày càng gia tăng các bệnh viện, phòng khám tư nhân, các giường bệnh tư nhân cũng tăng lên rõ rệt và thực tế, đây là một thị trường tiềm năng đáp ứng được nhu cầu của bệnh nhân và phù hợp với sự phát triển của xã hội. Không chỉ có người giàu mới cần điều trị y tế tư nhân mà ngay cả giới bình dân cũng tìm đến y tế tư nhân khi có nhu cầu khám chữa bệnh. Ngay sau khi có những chính sách thúc đây y tế tư nhân, cấp giây phép hoạt động cho các cơ sở y tế tư nhân có đủ điều kiện và tiêu chuẩn ngành nghề thì y tế tư nhân ngày một phát triển.
Theo “Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2009 về nhân lực y tế ở Việt Nam” là báo cáo thứ 3 của Bộ Y tế cùng với các đối tác phát triển chỉ đạo thực hiện nhằm phân tích hệ thống y tế tai Việt Nam. Đây là báo cáo chỉ ra các van dé còn ton tại của nền y tế cũng như các van đề của nguồn nhân lực y tế hiện nay, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục các vẫn đề được chỉ ra. Báo cáo này cũng tập trung trọng yếu vào công tác phát triển nhân lực y tế và chỉ ra được một số thành tựu đáng kể. Số lượng cán bộ y tế trên 10.000 dân là 6,5 đối với bác sỹ, 10,4 đối với điều dưỡng và hộ sinh, 1,2 đối với được sỹ đại học trở lên, ngoài ra còn có 5,7 y sỹ trên 10.000 dân phục vụ tại các tuyến xã.
Cũng theo như kết quả của báo cáo cho thấy, một số chỉ số này thấp so với khu vực phía Tây Thái Bình Dương nhưng cao so với khu vực Đông Nam Á. Công tác phát triển chất lượng nhân lực y tế cũng như đảo tạo ngày càng nhiều những dược sỹ, bác sỹ có trình độ đại học trở lên ngày cảng được quan tâm, nhiều chính sách được ban hành như cử các cán bộ y tế miền núi, vùng sâu vùng xa đi học thêm dé nâng cao trình độ. Một số nước như Australia viện trợ không hoàn lại hơn 76 triệu đô la Mỹ cho Chương trình Phát triển nguồn nhân lực y tế giai đoạn 2010 — 2015, Chương trình Nâng cao năng lực nguồn nhân lực y tế giai đoạn 2006 — 2010 do chính phủ Hà Lan tài trợ lên đến 14 triệu Euro. Khoảng trong nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến dé tài luận văn: Qua nghiên cứu các công trình về NNLYT trong nước và ngoài nước, tác giả có nhận xét, đánh giá về những kết quả nghiên cứu có liên quan đến dé tài, đó là: Các khái niệm, phạm trù có liên quan đến chết lượng NNLYT; nhiệm vụ của đào tạo dé nâng cao năng lực của NNLYT; Hệ thống y tế ở Việt Nam, quan niệm về nhân lực y tế, thực trạng nhân lực y tế ở một số địa phương, khu vực trong nước; Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn.