Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công (mã số 934.02) với đề tài "Chính sách về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở Việt Nam hiện nay" được tác giả Nguyễn Hoàng Phúc thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Võ Khánh Vinh vào năm 2022.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định ghép mô, bộ phận cơ thể người (BPCTN) là phương pháp điều trị cuối cùng và hiệu quả cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối không hồi phục. Dù trình độ kỹ thuật ghép tạng của đội ngũ y bác sĩ Việt Nam đã đạt mức tương đương khu vực và quốc tế, thực tiễn đang đối mặt với sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nhu cầu ghép ngày càng tăng và nguồn cung mô, tạng hiến tặng khan hiếm. Trong khi các nước phát triển chủ yếu lấy tạng từ người chết não, tại Việt Nam nguồn hiến chủ yếu vẫn phụ thuộc vào người cho sống cùng huyết thống. Hàng chục ngàn trường hợp chết não do tai nạn giao thông và bệnh lý không thể sử dụng để cứu người do rào cản nhận thức, tâm lý e ngại của gia đình và quan niệm truyền thống "chết toàn thây". Bên cạnh đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu đồng bộ, dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn như hiện tượng mua bán nội tạng, thương mại hóa núp bóng hiến tặng nhân đạo, hoặc việc người hiến phải tự chi trả chi phí xét nghiệm lên tới 17 triệu đồng. Xuất phát từ cương vị công tác tại Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia thuộc Bộ Y tế, tác giả nhận thấy sự thiếu vắng của một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chính sách công đối với lĩnh vực này.

Mục tiêu tổng quát của luận án là trên cơ sở hệ thống hóa khung lý thuyết về chính sách hiến, lấy, ghép mô, BPCTN, tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và xác định những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết.
  2. Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của chính sách về hiến, lấy, ghép mô, BPCTN (khái niệm, vấn đề chính sách, nội dung, quy trình thực hiện và các yếu tố tác động).
  3. Phân tích thực trạng chính sách hiến, lấy, ghép mô, BPCTN ở Việt Nam hiện nay, đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách trong thời gian tới.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Chính sách hiến, lấy, ghép mô, BPCTN ở Việt Nam hiện nay bao gồm những nội dung gì?
  2. Việc thực hiện chính sách hiến, lấy, ghép mô, BPCTN ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  3. Các yếu tố nào tác động đến chính sách hiến, lấy, ghép mô, BPCTN ở Việt Nam hiện nay?
  4. Cần thực hiện những giải pháp nào để hoàn thiện chính sách hiến, lấy, ghép mô, BPCTN ở Việt Nam hiện nay?

Tương ứng với các câu hỏi trên là 4 giả thuyết nghiên cứu:

  1. Chính sách về hiến, lấy, ghép mô, BPCTN ở Việt Nam hiện nay bao gồm 6 nhóm nội dung cơ bản: truyền thông vận động; đăng ký hiến; chế độ chính sách cho người hiến; cơ sở vật chất, nhân lực ghép; điều phối; hỗ trợ tài chính cho người ghép.
  2. Việc thực hiện chính sách về cơ bản đã triển khai đầy đủ các bước trong quy trình nhưng ở từng bước vẫn còn nhiều hạn chế.
  3. Các yếu tố tác động đến chính sách gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan.
  4. Muốn hoàn thiện chính sách cần có cách tiếp cận hệ thống với một hệ các giải pháp đồng bộ.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định là chính sách về hiến, lấy, ghép mô, BPCTN ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nội dung tập trung vào nội dung chính sách và việc thực hiện các nội dung đó. Phạm vi không gian là lãnh thổ Việt Nam. Phạm vi thời gian tập trung nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật (Hiến pháp, Luật, Nghị định) và thực tiễn thực hiện từ năm 2006 trở lại đây, mốc thời gian Quốc hội thông qua Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm nội dung chính:

Nhóm thứ nhất gồm các nghiên cứu về chính sách công. Về lý thuyết quốc tế, luận án điểm qua các công trình nền tảng như Understanding Public Policy của Thomas R. Dye (1972) về bản chất và các mô hình phân tích chính sách; Public Policy Analysis của William N. Dunn (trong văn bản ghi William N. Duron, 2007) về quy trình và phương pháp phân tích chính sách công; An Introduction to the Policy Process của Thomas A. Birkland. Tại Việt Nam, tác giả tiếp thu các công trình của Lê Chi Mai (2001) về chu trình chính sách; Nguyễn Hữu Hải (2008) về hoạch định và phân tích chính sách; Hồ Tấn Sáng và Nguyễn Thị Tâm (2014); Đỗ Phú Hải (2017); Giáo trình Chính sách công của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2019); loạt bài viết chuyên khảo của Võ Khánh Vinh trên Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội (2015-2016); cùng các bài báo của Hồ Viết Hạnh (2017), Văn Tất Thu (2016), Vũ Anh Tuấn (2014).

Nhóm thứ hai là các nghiên cứu về hoạt động y học và chuyên môn kỹ thuật trong hiến, lấy, ghép mô, BPCTN. Tác giả tổng hợp bài viết của Minh Trí, Minh Huệ, Nguyễn Anh, Vân Sơn về khía cạnh xã hội, tôn giáo; bài viết của Nguyễn Tiến Quyết (Bệnh viện Việt Đức) về mô hình trung tâm ghép gan, thận từ người chết não (quy chuẩn 30 giường bệnh, 3 phòng mổ, 1 phòng khám ghép); các luận án tiến sĩ và đề tài y học của Nguyễn Thị Ánh Hường (2008), Lê Trung Hải (2009), Bùi Văn Mạnh (2009), Đào Thị Kim Dung (2012), Nguyễn Quốc Kính (2012), Lê Nguyên Vũ (2014), Trịnh Hồng Sơn và Daniel Taeck (1997-2001), cùng Đề tài khoa học cấp nhà nước về ghép tim từ người chết não tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (2010).

Nhóm thứ ba là các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến chính sách và pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, BPCTN:

  • Về khung pháp lý: Luận án dẫn chứng các hội thảo do Bộ Y tế và Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức (giai đoạn 2020-2022); đề tài của Bùi Đức Hiển về pháp luật quốc tế; bài viết của Phan Hồng Vân phân loại hai hệ thống đồng ý hiến tạng trên thế giới (hệ thống suy đoán đồng ý và hệ thống chủ động đồng ý); các bài nghiên cứu về luật thực định Việt Nam của Nguyễn Mạnh Cường (2007), Nguyễn Huy Quang và Nguyễn Hoàng Phúc (2006), Đỗ Kim Sơn (2003), Trịnh Hồng Sơn và Nguyễn Hoàng Phúc (2015).
  • Về nhận thức và thái độ cộng đồng: Đề tài của Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2006) ghi nhận 70,8% người dân biết về ghép tạng; nghiên cứu của Hoàng Thị Diễm Thúy tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 (2012) với 1.068 người khảo sát, chỉ ra 77% đồng ý hiến sau khi chết và 63,8% đồng ý hiến tạng người thân; luận án của Phan Hồng Vân (2012) xác định định kiến "chết toàn thây" là rào cản lớn nhất; các khảo sát của Đồng Văn Hệ (2015) trên sinh viên y khoa và Nguyễn Hoàng Phúc (2015) trên cán bộ Mặt trận Tổ quốc; nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2017) do Phan Hồng Vân chủ nhiệm cho thấy 74% người dân và 100% sinh viên y từng nghe về ghép tạng nhưng kiến thức cụ thể còn thấp.
  • Về truyền thông và điều phối: Các nghiên cứu của Đồng Văn Hệ (2012) về mạng lưới tư vấn; công trình của Dư Thị Ngọc Thu và cộng sự tại Bệnh viện Chợ Rẫy (2016, 2017) về giải pháp tiếp cận gia đình người hiến; nghiên cứu của Bùi Văn Tuấn và cộng sự (2017) khảo sát 203 gia đình người chết não tiềm năng tại Bệnh viện Chợ Rẫy với tỷ lệ từ chối lên đến 90%; các bài viết của Dư Thị Ngọc Thu và Trần Ngọc Sinh (2014) về hệ thống điều phối Hoa Kỳ; Lê Đình Hiếu, Tạ Phương Dung, Phạm Văn Báu (2014) về hai nguyên tắc điều phối: tính hữu ích và tính bình đẳng, công bằng; báo cáo quốc tế của Stephen Munn (2014) và Campbell Fraser (trong văn bản ghi Campbell Frasen, 2014) về cơ chế bù đắp tài chính hợp lý; công trình của Vũ Thị Mai Anh, Phan Hồng Vân, Vũ Thúy Nga (2016) về mô hình điều phối của Tây Ban Nha; đề xuất mở rộng trung tâm ghép của Trần Ngọc Sinh (2015).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm: các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận thuần túy dưới góc độ y học lâm sàng hoặc quy định pháp lý đơn lẻ; các phân tích về truyền thông hay điều phối chỉ bó hẹp trong phạm vi kinh nghiệm của từng bệnh viện riêng biệt (Việt Đức, Chợ Rẫy); thiếu sự liên kết giữa các bộ phận cấu thành của chính sách công; bỏ trống các nội dung then chốt như chế độ bảo đảm cho người hiến và cơ chế tài chính/bảo hiểm cho người nhận; chưa làm rõ các yếu tố tác động ngoài nhận thức cộng đồng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách tiếp cận liên ngành Chính sách công để phân tích tổng thể cấu trúc và chu trình chính sách ở quy mô quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án tiếp thu các định nghĩa về chính sách công của Thomas Dye, William Jenkins, B. Guy Peters, Kraft & Furlong, Lê Chi Mai, Nguyễn Hữu Hải và quan điểm của Võ Khánh Vinh. Tác giả xác định: chính sách công không chỉ dừng lại ở các tuyên bố, tư tưởng hay tập hợp quyết định hành động của Nhà nước mà bản chất là chuỗi hành động thực tế nhằm chuyển hóa mục tiêu thành hiện thực xã hội. Từ cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa chuyên biệt: "Chính sách về hiến, lấy, ghép mô, BPCTN là một trong những chính sách y tế của các quốc gia, được thể hiện thông qua một chuỗi các hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra về hiến, lấy, ghép mô, BPCTN theo những mục tiêu xác định, trong những giai đoạn nhất định".

Về mặt khái niệm y sinh học, tác giả dựa trên giáo trình Mô phôi của Trường Đại học Y Hà Nội để phân định cấu trúc cơ thể theo 5 bậc: Tế bào -> Mô -> Cơ quan (bộ phận cơ thể/tạng) -> Hệ cơ quan -> Cơ thể con người. Cơ thể có 4 loại mô cơ bản (biểu mô, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh). Bộ phận cơ thể nằm trong khoang ngực và khoang bụng được gọi là tạng. Hiến mô, BPCTN là hành vi tự nguyện của cá nhân khi sống hoặc sau khi chết, chết não; lấy và ghép là hai thao tác kỹ thuật y tế gắn liền mật thiết nhằm chuyển mô, bộ phận tương ứng vào cơ thể người nhận. Khung nội dung chính sách được tác giả khái quát hóa thành 6 nhóm trụ cột (Sơ đồ 2.1): (1) Truyền thông vận động đăng ký hiến; (2) Đăng ký hiến; (3) Chế độ chính sách cho người hiến; (4) Đầu tư nhân lực, cơ sở vật chất cho hoạt động lấy, ghép; (5) Điều phối ghép mô, BPCTN; (6) Hỗ trợ tài chính cho người ghép.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp cách tiếp cận định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích các khối văn bản pháp luật từ năm 2006, số liệu thống kê của Bộ Y tế và các cơ sở khám chữa bệnh, cùng các ấn phẩm khoa học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân (Pvs) trong giai đoạn 2017-2018 theo 3 nhóm đối tượng: (1) Nhà quản lý cơ sở y tế và chuyên gia ghép tạng; (2) Người hiến sống và thân nhân của người hiến sau khi chết/chết não; (3) Người dân đã đăng ký hiến mô, BPCTN.
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc phát trực tiếp cho người dân (gồm cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân) từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2017. Tổng số phiếu phát ra là 624, thu về 572 phiếu hợp lệ được phân bổ tại 5 tỉnh/thành phố thuộc 3 miền đất nước.
Vùng miền Địa bàn khảo sát Số phiếu hợp lệ thu về
Miền Bắc Hải Phòng, Phú Thọ 164
Miền Trung Thừa Thiên Huế 93
Miền Nam TP. Hồ Chí Minh, Sóc Trăng 315
Tổng cộng 5 tỉnh/thành phố 572

Về kỹ thuật xử lý dữ liệu, thông tin định tính được xử lý bằng phương pháp lịch sử kết hợp logic và phân tích - tổng hợp; số liệu khảo sát định lượng được làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 12.0 kết hợp Microsoft Excel 2007 để trích xuất tần số, tỷ lệ phần trăm và vẽ các biểu đồ minh họa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 tập trung tổng quan hệ thống tài liệu theo 3 nhóm chủ đề: chính sách công, hoạt động chuyên môn y tế về hiến - ghép tạng, và chính sách pháp luật về hiến - ghép tạng. Luận án phân tích chi tiết kết quả của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, đặc biệt là các công trình khảo sát nhận thức cộng đồng của Viện Chiến lược và Chính sách y tế cùng số liệu tiếp cận gia đình người chết não tại Bệnh viện Chợ Rẫy (tỷ lệ từ chối hiến tạng lên tới 90% trên 203 trường hợp tiếp cận). Tác giả chỉ rõ các nghiên cứu hiện có chủ yếu dừng lại ở mức mô tả lâm sàng, đánh giá y tế công cộng hoặc phân tích luật học thuần túy, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ khoa học chính sách công. Từ đó, chương 1 xác định rõ các giá trị kế thừa về mặt dữ liệu, đồng thời chỉ ra khoảng trống lý luận và thực tiễn để định hình 4 nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chính sách về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm và khung phân tích chính sách. Tác giả làm rõ bản chất của vấn đề chính sách xuất phát từ các mâu thuẫn xã hội gay gắt:

  • Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu: Dù y học ghép được ít nhất 21 cơ quan nội tạng và mô với tỷ lệ sống sau 5 năm đạt 70%, sự khan hiếm nguồn hiến là rào cản lớn nhất. Tại Mỹ, thời gian chờ ghép thận trung bình là 3 năm, chờ ghép gan gần 2 năm. Tại Việt Nam, hàng ngàn bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối phải duy trì sự sống bằng các biện pháp tốn kém như chạy thận nhân tạo (3 lần mỗi tuần, mỗi lần 4 giờ).
  • Hệ lụy tiêu cực: Sự khan hiếm dẫn đến thị trường buôn bán tạng bất hợp pháp, tình trạng môi giới ("cò" tạng) xâm nhập bệnh viện, người bán tạng đối mặt rủi ro suy giảm sức khỏe tới 41% hoặc thương tật vĩnh viễn, làm suy đồi đạo đức xã hội và tạo gánh nặng lớn cho quỹ Bảo hiểm xã hội.
  • Rào cản chi phí điều trị: Chi phí cấy ghép quá cao so với thu nhập bình quân của người dân, cụ thể khoảng 300 triệu đồng cho một ca ghép thận, 1 tỷ đồng cho một ca ghép tim và 1,5 tỷ đồng cho một ca ghép gan (chưa tính chi phí thuốc chống đào thải hàng tháng suốt đời). Từ đó, tác giả thiết lập khung nội dung chính sách gồm 6 nhóm (truyền thông vận động, đăng ký hiến, chế độ cho người hiến, đầu tư nhân lực và cơ sở vật chất, điều phối, và hỗ trợ tài chính cho người nhận). Chương này cũng nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của Hoa Kỳ thông qua hệ thống điều phối tích hợp gồm OPO (Tổ chức thu gom tạng), OPTN (Mạng lưới nhận ghép tạng) và UNOS (Cơ quan điều phối ghép tạng) để rút ra bài học cho Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng chính sách hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 tái hiện tiến trình phát triển chính sách từ khi Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được ban hành năm 2006. Luận án phân tích thực trạng văn bản và kết quả triển khai trên cả 6 nhóm nội dung chính sách, đồng thời phân tích số liệu điều tra xã hội học (572 mẫu khảo sát và các phỏng vấn sâu).

Về kết quả đạt được, Việt Nam đã xây dựng được khung pháp lý bước đầu, thành lập Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia và hình thành mạng lưới các bệnh viện thực hiện thành công nhiều kỹ thuật ghép phức tạp. Tuy nhiên, chương 3 làm rõ những hạn chế và bất cập lớn:

  • Nguồn tạng hiến từ người chết não vô cùng thấp, phần lớn vẫn dựa vào người cho sống, dẫn đến nguy cơ thương mại hóa.
  • Thủ tục đăng ký hiến còn phức tạp, thiếu tính liên thông; mạng lưới truyền thông chưa sâu rộng, nguồn tiếp cận thông tin của người dân còn tản mạn (phản ánh qua Biểu đồ 3.3).
  • Định kiến xã hội và rào cản văn hóa "chết toàn thây" còn chi phối mạnh mẽ thái độ người dân khi người thân có ý định đăng ký hiến hoặc bản thân hiến tạng sau khi chết (phản ánh qua Biểu đồ 3.4 và 3.5).
  • Quyền lợi và chế độ chăm sóc y tế, bảo hiểm cho người hiến sống và gia đình người hiến chết não chưa thỏa đáng, chưa có cơ chế bù đắp chi phí gián tiếp hợp lý, thậm chí người hiến phải tự chi trả tiền xét nghiệm ban đầu.
  • Chi phí phẫu thuật và thuốc ức chế miễn dịch sau ghép chưa được Bảo hiểm y tế bao phủ toàn diện, khiến người nghèo không có cơ hội tiếp cận. Tác giả phân tích nguyên nhân của các hạn chế xuất phát từ sự bất cập, chậm sửa đổi của Luật năm 2006, cơ chế tài chính y tế chưa bắt kịp kinh tế thị trường, tổ chức bộ máy điều phối chưa đủ thẩm quyền và nguồn lực, cùng công tác truyền thông vận động còn mang tính thời điểm.

Chương 4: Các quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở thực trạng và nguyên nhân ở chương 3, chương 4 xác lập các quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện theo mô hình hệ thống cơ quan thực thi chính sách (Sơ đồ 4.6). Các giải pháp tập trung vào:

  1. Sửa đổi, bổ sung Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006: Điều chỉnh quy định về độ tuổi hiến tạng; nghiên cứu áp dụng cơ chế đồng ý hiến linh hoạt phù hợp với thực tiễn Việt Nam; quy định rõ ràng tiêu chuẩn chết não và thẩm quyền chẩn đoán chết não.
  2. Hoàn thiện nội dung 6 nhóm chính sách: Đổi mới phương thức truyền thông gắn với cơ sở và trường học; đơn giản hóa quy trình đăng ký hiến tạng thông qua tích hợp dữ liệu dân cư hoặc giấy phép lái xe; xây dựng chế độ đãi ngộ, tôn vinh và thẻ bảo hiểm y tế miễn phí suốt đời cho người hiến tạng; mở rộng danh mục chi trả của Bảo hiểm y tế đối với chi phí ghép và thuốc chống thải ghép.
  3. Kiện toàn hệ thống tổ chức thực thi: Củng cố thẩm quyền và cơ sở vật chất cho Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia; xây dựng mạng lưới điều phối viên ghép tạng chuyên nghiệp tại các khoa Hồi sức cấp cứu ở các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương; thành lập các quỹ hỗ trợ bệnh nhân ghép tạng có hoàn cảnh khó khăn.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp cụ thể:

  • Phân tích làm rõ nội hàm khái niệm chính sách về hiến, lấy, ghép mô, BPCTN dưới góc độ chuyên ngành Chính sách công, khắc phục cách tiếp cận thuần túy y học hoặc luật học trước đây.
  • Xác định và cấu trúc hóa vấn đề chính sách, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa 6 nhóm nội dung chính sách: truyền thông vận động; đăng ký hiến; chế độ cho người hiến; nhân lực và cơ sở vật chất; điều phối; và hỗ trợ tài chính cho người ghép.
  • Phân tích quy trình thực hiện chính sách và chỉ ra các nhóm yếu tố chủ quan, khách quan chi phối hiệu quả thực thi chính sách hiến - ghép tạng tại Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả:

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, có căn cứ khoa học và số liệu thực chứng (572 phiếu khảo sát và các phỏng vấn sâu) về thực trạng thực thi chính sách tại Việt Nam từ năm 2006 đến giai đoạn 2017-2022.
  • Chỉ rõ các nút thắt thực tế: chi phí ghép cao (300 triệu đồng ghép thận, 1 tỷ đồng ghép tim, 1,5 tỷ đồng ghép gan), sự thiếu hụt trầm trọng nguồn hiến chết não, các lỗ hổng quản lý tạo kẽ hở cho nạn mua bán thận núp bóng hiến tặng nhân đạo.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ sửa đổi luật pháp, đổi mới cơ chế tài chính y tế, hoàn thiện quy trình điều phối đến tổ chức bộ máy nhân sự mạng lưới điều phối viên tại các bệnh viện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn tư liệu và phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản, số liệu khảo sát định lượng được thực hiện tập trung trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2017 với quy mô mẫu 572 đối tượng tại 5 địa phương (Hải Phòng, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế, TP. Hồ Chí Minh, Sóc Trăng). Mặc dù đại diện cho 3 miền, mẫu khảo sát chưa bao quát toàn bộ 63 tỉnh, thành phố. Ngoài ra, việc phỏng vấn sâu được tiến hành trong năm 2017-2018 nên một số thay đổi về biểu giá viện phí và chính sách bảo hiểm y tế phát sinh sau thời điểm này chưa được cập nhật liên tục.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả gợi mở:

  • Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế học y tế của chính sách hiến - ghép tạng đối với quỹ Bảo hiểm xã hội và chi phí y tế toàn dân.
  • Tiếp tục khảo sát chuyên sâu về mô hình pháp lý "suy đoán đồng ý" nhằm đánh giá tính khả thi và mức độ sẵn sàng của xã hội Việt Nam nếu áp dụng mô hình này trong tương lai.
  • Nghiên cứu cơ chế vận hành độc lập và tự chủ tài chính của mạng lưới các tổ chức thu gom tạng tại các vùng kinh tế - xã hội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp (Bộ Y tế, Ủy ban Xã hội của Quốc hội): Luận án cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006; hoàn thiện Thông tư, Nghị định về cơ chế tài chính và thanh toán bảo hiểm y tế trong cấy ghép tạng.
  • Đối với cơ quan quản lý điều phối và bệnh viện (Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia, các bệnh viện chuyên khoa): Luận án cung cấp mô hình tham khảo về quy trình điều phối, cấu trúc mạng lưới điều phối viên tại khoa hồi sức cấp cứu và kỹ năng truyền thông tiếp cận gia đình người chết não tiềm năng.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị trong các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý y tế, Quản lý công và Luật Y tế, đặc biệt là chương 2 về khung lý thuyết chính sách chuyên ngành và chương 3 về phương pháp thiết kế công cụ nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng.

Câu hỏi thường gặp

1. Vấn đề chính sách cốt lõi mà luận án chỉ ra trong lĩnh vực hiến, lấy, ghép mô, BPCTN là gì?
Luận án xác định vấn đề chính sách cốt lõi là sự mất cân đối gay gắt giữa nhu cầu ghép tạng ngày càng tăng và sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn mô, BPCTN hiến tặng (đặc biệt từ người chết não). Sự khan hiếm này kìm hãm phát triển y học, làm gia tăng nguy cơ thương mại hóa tạng bất hợp pháp, giảm chất lượng sống bệnh nhân và gây gánh nặng chi phí lọc máu kéo dài cho quỹ Bảo hiểm xã hội.

2. Chính sách hiến, lấy, ghép mô, BPCTN theo tác giả gồm những nhóm nội dung nào?
Theo khung phân tích của luận án (Sơ đồ 2.1), chính sách gồm 6 nhóm nội dung: (1) Truyền thông vận động đăng ký hiến; (2) Đăng ký hiến; (3) Chế độ chính sách cho người hiến; (4) Đầu tư nhân lực, cơ sở vật chất cho hoạt động lấy, ghép; (5) Điều phối ghép mô, BPCTN; (6) Hỗ trợ tài chính cho người ghép.

3. Luận án ghi nhận chi phí thực tế cho các ca ghép tạng tại Việt Nam là bao nhiêu?
Luận án ghi nhận chi phí một ca ghép tạng tại Việt Nam vào khoảng 300 triệu đồng đối với ghép thận, 1 tỷ đồng đối với ghép tim và 1,5 tỷ đồng đối với ghép gan, chưa kể chi phí sử dụng thuốc chống đào thải tốn hàng triệu đồng mỗi tháng trong suốt phần đời còn lại của người bệnh.

4. Khảo sát định lượng của luận án được triển khai trên quy mô mẫu và địa bàn nào?
Khảo sát định lượng được thực hiện bằng bảng hỏi bán cấu trúc trong 6 tháng (từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2017), phát ra 624 phiếu và thu về 572 phiếu hợp lệ tại 5 tỉnh/thành phố: miền Bắc gồm Hải Phòng, Phú Thọ (164 phiếu); miền Trung gồm Thừa Thiên Huế (93 phiếu); miền Nam gồm TP. Hồ Chí Minh, Sóc Trăng (315 phiếu).

5. Luận án chỉ ra những nguyên nhân chính nào khiến nguồn hiến tạng từ người chết não tại Việt Nam còn thấp?
Luận án chỉ ra các nguyên nhân chính gồm: rào cản nhận thức và quan niệm truyền thống về "chết toàn thây"; sự phản đối từ gia đình người hiến (nghiên cứu thực tế tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tỷ lệ gia đình từ chối hiến tạng lên tới khoảng 90%); hệ thống tư vấn, điều phối tại các cơ sở y tế chưa đồng bộ; thủ tục pháp lý xác định chết não còn phức tạp; và chính sách đãi ngộ, chăm sóc sức khỏe đối với người hiến và thân nhân còn chưa thỏa đáng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Chính sách về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Hoàng Phúc là công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Chính sách công, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận quản lý nhà nước và thực tiễn y tế chuyên sâu. Tác giả đã làm rõ bản chất vấn đề chính sách, phân tích cấu trúc 6 nội dung cơ bản và đánh giá khách quan thực trạng thực hiện từ mốc văn bản pháp luật năm 2006 đến giai đoạn 2017-2022 thông qua các nguồn dữ liệu định tính và định lượng độc lập. Hệ thống quan điểm và giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc, đóng góp trực tiếp vào yêu cầu sửa đổi khung pháp lý và hoàn thiện chính sách y tế tại Việt Nam.