ĐẶT VẤN ĐỀ Trên thế giới, trong khi cuộc chiến với các bệnh truyền nhiễm đã biết trước đây vẫn đang tiếp diễn thì các mối đe dọa bệnh tật mới lại xuất hiện. Mặc dù một số bệnh có thể được dự phòng, chữa trị và thanh toán nhờ việc sử dụng kháng sinh, vắc xin, hoá chất và các nỗ lực y tế khác nhưng một số bệnh mới nổi khác lại xuất hiện như SARS, Ebola, HIV/AIDS, cúm H5N1.Nhiều bệnh truyền nhiễm tiếp tục diễn biến phức tạp như lao kháng thuốc, sốt rét kháng thuốc; các bệnh liên quan đến môi trường, nếp sống cũng gia tăng ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân loại và sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Ngoài ra, một vụ dịch ở bất cứ nơi nào trên thế giới chỉ cần vài giờ đã có thể trở thành mối đe dọa cho một khu vực khác và thậm chí là cho toàn cầu. Giám sát bệnh truyền nhiễm là một phần của hệ thống giám sát công cộng và hệ thống thông tin y tế.
Mục tiêu của hệ thống giám sát và việc sử dụng các thông tin minh chứng quyết định việc thu thập số liệu và thông tin trong hệ thống đó. Các nước trên thế giới đều thực hiện hoạt động giám sát đối với bệnh truyền nhiễm gây dịch với nhiều hình thức khác nhau nhưng về cơ bản đều tập trung vào các bệnh truyền nhiễm gây dịch đe dọa đến sức khoẻ con người và cách đáp ứng phòng chống các bệnh dịch đó. Có sự khác biệt và đa dạng hoá của các loại hình giám sát, năng lực thực hiện và tính bền vững của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Tuy nhiên, do sự lan truyền bệnh truyền nhiễm trên toàn cầu nên mối quan tâm chung của thế giới và khu vực là cải thiện hệ thống giám sát và đáp ứng phòng chống dịch có hiệu quả.
Đến nay, vẫn chưa có một hệ thống giám sát nào hoàn chỉnh, do vậy WHO đã khuyến cáo mỗi quốc gia cần thiết phải thực hiện đánh giá định kỳ tổng thể hệ thống giám sát để đưa ra các vấn đề ưu tiên trong kiểm soát bệnh dịch và tăng cường hiệu quả của hệ thống [111]. Sáng kiến thiết lập các mạng lưới giám sát dịch, bệnh trên phạm vi khu vực và toàn cầu đang là một xu hướng nhằm tăng cường sự hợp tác giữa các 2 quốc gia, vùng lãnh thổ trong các hoạt động giám sát và phòng chống dịch bệnh. Tại Việt Nam, hệ thống giám sát định kỳ đóng vai trò chính trong các hoạt động giám sát các bệnh truyền nhiễm. Hệ thống này có độ bao phủ rộng trên phạm vi toàn quốc với hình thức giám sát thụ động, thu thập và tổng hợp thông tin từ các cơ sở y tế.
Trong những năm gần đây, hệ thống này ngày càng được cải thiện, đã được bổ sung thêm các bệnh cần giám sát; tăng cường hành lang pháp lý để vận hành hệ thống; tạo ra các cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa các ngành liên quan và tăng cường năng lực của hệ thống. Tuy nhiên, chiến lược phát triển các hệ thống giám sát, các loại hình giám sát, các hướng dẫn thực hiện giám sát đối với từng nhóm bệnh cụ thể chưa đầy đủ. Do vậy, việc đầu tư thêm nhiều nguồn lực để tăng cường hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm được ưu tiên nhằm đáp ứng yêu cầu về kiểm soát và phòng chống dịch bệnh hiệu quả hơn. Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam được tổ chức một cách chặt chẽ, có hệ thống theo chiều dọc (các cơ sở y tế dự phòng tuyến dưới có trách nhiệm báo cáo số liệu giám sát lên tuyến trên), và theo chiều ngang (các cơ sở y tế trên cùng một tuyến có nhiệm vụ báo cáo số liệu giám sát bệnh truyền nhiễm về cơ quan y tế dự phòng cùng tuyến) dựa trên yêu cầu và nội dung quy định của Thông tư số 48/2010/TT-BYT ngày 31/12/2010 của Bộ Y tế, theo đó các cơ sở khám, chữa bệnh có trách nhiệm thông báo thông tin trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm cho cơ sở y tế dự phòng cùng cấp [18], [19].
Các cơ sở khám, chữa bệnh có trách nhiệm thông báo các thông tin các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm cho cơ sở y tế dự phòng cùng cấp. Tuy nhiên, phần lớn những vụ dịch được phát hiện thông qua báo cáo giám sát trường hợp bệnh từ bệnh viện, khi những trường hợp bệnh nặng buộc phải nhập viện thì hệ thống giám sát bệnh mới phát hiện được. Báo cáo của các cơ sở điều trị thường muộn, thông tin không đầy đủ nên rất khó khăn cho việc 3 xác định ổ dịch và triển khai các biện pháp phòng chống dịch. Tại Hà Nội, từ năm 2002 đã thực hiện quy trình giám sát, báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch theo Quy chế thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch ban hành kèm theo Quyết định số 4880/2002/QĐ-BYT ngày 06/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế và từ năm 2011 vận hành theo Thông tư 48/2010/TT-BYT của Bộ Y tế.
Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Hà Nội, nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến chất lượng hoạt động của hệ thống như: Hệ thống giám sát hiện đang có những gì? vận hành như thế nào? và những bất cập nào còn tồn tại? Để có thể trả lời được các câu hỏi trên, việc khảo sát thực trạng hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Hà Nội là cần thiết nhằm xác định được các điểm còn hạn chế, qua đó đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp để nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của hệ thống theo yêu cầu của Thông tư số 54/2015/TT-BYT ban hành ngày 28/12/2015 thay thế cho Thông tư số 48/2010/TT-BYT đáp ứng với yêu cầu diễn biến dịch bệnh hiện nay, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu về “Thực trạng hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp” với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Hà Nội năm 2012. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp nâng cao chất lượng của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại quận Đống Đa, Hà Nội.1 Tình hình bệnh truyền nhiễm gây dịch 1.1 Tình hình bệnh truyền nhiễm gây dịch trên thế giới và tại Việt Nam Kể từ thập niên 1970, nhiều bệnh truyền nhiễm (BTN) mới đã xuất hiện với tần xuất hơn một bệnh mỗi năm. Tổng cộng đã có hơn 40 bệnh mới được phát hiện trong 30 năm qua.
Trong số những bệnh mới trên thế giới phải kể đến bệnh HIV/AIDS, hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), cúm A/H5N1, nhiễm liên cầu lợn Streptoccocus suis. Từ tháng 11/2002 đến tháng 8/2003, hội chứng hô hấp cấp nặng (hay còn gọi là SARS) đã xuất hiện, gây dịch trên phạm vi toàn cầu với 32 quốc gia và 6 vùng lãnh thổ trên thế giới bùng nổ dịch SARS và 8.422 trường hợp mắc, 916 trường hợp tử vong. Dịch SARS lây lan nhanh và có số mắc tử và vong cao đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, ước tính tổng thiệt hại lên tới 150 tỷ USD [25], [80], [81], [88]. Nhiều tác nhân gây bệnh có thể đã lưu hành âm thầm hàng năm ở người từ lâu như chủng vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) được tìm thấy ở người ít nhất từ năm 1959 trước khi nổi lên như một vấn đề y tế nổi trội toàn cầu [25], [75].
Có thể phân chia các BTN có nguy cơ bùng phát dịch thành 4 nhóm sau: 1) Nhóm bệnh đường hô hấp: cúm A/H5N1, cúm A/H1N1, viêm màng não do não mô cầu, sởi, Rubella.; 2) Nhóm bệnh đường tiêu hóa: bệnh tay chân miệng (TCM), bệnh tả, bệnh thương hàn.; 3) Nhóm bệnh do véc tơ truyền: bệnh sốt xuất huyết, bệnh sốt Zi ka, bệnh viêm não Nhật Bản.; 4) Nhóm bệnh lây truyền từ động vật sang người: bệnh do virut Marburg, bệnh do vi rut Ebola, bệnh dại, bệnh than, bệnh liên cầu lợn ở người.1 Một số bệnh thuộc nhóm bệnh đường hô hấp 5 Bệnh cúm A/H1N1 Bệnh cúm A xảy ra thành dịch quanh năm ở khắp nơi trên thế giới và là bệnh duy nhất hiện nay còn có khả năng gây đại dịch. Đầu năm 2009, trên toàn cầu xuất hiện đại dịch cúm do vi rút cúm A/H1N1. Đây là chủng vi rút có nguồn gốc từ vi rút cúm lợn nhưng có khả năng gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở người [116]. Các trường hợp bệnh đầu tiên được phát hiện tại Mexico, lây truyền sang Mỹ và Canada và lan ra khắp toàn cầu sau đó.
Ngày 11 tháng 6 năm 2009, lần đầu tiên sau 41 năm kể từ đại dịch cúm Hồng Kông năm 1968, WHO đã chính thức công bố thế giới đối mặt với đại dịch cúm với tên gọi là cúm A/H1N1/09 đại dịch [114]. Cho đến tháng 8 năm 2010, đại dịch cúm A/H1N1/09 đã tác động đến 214 quốc gia trên thế giới và gây ít nhất 18.449 trường hợp tử vong [116]. Số liệu của CDC năm 2017-2018 cho thấy có khoảng 49 triệu lượt người Mỹ nhiễm cúm A/H1N1, 960.000 người trong số này phải nhập viện và 79.000 người bị tử vong [74]. Mỹ hiện là quốc gia chiếm khoảng một nửa số trường hợp cúm toàn thế giới.
Tại Việt Nam, theo niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm, từ năm 2000 - 2009, hội chứng cúm là loại bệnh có số mắc đứng đầu trong số các bệnh truyền nhiễm [4], [3], [5], [7], [9], [10], [11], [12], [15], [16]. Bệnh cúm A/H5N1 Năm 2009, vi rút cúm A/H5N1 được coi là vi rút có khả năng gây đại dịch lớn nhất. Cúm A/H5N1 trên người đầu tiên xuất hiện năm 1997 tại Hồng Kông với 18 trường hợp mắc và 6 trường hợp tử vong, sau đó xuất hiện trở lại tại nước này vào năm 2003. Từ năm 2003 đến năm 2011, có 578 trường hợp mắc và 340 trường hợp tử vong do cúm A/H5N1 tại 15 nước [121], [120], [118].
Năm 2015, WHO nhận định có nhiều nguy cơ ghi nhận thêm các trường hợp mắc cúm A/H5N1 mới trên người (tại Ai Cập số mắc mới trong tháng 1/2015 lớn hơn số tích lũy của cả năm 2014 với 14 trường hợp). Tích lũy từ năm 2003, thế giới ghi nhận 694 trường hợp cúm A/H5N1, 402 trường hợp tử vong, tỷ lệ chết/mắc là 58% [61]. 6 Tại Việt Nam, dịch cúm A/H5N1ở người lần đầu được phát hiện vào 2003 [32].