ĐẶT VẤN ĐỀ Hàng năm trên thế giới tai nạn thƣơng tích (TNTT) làm ít nhất 5,8 triệu ngƣời chết và gần 100 triệu ngƣời tàn tật vĩnh viễn [52]. Tổng gánh nặng bệnh tật (DALY) do thƣơng tích là 296,9 triệu DALY, trong đó gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm (YLL) là 250,6 triệu YLL và gánh nặng bệnh tật do tàn tật (YLD) là 46,3 triệu YLD [55]. Cứ 5 giây trôi qua có một ngƣời chết do TNTT [52]. Trong số 15 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở ngƣời 15 – 29 tuổi có 7 nguyên nhân liên quan đến TNTT: tai nạn giao thông (TNGT), giết ngƣời, tự tử, đuối nƣớc, thƣơng tích liên quan đến chiến tranh, bỏng và ngộ độc [53].
Tỷ lệ TNGT, tự tử đang ngày càng gia tăng và có thể trở thành nguyên nhân thứ 5 và thứ 12 dẫn đến tử vong ở ngƣời 15 – 29 tuổi vào năm 2030 [53]. TNTT có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi lứa tuổi với nhiều mức độ khác nhau. Đông Nam Á là khu vực có tỷ suất tử vong do TNTT cao thứ hai chỉ sau châu Phi [56]. Tại Việt Nam, TNTT là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật hàng đầu.
Năm 2008, gánh nặng bệnh tật do tàn tật ở cả hai giới đều là 2,7 triệu YLD [23].000 nạn nhân tử vong do các nguyên nhân TNTT khác nhau, tỷ suất tử vong do TNTT là 38,6/100. Tỷ suất TNTT không tử vong cho tất cả các nguyên nhân, ở tất cả các lứa tuổi là 2. Trƣớc tình hình trên, “Kế hoạch phòng, chống tai nạn thương tích tại cộng đồng của ngành y tế giai đoạn 2011 – 2015” đƣợc phê duyệt [8]. Cho đến nay, tình hình TNTT tại một số nơi đã giảm; 53 tỉnh/thành phố có kế hoạch phòng chống TNTT và xây dựng cộng đồng an toàn.
Tuy nhiên TNTT vẫn còn là vấn đề đáng đƣợc quan tâm. Báo cáo của Cục Quản lý Môi trƣờng Y tế (CQLMTYT) cho thấy 55,4% nạn nhân TNTT chƣa đƣợc xử trí trƣớc bệnh viện, 5 – 10% nạn nhân TNTT đƣợc sơ cứu tại chỗ, một nửa sơ cứu sai kỹ thuật và vận chuyển bằng phƣơng tiện không an toàn. Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh chỉ một số tỉnh/thành phố có trung tâm 115, và chỉ có 22,2% y tế tuyến cơ sở đƣợc đào tạo về cấp cứu TNTT. Chăm sóc chấn thƣơng trƣớc bệnh viện (CSCTTBV) là một trong những giải pháp quan trọng và giảm thiểu hậu quả do TNTT đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 2 khuyến cáo thực hiện tại tất cả các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.
Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy hiệu quả triển khai mô hình CSCTTBV. Tại Việt Nam, các hoạt động sơ cấp cứu (SCC), CSCTTBV đã và đang đƣợc nhiều Cơ quan, Chính phủ và các Tổ chức Phi chính phủ triển khai, tuy nhiên hầu hết mới chỉ nằm trong khuôn khổ thử nghiệm hoặc trên quy mô nhỏ. Năm 2009, Bộ Y tế (BYT) với sự tài trợ của tổ chức Atlantic Philanthropies (AP) và WHO đã thực hiện dự án “Tăng cường dịch vụ chăm sóc chấn thương trước bệnh viện tại Việt Nam”. Mục tiêu của dự án là: (i) Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế các tuyến về CSCTTBV; (ii) Tăng cƣờng xây dựng, thực thi các văn bản về vận chuyển cấp cứu và CSCTTBV.
Dự án kết thúc giai đoạn 1 vào năm 2011 và tiếp tục triển khai trên 3 tỉnh/thành phố Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Hồ Chí Minh. Cuối năm 2013, Trung tâm nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thƣơng của trƣờng Đại học Y tế công cộng đƣợc giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động đánh giá cuối cùng nhằm: (i) Đánh giá quá trình thực hiện và các kết quả thực hiện dự án; (ii) Đánh giá tác động tiềm năng của dự án trong việc giảm chấn thƣơng và tử vong; (iii) Các vấn đề và những khó khăn gặp phải và đƣa ra một số khuyến nghị cho hoạt động mở rộng của dự án. Nhằm hỗ trợ thực hiện việc đánh giá đó học viên tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng tai nạn thƣơng tích và khả năng sơ cấp cứu của mạng lƣới y tế tuyến xã tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh năm 2014”. Nghiên cứu đƣợc thực hiện trên địa bàn 36 xã đối chứng với 36 xã đƣợc triển khai hoạt động can thiệp của dự án.
Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá thực trạng TNTT, trang thiết bị (TTB) chăm sóc chấn thƣơng (CSCT) thiết yếu tại Trạm Y tế xã (TYT) cũng nhƣ kiến thức, thái độ, thực hành SCC TNTT của nhân viên y tế thôn bản (YTTB) là những ngƣời có vai trò rất quan trọng trong hoạt động CSCTTBV. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tai nạn thƣơng tích tại các xã trên địa bàn Hà Nội, Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 – 2013. Mô tả thực trạng trang thiết bị chăm sóc chấn thƣơng thiết yếu của hệ thống y tế tuyến xã tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh năm 2014.
Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về sơ cấp cứu nạn nhân bị tai nạn thƣơng tích của nhân viên y tế thôn bản tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh năm 2014. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản Tai nạn thương tích: là bất cứ tổn thƣơng có chủ định hay không có chủ định cho cơ thể ngƣời đƣợc gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp tính đối với năng lƣợng nhiệt, cơ học, điện hay năng lƣợng hoá học, hay bởi sự thiếu vắng của các yếu tố thiết yếu nhƣ sức nóng hay ôxy [22]. Các trường hợp tai nạn thương tích thƣờng đƣợc chia ra 3 loại là tử vong, nhập viện và các trƣờng hợp khác.
Trong số đó các trƣờng hợp tử vong và nhập viện do TNTT thì thƣờng dễ xác định hơn là các trƣờng hợp khác (điều trị tại phòng khám tƣ, tại nhà hoặc không điều trị gì) [22]. Một số định nghĩa trƣờng hợp TNTT trong các nghiên cứu về tình trạng mắc TNTT: Trƣờng hợp TNTT là tất cả các trƣờng hợp TNTT trong vòng 1 năm vừa qua dẫn đến việc hạn chế sinh hoạt tối thiểu 1 ngày [19]. TNTT đƣợc định nghĩa là những thƣơng tổn cấp tính do: ngã, đụng xe ô tô, xe máy, ngã cây, tai nạn trong lao động, vui chơi, v. dẫn đến bị vết thƣơng phần mềm chảy máu, bong gân, phù nề, xây xát, gãy xƣơng, gãy răng, vỡ thủng nội tạng phải mổ, bỏng các loại, v.
mà cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y tế, hoặc bị hạn chế sinh hoạt hàng ngày mất tối thiểu 1 ngày [20]. Phòng chống TNTT: là các hoạt động để phòng và giảm thiểu các hậu quả do TNTT gây nên. Hoạt động phòng chống TNTT bao gồm cả dự phòng cấp 1, cấp 2 và cấp 3. Phòng tránh cấp 1 (dự phòng trƣớc khi xảy ra TNTT): dự phòng để không xảy ra tai nạn.
Phòng tránh cấp 2 (dự phòng trong khi xảy ra TNTT): phát hiện sớm và có biện pháp điều trị thích hợp (thực hiện công tác SCC ban đầu khi tai nạn xảy ra để ngăn ngừa các hậu quả nặng hơn có thể xảy ra). Phòng tránh cấp 3 (giảm thiểu hậu quả sau khi xảy ra TNTT): điều trị với hiệu quả tối đa để giảm thiểu hậu quả của TNTT, tàn tật, tử vong và các biện pháp phục hồi chức năng giúp cho nạn nhân hồi phục một cách tối đa các chức năng của cơ thể [22]. TNTT trong cộng đồng: là tập hợp tất cả các trƣờng hợp TNTT trong cộng đồng gây ra bởi các nguyên nhân và xảy ra ở mọi lứa tuổi. Chính vì vậy, TNTT trong cộng 5 đồng có thể đƣợc hiểu là một khái niệm rộng, bao hàm nhiều phân loại TNTT khác hiện đang đƣợc sử dụng, nhƣ TNGT, tai nạn lao động, tai nạn học đƣờng, v.
Chăm sóc chấn thương trước bệnh viện: là một chuỗi các hoạt động tối thiểu bao gồm thông tin liên lạc và kích hoạt hệ thống ngay lập tức, đáp ứng tức thời, đánh giá, xử trí và vận chuyển ngƣời bị thƣơng tới cơ sở y tế nếu cần nhằm đảm bảo đƣợc chăm sóc duy trì chức năng sống cho nạn nhân ngay sau khi xảy ra tai nạn [1]. Chăm sóc chấn thương thiết yếu: là một trong những dịch vụ tối thiểu cần phải có và đƣợc xem nhƣ là nhu cầu của bệnh nhân TNTT để phòng tử vong và tàn tật, đƣợc thực hiện bởi những ngƣời hỗ trợ đầu tiên, mà những ngƣời này đã đƣợc huấn luyện để có thể SCC ban đầu. Hoạt động này nhằm đạt đƣợc các mục tiêu y tế cụ thể, rõ ràng với phạm vi nguồn lực hiện có: Giải phóng tắc nghẽn và duy trì đƣờng thở thông thoáng nhằm ngăn ngừa tình trạng thiếu ôxy gây tử vong hoặc tàn tật vĩnh viễn; Hỗ trợ hô hấp bị suy giảm cho đến khi ngƣời bệnh có thể tự thở đƣợc bình thƣờng; Phát hiện và xử trí kịp thời tràn khí màng phổi và tràn máu màng phổi; Cầm máu kịp thời đối với chảy máu (cả trong và ngoài); Nhận biết và điều trị sốc bằng bù dịch tĩnh mạch trƣớc khi xảy ra các biến chứng không hồi phục; Giảm nh các hậu quả từ thƣơng tổn não do thƣơng tích nhờ việc giảm áp kịp thời các khối choán chỗ và ngăn ngừa thƣơng tổn não thứ cấp; Phát hiện và điều trị kịp thời thƣơng tổn về đƣờng tiêu hóa và ổ bụng; Xử trí ngay các tổn thƣơng chi có nguy cơ gây tàn tật; Phát hiện và xử trí thích hợp các thƣơng tổn cột sống, bao gồm sớm bất động bệnh nhân; Giảm thiểu hậu quả của các thƣơng tổn gây hạn chế nhờ các hoạt động phục hồi chức năng phù hợp [2]. Nguyên nhân và cách phân loại tai nạn thƣơng tích Các sự kiện TNTT có thể đƣợc phân tích dựa trên nguyên tắc bộ ba dịch tễ học (tác nhân, vật chủ, môi trƣờng) nhƣ những loại bệnh tật khác, nhất là những bệnh truyền nhiễm [22].
Haddon cũng nhấn mạnh tới sự cần thiết phải phân tích những yếu tố về TTB/phƣơng tiện và những hoạt động của chủ thể (con ngƣời) khi sự kiện TNTT xảy ra [31]. Mặc dù TNTT có thể đƣợc mô tả cụ thể bằng cách sử dụng các khái niệm của dịch tễ học bệnh truyền nhiễm nhƣng dịch tễ học chấn thƣơng vẫn bị chậm phát 6 triển vào cỡ hàng thập kỷ. Cho đến gần đây các tác nhân gây TNTT mới đƣợc xác định một cách chính xác là các dạng khác nhau của năng lƣợng cơ học, nhiệt, hoá, điện, từ trƣờng ion hoá, hay ngƣợc lại – quá thiếu năng lƣợng trong trƣờng hợp bị ngạt [30].