CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC Y TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Viên chức, viên chức y tế 1. Viên chức Trong hệ thống nhà nước, đội ngũ viên chức là lực lượng duy trì và đảm bảo sự liên tục của các dịch vụ công, bất kể sự thay đổi về lãnh đạo hay chính sách.
Trong bối cảnh ở Việt Nam, viên chức đã hình thành từ lâu trong quá trình phát triển của nền hành chính nhà nước và gắn liền với các hoạt động thường xuyên trong cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm về viên chức mới được đề cập như một chủ thể độc lập từ hơn một thập kỉ qua. Trong giai đoạn đầu, khái niệm viên chức được hiểu đơn giản là người làm việc trong các cơ quan nhà nước, chủ yếu phục vụ các nhu cầu quản lý cơ bản của nhà nước đối với xã hội. Để phù hợp với tính chất công việc khác nhau, viên chức được tuyển dụng, đãi ngộ và đánh giá theo một cơ chế riêng, khác biệt so với cán bộ, công chức.
Họ được áp dụng chế độ hợp đồng làm việc, cho phép sự linh hoạt trong công tác nhân sự và phù hợp với tính chất hoạt động không mang tính quyền lực nhà nước của viên chức, khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công, tạo điều kiện để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với xu hướng nâng cao chất lượng phục vụ của các hoạt động sự nghiệp. Đây cũng là căn cứ để xác định rõ phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật và để đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do Luật Viên chức năm 2010 điều chỉnh. Do vậy, Luật Viên chức được ban hành để điều chỉnh đối với đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập; khái niệm về viên chức chính thức được rõ ràng và quy định cụ thể. Cụ thể là tại Điều 2, Luật Viên chức 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [24].
Theo đó, viên chức được xác định theo các tiêu chí: được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc; hưởng lương từ quỹ của đơn vị sự 8 nghiệp công lập. Đây là những người mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân như: giáo dục, y tế, đào tạo, an sinh xã hội, hoạt động khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao. Những hoạt động này cũng không nhân danh quyền lực chính trị hoặc quyền lực công, không phải là các hoạt động quản lý nhà nước mà chỉ thuần túy mang tính nghề nghiệp gắn với nhiệm vụ, chuyên môn. Như vậy, Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức ra đời nhằm phân định rõ ràng chức năng, quyền hạn, và trách nhiệm của các nhóm công vụ trong hệ thống hành chính Việt Nam.
Sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức, đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và tiền lương được hưởng từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Hoạt động lao động của viên chức nó không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ, theo quy định “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan”[24]. Viên chức y tế Trong giai đoạn hiện nay, đối với bất cứ quốc gia nào, doanh nghiệp nào, đơn vị nào mong muốn tồn tại và phát triển đều cần phải có một đội ngũ lao động có đủ trình độ, năng lực, tay nghề để tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới. Để thực hiện được sứ mệnh chăm sóc sức khỏe nhân dân yêu cầu ngành y tế càng gần hơn bao giờ hết một đội ngũ những con người có đủ năng lực, trình độ và tâm đức.
Đó chính là đội ngũ nhân viên y tế đang làm trong hệ thống y tế công lập, tư nhân, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế,. Nói cách khác họ chính là nhân lực y tế. Việc có một luật riêng cho viên chức cho phép nhà nước quản lý các nhóm công vụ này theo cách linh hoạt hơn, tập trung vào chuyên môn và chất lượng phục vụ của từng lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn, y tế và giáo dục đòi hỏi viên 9 chức có chuyên môn sâu nhưng không yêu cầu họ thực thi quyền lực chính trị, điều này dẫn đến yêu cầu khác nhau trong quá trình tuyển dụng, đánh giá và thăng tiến.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra năm 2006 thì nhân lực y tế được định nghĩa: “ Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe” [10]. Nhân lực y tế là “mắt xích” đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo các mục tiêu “Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030” [3]. Để đạt được tầm nhìn đến năm 2030, cần có sự đầu tư vào đào tạo và phát triển kỹ năng chuyên môn cho nhân lực y tế. Các khóa đào tạo liên tục và các chương trình phát triển chuyên môn cho phép nhân viên y tế không ngừng cải thiện kỹ năng, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Nhân lực y tế bao gồm: các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong các hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu y, dược và tất cả những người đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Có thể nói rằng, nhân lực y tế là nền tảng để xây dựng khái niệm viên chức y tế. Với vai trò bao quát, nhân lực y tế có khả năng tác động lớn đến toàn bộ hệ thống chăm sóc sức khỏe. Họ không chỉ thực hiện nhiệm vụ lâm sàng mà còn tham gia vào việc phát triển chính sách và chương trình sức khỏe cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Dựa trên khái niệm về viên chức theo Luật Viên chức (2010), viên chức y tế được hiểu như sau: Viên chức y tế là công dân Việt Nam, được tuyển dụng hoặc xét tuyển theo vị trí việc làm, thực hiện hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ sở y tế công lập theo chế độ hợp đồng hưởng lương từ quỹ lương của các cơ sở y tế công lập theo quy định của pháp luật. Viên chức y tế là người làm việc trong các cơ sở y tế sự nghiệp công lập (bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế.), đảm nhiệm các nhiệm vụ chuyên môn y tế như: Khám và điều trị bệnh (Bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên y học, hộ sinh); Phòng chống dịch bệnh (Chuyên gia y tế dự phòng); Bảo đảm sức khỏe cộng đồng (Các chuyên gia y tế công cộng, dinh dưỡng, kiểm dịch); Nghiên cứu khoa học y học (Phát triển các phương pháp điều trị, thuốc và các kỹ thuật y tế mới). 10 Viên chức y tế gắn liền với tên gọi về chức danh nghề nghiệp. Chức danh nghề nghiệp còn là tên gọi thể hiện trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp.
Theo quy định của pháp luật, viên chức y tế bao gồm những đối tượng sau: bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh, dược, y tế công cộng, dinh dưỡng, khúc xạ nhãn khoa, dân số, chuyên viên, kỹ sư. Bồi dưỡng viên chức y tế Theo Đại từ điển tiếng Việt, “bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Bồi dưỡng là làm nâng cao trình độ nghề nghiệp. Quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho bản thân để đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp” [34].
Ngoài ra, bồi dưỡng không chỉ đơn thuần là đào tạo hay giáo dục, mà là một quá trình liên tục và có hệ thống nhằm nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho nhân viên. Bên cạnh đó, bồi dưỡng là một phần quan trọng trong chiến lược quản lý nguồn nhân lực. Nó không chỉ giúp nâng cao năng lực cho nhân viên mà còn giúp tổ chức duy trì vị thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh khắc nghiệt. Quá trình này giúp nhân viên đáp ứng yêu cầu công việc và phát triển sự nghiệp.
Do vậy, bồi dưỡng có những yếu tố cơ bản là: - Bổ sung các kiến thức, kỹ năng, phương pháp để từ đó nâng cao trình độ trong lĩnh vực chuyên môn thông qua hình thức học tập, đào tạo. - Bổ sung có mục đích, mục tiêu, phương pháp, chương trình, nội dung và phương pháp thực hiện cụ thể. - Đối tượng được bồi dưỡng phải có trình độ chuyên môn nhất định, cần được bồi dưỡng, cập nhật thêm về chuyên môn, chính trị, ngoại ngữ, tin học, chuyên môn về y tế. để đáp ứng cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm phục vụ sự nghiệp đất nước.
- Mục đích của việc bồi dưỡng là nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị để người lao động có cơ hội được củng cố, cập nhật, nâng 11 cao hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả. Tóm lại Bồi dưỡng được hiểu là một hoạt động, một quá trình có mục đích rõ ràng nhằm bổ sung, phát triển, hoàn thiện tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc và những phẩm chất bảo đảm cho con người đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ khác nhau trong các lĩnh vực đời sống xã hội, “là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [16].