CHƯƠNG 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU Trong những năm vừa qua đã có một số những công trình nghiên cứu liên quan đến chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế methadone, đến tình hình sử dụng ATS nói chung và việc sử dụng ATS của bệnh nhân đang điều trị methadone nói riêng, cũng như các biện pháp tâm lý xã hội trong việc ứng dụng mô hình Matrix trong điều trị bệnh nhân methadone trên thế giới và Việt Nam. Trong đó phải ké tới những nghiên cứu liên quan đến những lĩnh vực sau: 1. Thực trạng cai nghiện và các thách thức đối với công tác cai nghiện ma tuý tổng hợp ATS 1. Thực trạng sử dụng ma tuy tong hop ATS Theo Co quan Phòng, chống tội phạm va ma túy của Liên hop quốc (UNODC), vấn đề lạm dụng chất gây nghiện và hệ quả của chúng đang diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt là các chất dạng thuốc phiện.
Số người sử dụng chất kích thích dạng Amphetamine (ATS), chất hướng thần, gây ảo giác đang gia tăng mạnh, đặc biệt tại khu vực Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ. Năm 2017, ước tính có khoảng 271 triệu người trên toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 có sử dụng ma túy, tương ứng với khoảng 5,5% dân số toàn cầu. Có thé hiểu rằng trong độ tuôi 15 - 64, cứ 18 người thì sẽ có một người đã từng sử dụng các chất gây nghiện [3, 70]. Theo WHO, ước tính có khoảng 0,5 triệu trường hợp tử vong là do sử dụng ma túy.
Hơn 70% số ca tử vong này có liên quan đến opioid, với hơn 30% số ca tử vong đó là do sử dụng quá liều.000 người đã chết vì sử dụng quá liều opioid trên toàn thế giới [29]. Trong khu vực Đông Nam Á, việc sử dụng thuốc phiện và chất kích thích dạng amphetamine (ATS) như methamphetamine tiếp tục là một vấn đề 17 lớn. Theo Hội nghị phòng, chống kiểm soát ma túy các nước tiểu vùng sông Mekong năm 2017 đã ghi nhận Trung Quốc có hơn 3 triệu người nghiện, trong đó trên 60% có sử dung ATS; Thái Lan có hon 500.000 người nghiện, trong đó 94% có sử dụng ATS; Lào có khoảng 70.000 người nghiện, trong đó trên 80% có sử dụng ATS; Campuchia có hơn 16.000 người nghiện, trong đó trên 90% có sử dung ATS; tại Phi-lip-pin 100% người nghiện sử dung ATS [3]. Các chất kích thích dạng amphetamine (ATS) là các chất thuộc nhóm thuốc kích thích, chúng kích thích hoặc tăng tốc hệ thần kinh và tạo ra các hiệu ứng tương tự như adrenaline.
Methamphetamine va amphetamine hiện là các dạng chính của ATS có sẵn trên toàn thế giới và là các chất kích thích tổng hợp tiêu thụ rộng rãi nhất. Không giống như cocaine, một chất kích thích có nguồn gốc từ cây coca tự nhiên, ATS ban đầu được tông hợp từ ephedrine vào năm 1919 và là các chất thử nghiệm hợp pháp được sử dụng trong y tế như một chất kích thích và tăng cường hiệu suất cho quân đội trong thế chiến thứ hai. Sau đó, chúng được quy định rộng rãi để kiểm soát cân nặng và điều trị các rối loạn thiếu tập trung. Tuy nhiên, ké từ những năm 1970 các chất kích thích dang amphetamine được sản xuất trong các phòng thí nghiệm bí mật và ngày càng được sử dụng như các loại ma túy.
Do khả năng lạm dụng cao, các chất dạng amphetamine đã được kiểm soát theo Bảng II của Công ước năm 1971 về các chất hướng tâm than [88]. Methamphetamine gây ra rối loạn cảm xúc và cảm xúc lo âu trong thời kỳ quá liều và thời kỳ cai. Rối loạn cảm xúc tăng từ lo lắng vừa phải đến triệu chứng nặng phù hợp với tiêu chuân chân đoán rối loạn tâm thần. Nghiên cứu bệnh nhân sử dụng methamphetamine cho thấy hầu hết bệnh nhân có triệu chứng trầm cảm va lo âu (48-58%) và một số lớn chỉ có triệu chứng tram cảm (38-40%) hoặc chỉ có lo âu (26,2%).
Phân loại lo âu thường gặp nhất là rối loạn lo âu toàn thể (12,3%), rỗi loạn lo âu xã hội (8,5%), rỗi loạn căng thăng sau chan thương (5,8%), cơn hoảng sợ (2,6%) và chứng sợ không gian rộng 18 (2,6%). Một số người nghiện có biểu hiện triệu chứng loạn thần (28-36,8%), bao gồm hoang tưởng bị truy hại (77,4%), và ảo thính (44,6%) và các triệu chứng âm tính khác (21,4%). Khi dùng phối hợp với chất dang thuốc phiện, methamphetamine có thé tăng ý tưởng hoặc kế hoạch tự sát lên 2-11% [10]. Thực trạng sử dung ATS trên thé giới ATS là loại thuốc gây nghiện bat hợp pháp được sử dụng nhiều thứ hai trên thé giới [3], việc sử dụng chúng đang lan truyền nhanh chóng ở các nhóm khu vực và dân cư khác nhau.
Làn sóng gia tăng này đang là gánh nặng y tế công cộng đối với nhiều quốc gia, trực tiếp đe dọa các nỗ lực toàn cầu nhằm ngăn chặn tác hại của các loại ma túy bất hợp pháp. Mặc dù sử dụng ATS ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và gây nên nhiều các vấn đề về xã hội, tuy nhiên số lượng người dùng ATS vẫn đang tăng nhanh. Theo báo cáo của UNODC, năm 2010 ước tính có 20,7 triệu người đã sử dụng ATS [93] và con số này đã tăng lên gần 37 triệu người trong năm 2017 [94]. Đến năm 2019, theo ước tính của UNODC, toàn thế giới có khoảng 0,55 % dân số có sử dụng các chất gây nghiện dạng amphetamine tương đương với khoảng trên 42 triệu người [92].- © C) ° = 20 ° ate, tS oe ~ eo: ˆ ẹ r® © Hình 1.
Ban đồ ưóc tinh về ty lệ sử dung amphetamine hang năm trên toàn thé giới năm 2019 (nguồn UNODC) [92] 19 Nguyên nhân được cho là do có sự xuất hiện phổ biến của các loại ma túy tổng hợp như methamphetamine/ amphetamine và MDMA đã thay thế các loại thuốc truyền thống như cocain, heroin, thuốc phiện và cần sa, chính vì tính đa dạng và sẵn có của ATS trên thị trường hơn nữa giá cả lại phải chăng nên có thể thu hút nhiều người dùng hơn các loại thuốc khác. Theo một nghiên cứu năm 2016 được thực hiện tại Úc, thuốc lắc được báo cáo là dễ dàng mua được với trung bình 25 AUD mỗi viên và 200 AUD mỗi gram MDMA tinh thé, có đến 84% số người được khảo sát cho rằng việc tìm kiếm các loại thuốc kích thích methamphetamine trên thị trường là dé dang [82]. Về phía người sử dụng, ma túy tổng hợp có thé giúp họ cảm thấy tốt hon trong việc kết nỗi mọi người nhất là tại các địa điểm mang tính xã hội cao như các quán bar, quán rượu, câu lạc bộ đêm, lễ hội âm nhạc.[98] Chính vì vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng gia tăng số lượng người nghiện chất mới. Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng, không thể kiểm soát của ma túy tổng hợp và người dùng mới đã thay đổi mạng lưới kinh doanh ma túy và tội phạm truyền thống.
Những người dùng ma túy mới tham gia vào các chuỗi sản xuất, buôn bán và phân phối các loại thuốc bất hợp pháp ngày càng nhiều. Gần đây, sự xuất hiện của các loại chất detox (sử dụng sau khi sử dụng ma túy tong hợp) làm bat hoạt các loại test xét nghiệm khiến cho việc tìm kiếm băng chứng về người sử dụng ma túy trở nên khó khăn hơn. Do vậy, dường như sự cắm đoán và thắt chặt luật pháp càng làm cho thị trường ma túy phát triển và biến đổi tinh vi hơn [1]. Về sử dụng đa chất trên các đối tượng có hành vi lạm dụng ATS, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người này hầu hết đều dùng kèm theo các chất khác nhau [39, 53, 57, 62, 84, 97].
Có tới một phần ba thậm chí lên đến một nửa sô người sử dung chat (chủ yêu là cocaine hoặc heroin) báo cáo họ 20 sử dụng nhiều hơn một loại chất trong đó có methamphetamine [53]. Một nghiên cứu trên 1000 người tới vũ trường trong độ tuổi 18 - 40 tại New York cho thay có 19,2% người sử dung da chất mức cao, trong đó 12,8% sử dụng đa chất bao gồm các chất dạng Amphetamine. Về đối tượng sử dụng, việc sử dung ATS cũng ngày càng phổ biến ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), phụ nữ bán dâm (FSW) và người TCMT. Tại các nước có thu nhập cao như Mỹ và Anh, tỷ lệ hiện sử dung amphetamine trong 12 tháng ở nhóm MSM là từ 7,2 đến 18,8% [101] và sử dụng estasy trong khoảng 18,5 đến 36,7% [102].
Ở khu vực Châu Á, một nghiên cứu trực tuyến về sử dụng ma túy trong nhóm MSM tại 12 quốc gia năm 2010 cho thấy tỷ lệ sử dụng chat ATS trong suốt thời gian sáu tháng của các đối tượng là 16,7%, phô biến nhất là thuốc lắc (8,1%) [86]. Sử dụng ATS cũng được báo cáo trong nhóm phụ nữ bán dâm. Tại Myanmar, theo nghiên cứu có tới 34 % nhóm FSW báo cáo có sử dụng chất, trong đó 87.5% báo cáo sử dụng amphetamine [55]. Tại Cam- pu-chia, tỷ lệ sử dụng ATS cao ở trong nhóm nữ giới làm nghề tự do (35,6%) và ở nhà thổ (34,8%) so với phụ nữ làm việc trong các cơ sở giải trí (17,7%) hoặc nhiều nơi (14.
Thực trạng sử dung ATS tại Việt Nam Tại Việt Nam, tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có 235.000 người nghiện có hồ sơ quản lý. Trong đó, số người nghiện ma túy tông hợp tiếp tục gia tăng, theo số liệu báo cáo từ 21 địa phương có thống kê, số người sử dụng ma túy tông hợp là 15. Đặc biệt, có một số địa phương có tỷ lệ trên 80% như Tra Vinh 90,7%; Da Nẵng 86%; Quang Tri 84%. Số người mới sử dụng ma túy bị phát hiện chủ yếu sử dụng ma túy tông hợp và các chất hướng thần.
Loại ma túy tổng hợp được sử dụng phô biến là Methamphetamine, Ecstasy, Ketamine với các tên long như: đá, thuốc lắc, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba [10]. Đáng báo động việc sử dụng ma tuý tổng hợp và các chất hướng thần gây rối loạn tâm thần “ngáo đá” dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật gây bức xúc, lo lắng cho người dân. 21 Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Da Nẵng, Vũ Thị Thu Nga và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dung ma túy ở một sô nhóm nguy cơ cao vào năm 2010. Kết qua cho thay hai loại ATS phổ biến nhất đó là thuốc lắc và methamphetamine.
Trong đó, thuốc lắc là loại ATS phổ biến ở cả 3 thành phó, cao nhất là ở thành phó Hồ Chí Minh với gần 80% đối tượng nghiên cứu báo cáo có sử dụng loại ATS này.