chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương 2 này, tác giả sẽ trình bày về những khái niệm và cơ sở lý thuyết để làm nền tảng cho việc phân tích đề tài, đồng thời cũng lược khảo một số kết quả nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan để làm cơ sở xây dựng khung phân tích. Khái niệm về chăm sóc sức khoẻ và chi tiêu y tế hộ gia đình 2. Chăm sóc sức khoẻ Chăm sóc sức khoẻ thường được định nghĩa là tập hợp những hàng hoá, dịch vụ có mục đích chính là cải thiện hay phòng ngừa sự đi xuống trong sức khoẻ (Pauly, 1978, 1988).
Việc chúng ta sản xuất và cung ứng cho nhu cầu sức khoẻ của chính mình bằng cách đầu tư vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ có thể được phân thành 2 loại là: hành vi cá nhân và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Trong phạm vi này, sức khoẻ của mỗi người một phần phụ thuộc vào lối sống của cá nhân họ, nhưng phần lớn được quyết định bởi các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Đây có lẽ là lý do mà chúng ta vẫn thường dùng 2 từ “bảo hiểm sức khoẻ” và “bảo hiểm y tế” tương đương nhau, mặc dù các hợp đồng bảo hiểm này về bản chất chỉ đảm bảo chi trả chi phí cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chứ không phải là công cụ đảm bảo cho chính sức khoẻ của chúng ta. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng là một loại hàng hoá đặc biệt.
Đặc tính quan trọng nhất của hầu hết các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ là phần lớn người tiêu dùng biết rất ít về chúng, hiện tượng mà các nhà kinh tế học vẫn thường gọi là thông tin bất cân xứng. Không phải ai trong chúng ta cũng có khả năng và điều kiện nghiên cứu y học, đó là lý do mà xã hội cần các bác sĩ - những người được đào tạo một cách nghiêm ngặt và chuẩn xác trong một thời gian rất dài. Về cơ bản, chúng ta không có đầy đủ thông tin về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, chính vì vậy, việc tiêu dùng các dịch vụ này đòi hỏi phải có niềm tin vào các nhà cung ứng. 123doc 7 Ngoài ra cũng chính vì người bệnh thiếu thông tin về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nên các nhà cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu và các quyết định tiêu dùng những dịch vụ này.
Nếu các bác sĩ bảo rằng chúng ta cần phải tái khám thêm 1 lần nữa, hầu hết chúng ta sẽ nghe theo, và tất nhiên là phải trả phí thêm 1 lần nữa. Chỉ có bác sĩ mới biết được điều này có thật sự cần thiết hay không. Chình vì vậy, nhu cầu của người bệnh bị dẫn dụ bởi bác sĩ, và nếu sụ dẫn dụ này không phải là điều tốt nhất cho bệnh nhân thì nó sẽ dẫn đến sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Chi tiêu y tế hộ gia đình (1) Hộ gia đình Hộ gia đình là một tế bào của xã hội, là một trong những đơn vị ảnh hưởng đến các quyết định sản xuất và đầu tư của nền kinh tế.
Blow (2004) định nghĩa hộ gia đình có thể chỉ bao gồm một thành viên hoặc gồm nhiều thành viên sống cùng một nhà, sinh hoạt và chia sẻ các công việc nhà. Các thành viên trong hộ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống. Trong hộ gia đình sẽ có một hoặc nhiều đơn vị thành viên nhỏ, với mỗi đơn vị thành viên nhỏ có thể chỉ gồm một người lớn duy nhất, hoặc một cặp vợ chồng có hoặc không có trẻ em phụ thuộc. Theo điều 106 Bộ luật dân sự Việt Nam (2005) định nghĩa hộ gia đình là các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định và là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự các lĩnh vực này.
Theo điều 107 Bộ luật dân sự Việt Nam (2005) định nghĩa chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự. Nghiên cứu của Van Minh và cộng sự (2013) đã nhận định rằng hộ gia đình Việt Nam là nơi chi trả hầu hết các chi phí y tế, chính vì vậy hộ gia đình có thể phải 123doc 8 đối mặt với thảm hoạ chi phí y tế và từ đó dẫn đến nghèo đói do thanh toán chi tiêu y tế quá mức.
(2) Nghèo và hộ nghèo Định nghĩa về nghèo: Theo Liên Hiệp Quốc, nghèo là tình trạng không có cơ hội và lựa chọn. Nghèo nghĩa là thiếu các năng lực cơ bản để tham gia hiệu quả vào xã hội, không có đủ thức ăn và quần áo, không được đi học và tiếp cận các dịch vụ y tế, không có đất đai để trồng trọt hay không có việc làm để nuôi sống bản thân và không tiếp cận được tín dụng. Bộ phận dân số nghèo sẽ có khả năng cao không được an toàn, không có tiếng nói và dễ bị bỏ rơi hay dễ bị tổn thương trong xã hội (United Nations, 1998). Hiểu một cách đơn giản hơn, Ngân hàng Thế giới cho rằng nghèo là tình trạng không có đủ nguồn lực để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của con người (World Bank, 2005).
Hộ nghèo: Theo chuẩn nghèo Việt Nam giai đoạn 2011-2015, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (hay 4.000 đồng/người/năm) trở xuống; và hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (hay 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. (3) Chi tiêu của hộ Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, chi tiêu hộ gia đình là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định, bao gồm cả tự sản, tự tiêu về lương thực, thực phẩm, phi lương thực và các khoản chi tiêu khác (biếu, đóng góp. Các khoản chi tiêu của hộ không bao gồm chi phí sản xuất, thuế sản xuất, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự. (4) Chi tiêu y tế hộ gia đình 123doc 9 Chi tiêu y tế là mọi khoản chi cho các hoạt động y tế mà mục tiêu đầu tiên là để nâng cao, phục hồi, hoặc duy trì sức khoẻ cho toàn bộ dân số và cho cá nhân của một quốc gia.
Những chi tiêu này bao gồm cả chi thường xuyên và chi cho hoạt động đầu tư phát triển. Định nghĩa này được áp dụng cho bất kể chủ thể/đơn vị đứng ra trả tiền là Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình hay các tổ chức tư nhân và đơn vị nhận tiền/đơn vị cung ứng dịch vụ thuộc Nhà nước quản lý, hay do tư nhân quản lý. Bao gồm các hoạt động y tế sau: - Hoạt động nâng cao sức khoẻ, phòng tránh bệnh tật - Hoạt động chữa bệnh, giảm tử vong - Hoạt động chăm sóc y tế với các bệnh mãn tính, cần các chăm sóc điều dưỡng - Các chăm sóc y tế khác Một cách cụ thể hơn, chi tiêu y tế hộ gia đình là mọi khoản chi trực tiếp của hộ gia đình chi khi ốm đau phải khám, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ, hàng hoá y tế. Bao gồm: viện phí đã trả bất kể đơn vị cung ứng dịch vụ là công hay tư, tiền xét nghiệm, mua thuốc men, vật tư, thiết bị.
bất kể là tự mua hay có đơn của thầy thuốc, mua tại bệnh viện, cơ sở Nhà nước hay cơ sở tư nhân. Những khoản người dân đóng góp để mua bảo hiểm y tế không tính ở đây (vì đã được tính trong chi của quỹ bảo hiểm y tế). Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 2. Học thuyết Maslow về tháp nhu cầu Con người có 2 nhóm nhu cầu là: nhu cầu cơ bản và nhu cầu cao cấp (Maslow, 1943).
- Nhu cầu cơ bản là những nhu cầu phục vụ cho đời sống hàng ngày, để duy trì cuộc sống. Đây là những nhu cầu tối cần thiết, nếu thiếu thì con người không thể tồn tại. 123doc 10 - Nhu cầu cao cấp là những nhu cầu liên quan đến tinh thần của cá nhân, liên quan đến các hoạt động của cá nhân trong gia đình, xã hội mình đang sống và làm việc. Maslow đã mô hình hoá nhu cầu con người thành hình tháp 5 tầng vời tầng đáy là các nhu cầu cơ bản và tầng đỉnh lá các nhu cầu cao cấp.
- Tầng 1: là những nhu cầu vật chất tối thiểu, bắt buộc phải có, không thể thiếu để con người tồn tại hàng ngày (thức ăn, nước uống.) - Tầng 2: nhu cầu về an toàn (an toàn thân thể, sức khoẻ.) - Tầng 3: nhu cầu được giao lưu với những người khác trong cộng đồng, xã hội (muốn được ở trong một cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè tin cậy.) - Tầng 4: nhu cầu được yêu mến, quý trọng (cần có cảm giác được tôn trọng, tin tưởng) - Tầng 5: nhu cầu khẳng định bản thân (muốn được thể hiện khả năng và được công nhận) Như vậy, các nhu cầu về y tế và chăm sóc sức khoẻ thuộc tầng thứ 2, chúng có ý nghĩa rất quan trọng, chỉ xếp sau những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người. Lý thuyết về cầu hàng hoá Cầu hàng hoá là lượng hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn lòng mua tại những mức giá khác nhau ở một thời điểm nhất định. Đường cầu hàng hoá sẽ thay đổi khi chịu tác động của những yếu tố sau: - Thu nhập: là yếu tố xác định khả năng mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập gia tăng, họ sẽ sẵn lòng chi tiêu cho một loại hàng hoá, dịch vụ với số lượng nhiều hơn.
123doc 11 - Sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng: đại diện cho sự yêu thích, ưu tiên cho một loại hàng hoá, dịch vụ. Người tiêu dùng yêu thích một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó càng nhiều thì tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó càng nhiều. - Giá cả của hàng hoá, dịch vụ liên quan: cầu của một loại hàng hoá, dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào giá cả của chính bản thân nó mà còn phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá, dịch vụ liên quan.