CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THUC THI CHÍNH SÁCH BHYT TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm về chính sách và chính sách công 1. Khái niệm chính sách Trong khoa học chính sách trên thế giới, vấn đề định nghĩa chính sách là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất. Rất nhiều định nghĩa đã được đưa ra trong các công trình nghiên cứu.
Có thể nêu một số nhóm định nghĩa tiêu biểu. a) Nhóm định nghĩa chính sách công như là sản phẩm của hoạt động có mục đích của nhà nước. Những định nghĩa thuộc nhóm này cũng có những mức độ khái quát khác nhau, chú trọng tới những thuộc tính của chính sách một cách khác nhau. Thomas Dye đặc trưng hóa: Chính sách công là tất cả những gì nhà nước chọn làm hoặc không làm (T.
Guy Peter đưa ra một định nghĩa khăng định rõ rệt hơn về hoạt động của nhà nước và tác động của chính sách đối với toàn bộ các công dân: Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp đều có ảnh hưởng đến cuộc song của mọi công dân (B. b) Nhóm định nghĩa chính sách như là quá trình của các bước giải quyết những vấn đề công cộng. John Deway được xem là người đầu tiên đưa ra quan niệm này. Ông coi chính sách là một quá trình giải quyết những vấn đề công cộng bao gồm 5 giai đoạn: Cảm nhận tình huống van dé, xác định van dé, hình thành các giải pháp, lựa chọn một giải pháp và thực thi (J.
Harold Lasswell cũng xem chính sách là một quá trình ra quyết định có tính sáng tạo bao gồm các bước: tranh luận, đưa ra các giải pháp, lựa chọn, thực thi và kết thúc (H. 15 c) Ngoài hai nhóm định nghĩa ở trên, còn nhiều định nghĩa về chính sách từ những hướng tiếp cận khác nhau. Theo quan điểm lý thuyết hệ thống, G.de Leon (1983) định nghĩa: Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống. Tổng hợp tất cả các cách tiếp cận trên đây về chính sách, trong cuốn Giáo trình Khoa học chính sách, PGS.Vũ Cao Đàm đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội.
Khái niệm chính sách công “Chính sách công” là một cụm từ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và phương tiện truyền thông. Đây là thuật ngữ ra đời khá muộn, gan lién với sự thay đôi của bối cảnh chính trị thế giới. Khoa học chính sách công có cách tiếp cận bắt đầu từ các thể chế, cơ cấu tổ chức nhà nước, thái độ và hành vi ứng xử của tổ chức và cá nhân (khắc với triết học chính tri), xem đó là những nhân tố chủ yếu khi nghiên cứu sự tác động của chính trị (chính sách) tới đời sống kinh tế — xã hội. Từ đó đã ra đời hàng loạt cách tiếp cận mới, đặt cơ sở nền tảng thúc đây nghiên cứu chính sách công.
Các nghiên cứu tập trung vào những hành vi ứng xử của các nhà lãnh đạo, khía cạnh tâm ly cua quần chúng, nhà lãnh đạo cũng như các cử tri, khía cạnh bản chất dân tộc và tính toàn cau. trong đời sống chính trị-xã hội. Trong đó, đặc biệt dành trọng tâm nghiên cứu cơ sở khoa học của quy trình ban hành các chính sách công. Co rat nhiêu quan niệm khác nhau vê chính sách công, vi dụ như: 16 Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N.
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền dé đáp lại một van đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004). Từ các quan niệm trên, chính sách công có thé được nhìn nhận như sau: Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước. Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nên kinh tế.
Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng đề: (i) Khuyén khích việc sản xuất, đảm bao hàng hóa, dịch vụ công cho nên kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; (1) Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong đài hạn. Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước. Thực thi chính sách công Thực thi đơn giản là thực hiện hay tiến hành. Ở đây, thực thi chính sách được xem xét với tư cách là giai đoạn thứ ba của chu trình chính sách công 17 bốn giai đoạn.
Thực thi là thực hiện một quyết định chính sách cơ sở, thường được thê hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thé được thé hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của tòa án. Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình thực thi. Thông thường quá trình này trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu thông qua với đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của cơ quan thực thi chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định - của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định và cuối cùng là những sửa đôi quan trọng trong đạo luật cơ bản. Thực thi chính sách công phản ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của Nhà nước được chuyên thành các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt động nhằm đạt được những cải thiện xã hội.
Hay nói cách khác, thực thi là một quá trình lặp đi lặp lại trong đó các ý tưởng, được thé hiện trong chính sách công, được biến đổi thành hành vi, được thé hiện thành hành động xã hội. Thông thường, hành động xã hội được biển đổi từ chính sách nhăm đạt được sự cải thiện xã hội; và thường được thé hiện phố biến nhất dưới dạng các chương trình, thủ tục, quy định và hành động. Theo Thomas Dye (1985), thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế dé thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp. Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyên thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện dé đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích.
Thực thi chính sách công là một giai đoạn rất quan trọng của chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của quá trình thực thi chính sách. Có bốn khả năng xảy ra: (1) Chính sách công tốt 18 và thực thi tốt dẫn đến thành công; (2) Chính sách công tốt nhưng thực thi không tốt dẫn đến thất bai: (3) Chính sách công không tốt nhưng thực thi tốt, dẫn đến thành công; (4) Chính sách công không tốt và thực thi cũng không tốt, dẫn đến thất bại toàn diện. Như vậy, thực thi chính sách công có vi trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách công, nó là giai đoạn hiện thực hóa các mục tiêu chính sách công. Các yếu tổ ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công Kế thừa và phát triển các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thê thấy các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công gồm: Thứ nhất, tính chất của vấn đề chính sách.
Tính chất của vấn đề chính sách, tính đa dạng hay đơn nhất về mặt hành vi của đối tượng chính sách, số lượng cá nhân thuộc đối tượng chính sách và sé lượng hành vi của đối tượng chính sách cần điều chỉnh đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách công. Theo đó, vấn đề chính sách càng ảnh hưởng sâu rộng, thì mức độ khó khăn, phức tạp trong thực thi càng lớn. Chăng hạn, chính sách mang tính tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực thì mức độ khó khăn trong thực thi càng cao, hiệu quả thực thi chính sách do đó cũng bị ảnh hưởng. Các quan hệ quyền lực trong quá trình thực thi chính sách cảng nhiêu, liên quan đến nhiều cơ quan và nhiều người, mục tiêu chính sách càng cao, mức độ điều chỉnh lợi ích càng lớn, thì mức độ khó khăn trong thực thi cũng càng lớn.
số lượng hành vi cần điều chỉnh của đối tượng chính sách càng nhiều thì mức độ khó khăn trong thực thi chính sách càng lớn vì điều này làm cho việc xây dựng và ban hành hệ thống quy định điều chỉnh hành vi càng trở nên khó khăn hơn, do đó, hiệu quả thực thi chính sách sẽ bị ảnh hưởng. Số lượng đối tượng chính sách nhiều hay ít cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Thông 19 thường, chính sách càng rõ ràng, đối tượng mà chính sách điều chỉnh càng ít thì việc thực thi càng dễ, hiệu quả càng cao. Thứ hai, chất lượng chính sách.
Chất lượng chính sách ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi chính sách công. Sự ảnh hưởng của chất lượng chính sách đối với hiệu quả thực thi chính sách thé hiện ở hai điểm chủ yếu: 1) tính đúng đắn của chính sách.