MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn lựa đề tài Từ nhiều năm qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đƣờng lối đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội (ASXH) cho ngƣời dân, đặc biệt là nhóm ngƣời yếu thế, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững. ASXH đƣợc xác định là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, nằm trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Bảo đảm ASXH là điều kiện để bảo đảm định hƣớng XHCN cho sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ.
Đƣờng lối, chủ trƣơng và quan điểm của Đảng về ASXH đã đƣợc thể chế hóa trong các văn bản pháp luật (Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bình đẳng giới, Luật Dạy nghề.), đƣợc hoạch định và triển khai thành hệ thống các chính sách ASXH liên quan đến các ngƣời khác nhau. Đồng thời, những cơ chế, chính sách nhằm huy động tốt hơn các nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các ngƣời đặc biệt khó khăn vƣơn lên trong cuộc sống cũng đƣợc xây dựng và ngày càng hoàn thiện. Chính phủ Việt Nam đặt quyết tâm phát triển hệ thống ASXH phù hợp với một quốc gia có thu nhập trung bình và với các chuẩn mực quốc tế, đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của con ngƣời, Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” khẳng định: Đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống ASXH bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm để ngƣời dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những ngƣời có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngƣời cao tuổi thu thập thấp, ngƣời khuyết tật nặng, ngƣời nghèo…); bảo đảm cho ngƣời dân tiếp cận đƣợc các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nƣớc sạch, thông tin), góp phần từng bƣớc nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân. 1 z Những cơ chế, chính sách và giải pháp bảo đảm ASXH đƣợc triển khai đồng bộ trên cả 3 phƣơng diện: 1) Giúp các ngƣời thụ hƣởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng thiết yếu nhƣ y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở.; 2) Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trƣờng, tín dụng, việc làm; 3) Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện điều kiện sống của nhân dân.
Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc và sự cố gắng của toàn dân, công tác bảo đảm ASXH ở Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu nổi bật, đƣợc quốc tế đánh giá cao: số hộ nghèo giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn 9,5% (năm 2011); chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) tăng từ mức 0,683 (năm 2000) lên mức 0,728 (năm 2011), xếp thứ 128/187 nƣớc thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Năm 2011, Việt Nam đã hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) do Liên Hợp quốc đề ra cho các nƣớc đang phát triển đến năm 2015. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn không thể phủ nhận, công tác bảo đảm ASXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập do năng lực thực hiện các chính sách ASXH ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc thực hiện các chính sách ASXH đối với nhóm ngƣời yếu thế trong xã hội. Điều này dẫn đến tình trạng: giảm nghèo chƣa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa vùng miền, bất bình đẳng có xu hƣớng tăng. Công tác tạo việc làm chƣa bền vững, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn, vùng đô thị hóa và thất nghiệp thành thị có xu hƣớng tăng. Nguồn lực thực hiện ASXH còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nƣớc với diện bao phủ và mức độ thấp, chƣa theo kịp với sự phát triển của kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN. Tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp, mới bằng 20% lực lƣợng lao động (năm 2011).
Bảo hiểm bắt buộc mới bao phủ 70% lao động thuộc diện bắt buộc tham gia, dẫn đến nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH cao; BHXH tự nguyện mới thu hút 0,22% số lao động thuộc diện tham gia. Quỹ BHYT đã và đang thâm hụt ngày càng lớn với mức hàng nghìn tỷ đồng hàng năm. Tình hình trên đã và đang đặt ra những thách thức đối với việc bảo đảm ASXH ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thƣ̣c hiê ̣n các chính 2 z sách an sinh xã hội đối với nhóm ngƣời yếu thế ở Việt Nam” là hết sức cần thiết.
Đó cũng là lý do mà tôi lựa chọn đề tài để làm luận văn tốt nghiệp. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thƣ̣c hiê ̣n các chính sách ASXH đối với nhóm ngƣời yếu thế ở Việt Nam. Xác định các mục tiêu, nguyên tắc, nội dung và đề xuất định hƣớng tăng cƣờng thực hiện các chính sách ASXH, hƣớng tới bảo đảm để ngƣời dân, đặc biệt là nhóm ngƣời yếu thế có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những ngƣời có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngƣời cao tuổi thu thập thấp, ngƣời khuyết tật nặng, ngƣời nghèo…); bảo đảm cho ngƣời dân tiếp cận đƣợc các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nƣớc sạch, thông tin), góp phần từng bƣớc nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân.
Nhiệm vụ Đề tài tập trung làm rõ một số nội dung sau: - Những vấn đề chung về ASXH, nhóm ngƣời yếu thế trong xã hội, các chính sách về ASXH, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về ASXH đối với các nhóm ngƣời yếu thế tại Việt Nam. - Thực trạng năng lực thực hiện các chính sách về ASXH, bao gồm: Chính sách hỗ trợ tạo việc làm, Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội, Nhóm chính sách trợ giúp xã hội, các chính sách bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản, chính sách giảm nghèo. - Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc ban hành và thực hiện các chính sách ASXH trong thời gian tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu - Đề tài nghiên cứu hệ thống các chính sách và thực thi chính sách về ASXH đối với nhóm ngƣời yếu thế tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Các chính sách về an sinh xã hội, bao gồm: Chính sách hỗ trợ tạo việc làm, Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội, Nhóm chính sách trợ giúp xã hội, các chính sách bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản. - Về thời gian: Việc thực hiện các ASXH tại Việt Nam trong 5 năm trở lại đây. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, Luận văn sử dụng phƣơng pháp sau đây: - Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu - Phƣơng pháp thu thập số liệu - Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp - Phƣơng pháp thống kê mô tả - Phƣơng pháp so sánh 5.
Kết cấu của luận văn Ngoài lời mở đầ u và ph ần kết luận luận văn đƣơ ̣c kế t cấ u thành 04 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và những vấn đề nghiên cứu về việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho nhóm ngƣời yếu thế tại Việt Nam Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho nhóm ngƣời yếu thế tại Việt Nam Chƣơng 4: Định hƣớng tăng cƣờng thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho nhóm ngƣời yếu thế tại Việt Nam 4 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH ASXH CHO NHÓM NGƢỜI YẾU THẾ TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan nghiên cứu về thực hiện chính sách ASXH cho nhóm ngƣời yếu thế tại Việt Nam Ở Việt Nam các nghiên cứu mới chỉ tập trung về vấn đề ASXH nói chung. Trong các nghiên cứu: Phát triển hệ thống ASXH trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng đề tài thuộc chƣơng trình đánh giá 20 năm đổi mới, 2006 (TS Nguyễn Hải Hữu), Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nƣớc ta giai đoạn 2006 - 2015.TS Mai Ngọc Cƣờng làm chủ nhiệm đã làm rõ cơ sở lý luận và các quan điểm, chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta, cách tiếp cận của nghiên cứu này về an sinh xã hội là: đó là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trƣớc những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những ngƣời già cô đơn, trẻ em mồ côi, ngƣời tàn tật, những ngƣời yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những ngƣời bị thiên tai dịch họa… Nghiên cứu đã phân tích tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội của nƣớc ta thời gian qua nhƣ: Chính sách BHXH, BHYT, Bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tự nguyện, trợ giúp xã hội, ƣu đãi ngƣời có công… Nhóm nghiên cứu đã đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nƣớc lựa chọn các chƣơng trình an sinh xã hội ƣu tiên, lộ trình thực hiện, điều kiện xây dựng và thực hiện hệ thống tổng thể quốc gia về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội ở nƣớc ta. Một số nghiên cứu chuyên sâu về các cấu phần của hệ thống ASXH nhƣ: “Thực trạng chính sách bảo hiểm xã hội và định hƣớng 2015” của TS.