MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành dƣợc phẩm Châu Á có tốc độ tăng trƣởng mạnh mẽ thời gian qua, theo Economist Intelligence Unit, doanh thu dƣợc phẩm tại khu vực này đã tăng hơn gấp đôi từ 97 tỷ USD năm 2001 lên 214 tỷ USD năm 2010, và sẽ vƣơn tới 386 tỷ USD vào năm 2016. Ngành dƣợc Việt Nam đang hội tụ rất nhiều tiềm năng hấp dẫn khi có dân số đông, tăng trƣởng kinh tế ổn định, nhận thức về sức khỏe của tầng lớp trung lƣu tăng lên và khả năng tiếp cận thuốc đƣợc cải thiện. Mặc dù vậy thị trƣờng thuốc đông dƣợc mới chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ (khoảng 0,5% - 1,5%) trong tổng giá trị của ngành.
Thuốc đông dƣợc có những ƣu điểm: hiệu quả rõ rệt và tính an toàn cao, giá rẻ, dễ bào chế nhƣng thị trƣờng mới có các sản phẩm chủ yếu có tác dụng điều trị bệnh phổ biến nhƣ cảm cúm, ho, sốt, viêm mũi, họng. thƣờng thấy ở quốc gia nhiệt đới nhƣ Việt Nam và số lƣợng các nhà sản xuất còn ít, thị trƣờng nhỏ bé. Với sự phù hợp về trình độ sản xuất, nguyên liệu sẵn có trong nƣớc, rẻ tiền, an toàn, hiệu quả ngày càng cao nên thuốc đông dƣợc đã trở thành hƣớng đi mới, chiến lƣợc và có ý nghĩa quan trọng giúp ngành dƣợc Việt Nam có thể chủ động nguồn thuốc phục vụ khám, chữa bệnh, đồng thời là cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh với các sản phẩm thuốc nhập ngoại. Hiện nay mới có khoảng 80 doanh nghiệp sản xuất đông dƣợc, trong đó chỉ có 5 doanh nghiệp đạt chuẩn GMP – WHO nhƣng có tới hơn 400 cơ sở sản xuất nhỏ không có đăng ký, chủ yếu sản xuất và kinh doanh dƣới hình thức kinh nghiệm, gia truyền nên khó kiểm soát chất lƣợng vì thế thị trƣờng tồn tại nhiều bất cập: sản xuất và kinh doanh thuốc đông dƣợc quá dễ dàng, không có tiêu chuẩn rõ ràng để phòng mạch đông y, cơ sở đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thuốc đông dƣợc hay kiểm tra, giá sát chất lƣợng còn lỏng lẻo, ít đƣợc quan tâm dẫn đến thách thức đặt ra về công tác quản lý chất lƣợng, giá cả, điều kiện hành nghề.
Do vậy, hoạch định và quản lý hiệu quả, đồng bộ thị trƣờng thuốc đông dƣợc tại Việt Nam đã trở thành yêu cầu bức thiết. 1 z Trƣớc những thách thức to lớn hiện nay trong quá trình hội nhập sâu, rộng của Việt Nam đối với thế giới khi hàng loạt các hiệp định với EU, FTA, hiệp định TPP có hiệu lực, hình thành thị trƣờng AEC đã tạo nên sức ép phải quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc hiệu quả hơn, đồng bộ nhằm thúc đẩy thị trƣờng phát triển, đem lại lợi ích cho ngƣời dân và giúp các doanh nghiệp dƣợc phẩm trong nƣớc có cơ hội cạnh tranh. Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, việc làm sao để có đƣợc các giải pháp quản lý tốt thị trƣờng thuốc đông dƣợc trở nên vô cùng cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự đảm bảo nguồn thuốc chữa bệnh an toàn, giá rẻ, nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời tạo lập thị trƣờng minh bạch, năng động, thúc đẩy phát triển công nghiệp dƣợc, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dƣợc Việt Nam trong khu vực và thế giới. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý thị trường thuốc đông dược ở Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Câu hỏi nghiên cứu: “ Những giải pháp nào nhằm giúp quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu hội nhập mà vẫn phát huy đƣợc các lợi thế sẵn có ? ”. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn về quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc và đánh giá thực trạng tình hình quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam thời gian qua theo khung lý thuyết đã đề xuất, từ đó đƣa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập mà vẫn phát huy đƣợc các lợi thế sẵn có trong thời gian tới. Nhiệm vụ nghiên cứu: Tác giả tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu chính nhƣ sau: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc; - Tổng hợp một số kinh nghiệm quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở một số nƣớc và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; 2 z - Đánh giá thực trạng quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam trong thời gian qua theo khung lý thuyết đƣa ra; - Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập mà vẫn phát huy đƣợc các lợi thế sẵn có. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động quản lý đối với thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu hoạt động quản lý nhà nƣớc của ngành y tế đối với thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian, nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động về quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam, trong đó chủ yếu là hoạt động quản lý nhà nƣớc của Bộ Y tế đối với thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam. Luận văn không nghiên cứu chuyên sâu thị trƣờng thuốc nói chung hay quản lý thị trƣờng nói chung (bao gồm cả sự quản lý của các chủ thể khác nhƣ Bộ Công an, Bộ Công thƣơng, Bộ Tài chính, UBND, Hiệp Hội doanh nghiệp, cơ quan truyền thông, báo chí…). - Thời gian: Số liệu đƣợc thu thập, khai thác, phân tích, đánh giá từ năm 2005 đến hết năm 2015. Những đóng góp của Luận văn - Góp phần bổ sung, làm rõ một số vấn đề lý luận mới và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc; - Tổng hợp một số kinh nghiệm quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở một số nƣớc và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; - Đánh giá thực trạng quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam từ năm 2005 đến hết năm 2015 theo khung lý thuyết đƣa ra; - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam thời gian tới đáp ứng yêu cầu hội nhập mà vẫn phát huy đƣợc các lợi thế sẵn có.
Kết cấu của Luận văn Luận văn đƣợc thiết kế theo bố cục gồm: 04 chƣơng chính, kết luận, tài liệu tham khảo, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam thời gian qua Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thị trƣờng thuốc đông dƣợc ở Việt Nam trong thời gian tới 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THỊ TRƢỜNG THUỐC ĐÔNG DƢỢC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Trƣớc những năm 2000, các chuyên gia và nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam chƣa có nhiều mối quan tâm thích đáng đến thị trƣờng, chính sách quản lý thị trƣờng và hoàn thiện thị trƣờng thuốc ở Việt Nam nói chung và thị trƣờng thuốc đông dƣợc nói riêng. Từ sau năm 2000, mà đặc biệt là giai đoạn năm 2003 – 2007 khi mà giá thuốc điều trị của Việt Nam liên tục tăng cao, dần vƣợt ra khỏi tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý, các ngành chức năng và cần thiết phải có sự vào cuộc mạnh mẽ của Bộ Y tế, Chính phủ để hạn chế sự độc quyền thuốc đặc trị, kiểm soát giá và can thiệp về quản lý giúp giảm thiểu các ảnh hƣởng tiêu cực của thị trƣờng.
Kể từ đó, nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo, công bố, tài liệu liên quan đến quản lý thị trƣờng dƣợc Việt Nam đƣợc thực hiện nhƣng phần lớn dƣới dạng các báo cáo, tổng kết thực trạng của ngành dƣợc nói chung. Sau năm 2007, nhiều báo cáo, đánh giá đã phản ánh đầy đủ hơn về thực trạng thị trƣờng thuốc của Việt Nam, từ đó xuất hiện một số nghiên cứu mới, đầy đủ hơn về quản lý thị trƣờng thuốc tại Việt Nam mà tiêu biểu nhƣ: Luận án “Hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc chữa bệnh tại Việt Nam” của tác giả TS. Ngô Huy Toàn, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân đề cập tới thực trạng phát triển của ngành dƣợc Việt Nam nói chung, các thế mạnh và cơ hội cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại ngay tại thị trƣờng nội địa của Việt Nam. Việc quản lý đối với thị trƣờng này cần đƣợc xem xét, hoạch định phù hợp với việc gia tăng ngày càng nhiều các doanh nghiệp nƣớc ngoài, doanh nghiệp FDI hay các doanh nghiệp đầu tƣ gián tiếp thông qua mua bán cổ phần của các công ty dƣợc phẩm Việt Nam nhằm gia tăng ảnh hƣởng, thị phần và cơ hội cạnh tranh tại Việt Nam.
Các rào cản về thuế quan, về giới hạn sở hữu và các lĩnh vực đƣợc bảo hộ có nhiều thay đổi đáng kể khi các quy định khi Việt Nam gia nhập 5 z WTO có hiệu lực hay các thỏa thuận song phƣơng giữa Việt Nam và các đối tác có trình độ khoa học phát triển nhƣ Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc hay sự cạnh tranh ngày càng nhiều ở phân khúc giá rẻ từ các nƣớc nhƣ Ấn Độ, Trung Quốc cũng nhƣ thực trạng hàng giả, hàng nhái, kém chất lƣợng ồ ạt ở Việt Nam đã và đang thách thức các giải pháp quản lý đối với thị trƣờng này. Thứ trƣởng Bộ Y tế, ông Cao Minh Quang và cộng sự (2005), đã giới thiệu nghiên cứu “Cơ hội và thách thức của ngành dược Việt Nam trước thềm hội nhập”. Các tác giả đã phân tích những cơ hội và thách thức lớn của các doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập với việc dòng vốn nƣớc ngoài đổ vào Việt Nam tăng cao, khả năng đầu tƣ ồ ạt của các doanh nghiệp vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhằm đón đầu, thâu tóm ngành công nghiệp non trẻ trong nƣớc cùng với đó là những cơ hội khi có sự chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc tiên tiến và cơ hội xâm nhập thị trƣờng thế giới của các doanh nghiệp Việt Nam.