Chương 1 : Giới thiệu Nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu chọn đề tài, đối tượng mà đề tài sẽ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài là gì. • Chương 2 : Cơ sở lý thuyết và Phương pháp luận Các khái niệm và cách xác định nhu cầu của khách hàng và nhà cung cấp. Khái niệm cũng như các xác định mục tiêu dự án. Khái niệm về phân rã công việc trong dự án (WBS).
Cách xây dựng kế hoạch chi tiết việc thực hiện dự án, cách ước lượng nguồn lực và điều độ dự án. Quy trình triển khai dự án RFID. Các khái niệm về rủ ro có thể gặp phải khi triển khai dự án. • Chương 3 : Phân tích hiện trạng Hiện trạng tại kho Dược phẩm: Các vấn đề mà Hệ thống scan barcode gặp phải: - Kho hàng lớn, lưu trư nhiều mặt hàng, scan barcode công đáp ứng được nhu cầu - Bacode bị rách - Bacode không còn an toàn, có thể bị làm giả • Chương 4.
Mô hình lập kế hoạch triển khai - Giai đoạn và công việc trong này cần làm - Ước lượng và phân bổ nguồn lực - Chi phí dành cho dự án • Chương 5 : Kiểm soát và đánh giá kế hoạch - Qui trình kiểm soát và đánh giá kế hoạch triển khai - Các tiêu chuẩn đánh giá - Mốc thời gian kiểm soát - Các rủi ro và cách ứng phó • Chương 6 : Kết luận và kiến nghị Nêu lên các mục tiêu đã đạt và chưa đạt, rút kinh nghiệm cho việc triển khai các dự án sau này. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Giới thiệu chung RFID (viết tắt thuật ngữ tiếng Anh: Radio Frequency Identification), hay Nhận dạng qua tần số vô tuyến, là một công nghệ dùng kết nối sóng vô tuyến để tự động xác định và theo dõi các thẻ nhận dạng gắn vào vật thể. RFID là một kỹ thuật nhận dạng sóng vô tuyến từ xa, cho phép lưu và truyền dữ liệu trên một con chíp được đọc một cách “không tiếp xúc” qua đường dẫn sóng vô tuyến ở khoảng cách từ 50 cm tới 10 mét, sử dụng thiết bị thẻ RFID và một đầu đọc RFID [3] 2. Cổng Các cánh cổng từ RFID hay còn gọi là Anten có nhiệm vụ phát và nhận sóng cho phép chúng ta phát hiện ra các chip RFID.
Khi một chip RFID đi qua trường của cổng từ thì nó sẽ được kích hoạt và phát ra tín hiệu. Các cánh cổng từ tạo ra các trường sóng khác nhau và bao phủ các khoảng cách khác nhau b. Đầu đọc RFID Có 2 loại đầu đọc RFID tùy vào vị trí, công dụng mà ta bố trí di động hay cố định : - Cố định: Hình 2.1 Đầu đọc thẻ RFID cố định - Đầu đọc cầm tay 4 Hình 2.2 Đầu đọc thẻ RFID cầm tay 2. Avtive tag Thẻ chủ động RFID (được biết đến như là beacons) có nguồn năng lượng trong chính bản thân nó được sử dụng cung cấp nguồn cho tất cả các IC và phát ra tín hiệu.
Chúng thường được gọi là đèn hiệu bởi vì chúng phát các tín hiệu mà chúng nhận được. Thẻ chủ động có vùng hoạt động rộng hơn, có thể lên tới vài chục met, trong khi bộ nhớ của nó cũng lớn hơn cho phép nhận và truyền nhiều dữ liệu hơn và thời gian hoạt động của nó thường khoảng 3 đến 5 năm. Passive tag Thẻ thụ động hay nhãn dán thụ động là thẻ không có nguồn năng lượng. Ngay khi mà dòng điện được gây ra bởi những tín hiệu sóng radio đi vào trong anten cung cấp đủ năng lượng cho mạch tích hợp CMOS (IC) trong thẻ, mạch bắt đầu hoạt động và thẻ truyền tín hiệu phản hồi trả lại.
Điều này có nghĩa là khi thẻ thụ động đi qua máy đọc, năng lượng của sóng radio phát từ máy đọc sẽ cung cấp năng lượng cho chip và “đánh thức” nó để thu nhận thông tin mà nó lưu giữ. Điều này có nghĩa là anten phải thiết kế để thu được năng lượng từ cả hai tín hiệu đến và tín hiệu phản lại truyền ra. Chính vì nó không có nguồn nuôi bên trong thẻ nên những thẻ thụ động và nhãn dán thụ động có kích thước khá nhỏ và vì thế nó cũng không thể có khoảng cách đọc quá xa. Semi active tag Thẻ bán chủ động RFID là tương đối giống với thẻ thụ động trừ phần thêm một pin nhỏ.
Pin này cho phép IC của thẻ được cấp nguồn liên tục, giảm bớt sự cần thiết trong thiết kế anten thu năng lượng từ tín hiệu quay lại. Các thẻ bán thụ động không chủ động truyền tín hiệu vô tuyến về đầu đọc, mà nó nằm im bảo tồn năng lương cho tới khi nó nhận được tín hiệu vô tuyến từ đầu đọc nó sẽ kích hoạt hệ thống hoạt động. Thẻ bán chủ động RFID nhanh hơn trong sự phản hồi lại và có lợi thế trong việc đọc số truyền so với thẻ thụ động. Do đó khoảng cách đọc của nó cũng xa hơn so với thẻ thụ động.4 So sánh RFID vs Barcode Tiêu chí RFID Barcode Tốc độ đọc Có thể đọc với tốc độ nhanh Đọc chậm và mỗi lần đọc và nhiều thẻ cùng 1 lúc được 1 mã Đường ngắm Không yêu cầu, chỉ cần đặt Các mã vạch phải đặt trong trong vùng tần số của máy đường ngắm của máy quét quét là có thể đọc được mới đọc được Nguồn lực Tốn ít nguồn lực hơn, hệ Đòi hỏi nhân sự phải dùng thống tự động quét ở nơi đặt tay scan mã vạch máy Khả năng đọc/ghi Có khả năng đọc, ghi, chỉnh Không có khả năng thay đổi sửa thông tin thông tin, chỉ lưu thông tin Bảo mật Có thể bị các công nghệ cao Dể dàng sao chép làm giả hack, gây nhiễu sóng barcode Hạn chế Có thể bị gây nhiễu sóng Dễ hư, không đọc được nếu ẩm ướt, rách Chi phí Cao Thấp Công nghệ Vô tuyến Quang (laser) Bảng 2.1 So sánh đặt điểm của hệ thống RFID và Barcode Dựa vào bảng trên cho thấy việc triển khai RFID có thể khắc phục các hạn chế tồn tại trong kho hiện tại tuy nhiên chi phí cao là một vấn đề cần đưa vào xem xét.5 Tiêu chuẩn và cơ sở pháp lý của RFID a.
Tiêu chuẩn Tiêu chuẩn về mã hóa thông tin và truyền thông tin của thẻ RFID UHF: [4] • Electronic Product Code™ (EPC) do Tổ chức phi lợi nhuận EPCglobal ban hành: Bộ mã sản phẩm điện tử, quy định cách đặt mã duy nhất cho sản phẩm, giúp việc lưu thông hàng hóa gắn thẻ RFID ở phạm vi toàn cầu được dễ dàng. Quy định bao gồm định dạng dữ liệu thẻ, mã nhà sản xuất thẻ, thông tin của User Memory, … • Tiêu chuẩn EPC Gen2 hay EPC C1G2 (viết tắt của EPCglobal UHF Class 1 Generation 2) : Quy định giao thức truyền thông tin giữa đầu đọc và thẻ nhận dạng RFID do EPCglobal ban hành. • ISO 18000: Bộ tiêu chuẩn về RFID của Tổ chức ISO. • ISO 18000-6C: Tiêu chuẩn RFID UHF của ISO tương đương với EPC Gen2.
Cơ sở pháp lý Theo THÔNG TƯ 34/2020/TT-BTTTT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thiết bị vô tuyến cự ly ngắn băng tần 1 GHz đến 40 GHz [5]: 6 Nguồn Băng tần Ứng dụng Phát và Thu 2 400 MHz đến 2 Các thiết bị vô tuyến cự ly ngắn dùng cho mục đích 483,5 MHz chung Phát và Thu 2 400 MHz đến 2 Các thiết bị xác định vô tuyến: ra đa, phát hiện đối 483,5 MHz tượng, di chuyển vật thể và cảnh báo từ xa Phát và Thu (a) 2 446 MHz đến RFID (Các thiết bị nhận dạng đối tượng bằng tần số 2 454 MHz vô tuyến) Phát và Thu (b) 2 446 MHz đến RFID (Các thiết bị nhận dạng đối tượng bằng tần số 2454 MHz vô tuyến) Phát và Thu 5 725 MHz đến 5 Các thiết bị vô tuyến cự ly ngắn dùng cho mục đích 850 MHz chung Phát và Thu 24,00 GHz đến Các thiết bị vô tuyến cự ly ngắn dùng cho mục đích 24,25 GHz chung và các thiết bị xác định vô tuyến CHÚ THÍCH: (a) và (b) đề cập đến hai giới hạn hoạt động khác nhau đối với các mức công suất khác nhau trong cùng một dải tần số Bảng 2.2 Băng tần được phép sử dụng cho thiết bị vô tuyến cự ly ngắn băng tần 1 GHz đến 40 GHz 2.2 Xác định và phân tích bên liên quan a. Xác định và phân tích Theo Eskerod & Huemann (2014) [6] các bên liên quan chia làm 2 loại là các bên liên quan bên trong và các bên liên quan bên ngoài. Các bên liên quan bên trong bao gồm: Nhân viên, phòng ban, các cấp quản lý… Các bên liên quan bên ngoài Nhà cung cấp, chính phủ, nhà đầu tư, kênh phân phối, trường đại học, trung tâm nghiên cứu… Để hổ trợ phân tích các bên liên quan thì Eskerod & Huemann đã đưa ra danh sách các câu hỏi, dựa vào đó để tiến hành phân tích: 1. Những bên liên quan là ai? 2.
Mức độ tác động đến chúng ta là gì? 3. Tầm quan trọng của họ cho từng thành viên là gì? 4. Vai trò cụ thể của họ là gì? 5. Đâu là những bên liên quan chính yếu? 6.
Mong muốn của họ cụ thể là gì? b. Kế hoạch quản lý giao tiếp Việc lập kế hoạch giao tiếp dự án rất quan trọng cho sự thành công cuối cùng của dự án.