ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có truyền thống lâu đời về Y học cổ truyền (YHCT), nền Y học cổ truyền Việt Nam được khai sinh đồng thời với sự xuất hiện của loài người trên trái đất. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Y học cổ truyền Việt Nam đã trở thành một nền y học chính thống của dân tộc góp phần không nhỏ trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân [11]. Ngày nay hệ thống y tế Việt Nam cũng như hệ thống khám chữa bệnh (KCB) bằng Y học cổ truyền, kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại (YHHĐ) đã bao phủ khắp từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên việc phát triển Y học cổ truyền tại tuyến xã trong cả nước nói chung và Thái Nguyên nói riêng còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là các xã miền núi điều kiện kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, đội ngũ cán bộ (CB) làm công tác Y học cổ truyền ở tuyến xã còn thiếu cả về số lượng và yếu về chất lượng.
Cán bộ Y học cổ truyền tuyến xã ít được đào tạo lại cũng như cập nhật kiến thức. Một số xã chưa có cán bộ chuyên trách về Y học cổ truyền. Công tác tuyên truyền, tư vấn các biện pháp khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng thuốc Nam và phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc còn thấp, hướng dẫn nhân dân trồng và sử dụng thuốc Nam chưa được triển khai rộng rãi. Tại tuyến xã hoạt động khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền, khả năng đáp ứng về nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân còn rất hạn chế do năng lực cán bộ có hạn, hàng năm cán bộ y tế (CBYT) hầu như không được tập huấn hay đào tạo lại kiến thức và kỹ năng về Y học cổ truyền cho nên chưa phát huy được thế mạnh của Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Việc kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại tại tuyến cơ sở đã và đang được thực hiện, tuy nhiên số lượng bệnh nhân được khám bệnh, chẩn đoán, điều trị bằng các phương pháp Y học cổ truyền còn rất thấp [6],[14], [18]. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều đồng bào các dân tộc ít người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sinh sống. Kế hoạch hành động phát triển Y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên đưa ra mục tiêu khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền đến năm 2015 tuyến tỉnh đạt 15%, tuyến huyện đạt 20 %, tuyến xã đạt 30 %. Đến năm 2020, tuyến tỉnh đạt 20 %, tuyến huyện đạt 25 %, tuyến xã đạt 40% [75].
Để thực hiện mục tiêu phát triển Y học cổ truyền của ngành Y tế tỉnh 2 Thái Nguyên đến năm 2020, việc áp dụng những giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng điều trị bằng thuốc Nam và châm cứu điều trị một số chứng bệnh thông thường tại trạm y tế xã miền núi là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Vậy thực trạng tổ chức hoạt động khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền tại trạm y tế xã miền núi tỉnh Thái Nguyên như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền tại trạm y tế xã miền núi tỉnh Thái Nguyên? Và giải pháp nào để nâng cao hoạt động khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền tại trạm y tế xã miền núi tỉnh Thái Nguyên? Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại một số trạm y tế xã miền núi Thái Nguyên” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại trạm y tế xã huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên năm 2014. Xây dựng giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh một số chứng bệnh thông thường bằng thuốc Nam và châm cứu tại trạm y tế xã huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
Đánh giá hiệu quả giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh bằng thuốc Nam và châm cứu tại trạm y tế xã huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về Y học cổ truyền - Thuốc YHCT (bao gồm cả vị thuốc YHCT và thuốc thang) là thuốc có thành phần là dược liệu được chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp của YHCT hoặc theo kinh nghiệm dân gian thành chế phẩm có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại. - Vị thuốc YHCT là một loại dược liệu được chế biến theo lý luận và phương pháp của YHCT dùng để sản xuất thuốc cổ truyền hoặc dùng để phòng bệnh, chữa bệnh.
- Thuốc thang là một dạng thuốc cổ truyền gồm có một hoặc nhiều vị thuốc cổ truyền kết hợp với nhau theo lý luận của YHCT hoặc theo kinh nghiệm dân gian được đóng gói theo liều sử dụng. - Thuốc thành phẩm YHCT (thuốc đông y, thuốc từ dược liệu) là dạng thuốc YHCT đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả đóng gói và dán nhãn, bao gồm: Thuốc dạng viên, thuốc dạng nước, thuốc dạng chè, thuốc dạng bột, thuốc dạng cao và các dạng thuốc khác. - Thuốc Bắc là những vị thuốc, bài thuốc có nguồn gốc từ phương bắc. Việc thu hái, lựa chọn, bào chế, bảo quản, sử dụng đều theo y lý Trung y.
- Thuốc Nam có hai loại: + Một là những vị thuốc, bài thuốc kinh nghiệm dân gian, gia truyền trong từng gia đình, từng địa phương, từng sắc tộc, cha truyền con nối tới ngày nay. + Hai là những vị thuốc và bài thuốc chủ yếu xuất phát từ nguồn gốc dược liệu trong nước, được bào chế, sử dụng theo lý thuyết kinh điển YHCT, âm dương ngũ hành, tứ khí, ngũ vị, thăng giáng phù trầm[35]. Tầm quan trọng của YHCT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân Hiện nay YHCT đã được hơn 120 nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển sử dụng YHCT để KCB cho nhân dân. Vai trò và hiệu quả của YHCT trong KCB nhân dân ngày càng được nhiều nước thừa nhận và sử dụng rộng rãi không chỉ đơn thuần là KCB mà còn để phòng bệnh, phục hồi chức năng, nâng cao sức khỏe [79], [100], [103].
4 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khẳng định “Cần đề cao và khai thác mạnh mẽ hơn nữa khả năng và hiệu quả của YHCT trong CSSK nhân dân. Phải đánh giá và công nhận giá trị của nó làm cho nó ngày càng hữu hiệu hơn. Đó là hệ thống khám, chữa bệnh mà từ trước tới nay được nhân dân coi như của mình, chấp nhận một cách gần như đương nhiên. Hơn thế nữa, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào nó cũng chỉ mang lại lợi ích nhiều hơn so với các phương pháp khác vì nó là một bộ phận không thể tách rời nền văn hóa của nhân dân” [96].
Theo WHO, YHCT là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thực hành chăm sóc toàn diện để bảo vệ sức khỏe và điều trị bệnh dựa trên các lý thuyết, lòng tin và kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác ở địa phương [3], [100], [103]. YHCT có nhiều đóng góp đặc biệt trong CSSK ban đầu. Tuyên bố của Alma - Ata đã thông qua tại Hội nghị Quốc tế về CSSK ban đầu đã kêu gọi đưa YHCT vào hệ thống y tế cơ bản đặc biệt là tại cấp cộng đồng để thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người đến năm 2000” và lấy CSSK ban đầu làm đường lối để thực hiện [85], [93]. Chiến lược YHCT ở khu vực Tây Thái Bình Dương (2011-2020) cho thấy tỷ lệ sử dụng YHCT ở một số nước trong khu vực đang là vấn đề được nhiều nước quan tâm.
Tuy nhiên, do tiềm năng, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi nước khác nhau, nên các hình thái tổ chức và phương thức hoạt động của YHCT rất đa dạng và không giống nhau giữa các nước [83], [100]. Tỷ lệ dân số sử dụng YHCT ở một số nước khu vực Tây Thái Bình Dương 5 1. Thực trạng hoạt động v một số yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền hiện nay 1. Thực trạng hoạt động YHCT hiện nay 1.
Trên Thế giới * Trung Quốc là một quốc gia có nền YHCT (còn gọi là Trung y) phát triển lâu đời vào bậc nhất thế giới. Để duy trì và phát triển nền Trung y của mình, Nhà nước Trung Quốc đã thành lập Cục quản lý Trung y Trung dược trực thuộc Quốc Vụ Viện. Vấn đề kết hợp YHCT với YHHĐ là một chủ trương lớn được Trung Quốc thực hiện rất sớm và cũng rất thành công. Các thày thuốc YHHĐ được đào tạo và có khả năng sử dụng tốt thuốc YHCT, ngược lại các thày thuốc YHCT được đào tạo và nắm vững kiến thức, lý luận của YHHĐ.
Do vậy, việc kết hợp YHCT với YHHĐ trong các cơ sở khám và điều trị được các thày thuốc Tây y và Trung y của Trung Quốc thực hiện khá nhuần nhuyễn [85], [105]. Năm 2004, Trung Quốc có 2973 bệnh viện Trung y với 450.000 cán bộ YHCT và 300.000 giường bệnh. Trung bình một bệnh viện mỗi năm khám và điều trị cho khoảng 200 triệu lượt bệnh nhân ngoại trú và 3 triệu lượt bệnh nhân nội trú. Ngoài ra 95% các bệnh viện YHHĐ ở Trung Quốc có khoa YHCT.
Các bác sỹ trong các bệnh viện YHHĐ có thể sử dụng thành thạo các chế phẩm thuốc YHCT [80], [94], [95]. Nền Trung y của Trung Quốc đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm trao đổi, hợp tác và học tập. Trung Quốc cũng đã mở bệnh viện Trung y ở nhiều nước. Tại Anh, có 3000 bệnh viện có ứng dụng YHCT của Trung Quốc và hàng năm có trên 2,5 triệu lượt người đến khám, điều trị với tổng số tiền 90 triệu Bảng.
Tại Pháp có 2600 bệnh viện có thực hành về Trung y và có tới 9000 cán bộ châm cứu. Đến nay đã có trên 40 nước mở trường đào tạo về châm cứu và Trung Quốc đã ký hợp tác về lĩnh vực Trung y với trên 50 nước trên thế giới. YHCT của Trung Quốc đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển khoa học y học trên thế giới [92], [94], [97]. * Ấn Độ, là một trong những nước có hệ thống YHCT lâu đời gần 7000 năm.
Ayurveda, Yoga, Siddha, Unani và các hệ thống y tế Tây Tạng đều được nhà nước công nhận và tạo điều kiện cho phát triển. Hệ thống này được thực 6 hiện bởi thầy Lang chữa bệnh bằng cây thuốc, yoga, vi lượng đồng căn.