Tổng quan luận án

Công tác khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền (YHCT) và việc kết hợp YHCT với Y học hiện đại (YHHĐ) là một bộ phận quan trọng trong hệ thống y tế Việt Nam, đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở. Tuyên bố Alma-Ata của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhấn mạnh vai trò của YHCT trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Tại Việt Nam, Quyết định số 2166/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch hành động phát triển Y học cổ truyền của tỉnh Thái Nguyên đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể: tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT tại tuyến xã đạt 30% vào năm 2015 và đạt 40% vào năm 2020.

Tuy nhiên, việc triển khai YHCT tại các trạm y tế (TYT) xã miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên còn gặp nhiều rào cản: điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí chưa đồng đều, đội ngũ cán bộ làm công tác YHCT tuyến xã thiếu về số lượng và hạn chế về trình độ chuyên môn, ít được đào tạo lại; cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phục vụ chẩn trị YHCT còn nghèo nàn; vườn thuốc Nam mẫu chưa phát huy hết công năng; công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe và hướng dẫn người dân trồng, sử dụng thuốc Nam còn hạn chế. Nhằm giải quyết thực trạng này, tác giả Nguyễn Thị Thủy đã thực hiện luận án tiến sĩ y học chuyên ngành Y tế công cộng với đề tài "Thực trạng và giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại một số trạm y tế xã miền núi Thái Nguyên".

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại trạm y tế xã huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2014.
  2. Xây dựng giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh một số chứng bệnh thông thường bằng thuốc Nam và châm cứu tại trạm y tế xã huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Đánh giá hiệu quả giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh bằng thuốc Nam và châm cứu tại trạm y tế xã huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ y tế phụ trách YHCT tại trạm y tế xã, nhân viên y tế thôn bản (NVYT thôn bản), người dân sử dụng dịch vụ YHCT, cán bộ lãnh đạo cộng đồng tại xã, cán bộ phụ trách YHCT của Trung tâm Y tế huyện Đại Từ; hệ thống sổ sách báo cáo khám chữa bệnh, cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng chẩn trị YHCT và vườn thuốc Nam tại các trạm y tế.
  • Địa bàn nghiên cứu: 04 xã miền núi thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gồm: xã Minh Tiến, xã Đức Lương (2 xã can thiệp); xã Phú Cường, xã Phúc Lương (2 xã đối chứng).
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 12 năm 2016, chia thành 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn điều tra mô tả trước can thiệp: Từ tháng 5/2014 đến tháng 7/2014.
    • Giai đoạn can thiệp: Từ tháng 8/2014 đến tháng 7/2016 (thời gian 2 năm).
    • Giai đoạn đánh giá sau can thiệp: Từ tháng 8/2016 đến tháng 12/2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu về thực trạng và mô hình can thiệp nâng cao hoạt động YHCT trên thế giới và tại Việt Nam:

Trên thế giới:

  • Tại Trung Quốc: Các nghiên cứu của Jay J. Shen và cộng sự (2003-2004) phản ánh sự gia tăng tỷ lệ sử dụng YHHĐ trong các bệnh viện YHCT; Trương Trọng Nguyên và cộng sự (2008) chỉ ra khó khăn về nhân lực và cơ sở hạ tầng Trung y tại tuyến cơ sở nông thôn; nghiên cứu của Chung và cộng sự tại vùng đồng bằng sông Châu Giang cho thấy tỷ lệ bệnh nhân điều trị YHCT tại trạm y tế cấp xã chỉ chiếm 5,1%; nghiên cứu của Huang và cộng sự (2011) xác nhận mức độ cung cấp dịch vụ YHCT phụ thuộc vào chuyên ngành đào tạo của bác sĩ; nghiên cứu của Liêu Tinh, Trương Huệ Mẫn, Vương Ngọc Hà, Lưu Kiến Bình (2011) tại Bắc Kinh ghi nhận 84,82% người dân thích sử dụng YHCT và phân tích các yếu tố niềm tin, văn hóa, chi phí tác động đến việc lựa chọn YHCT.
  • Tại các quốc gia khác: Nghiên cứu tại Ấn Độ (hệ thống Ayurveda, Yoga, Siddha, Unani), Nhật Bản (hệ thống thuốc Kampo với 65% bác sĩ phối hợp Đông - Tây y), Campuchia (vai trò của Kru Khmer), Lào, Philippines (thực hành xoa bóp hilot), Bhutan (Namgay Lhamo, 2011), Ghana (Razak Mohamed Gyasi, 2011), Thái Lan (nghiên cứu của R và cộng sự tại Bệnh viện Đa khoa Songkhla), các nước Châu Phi và Hoa Kỳ.

Tại Việt Nam:

  • Quá trình lịch sử ghi nhận di sản từ danh y Tuệ Tĩnh với quan điểm "Nam dược trị Nam nhân" cùng hai bộ tác phẩm "Nam dược thần hiệu" và "Hồng Nghĩa Giác Tư Y thư"; Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với bộ sách "Hải Thượng Y tông tâm lĩnh".
  • Về thực trạng nhân lực và cơ sở vật chất YHCT tuyến cơ sở: Các công trình của Nguyễn Văn Lơn (2002), Phạm Phú Vinh (2011, 2012 tại Lạng Sơn), Vũ Việt Phong (2012 tại Hà Nội), Trịnh Yên Bình (2013), Trương Thị Thu Hương (2013 tại Thái Nguyên) đều chỉ ra tình trạng phân bố nhân lực không đồng đều, tỷ lệ cán bộ YHCT tuyến cơ sở có trình độ đại học còn thấp, cơ sở vật chất và trang thiết bị tại các trạm y tế còn đơn sơ.
  • Về tình hình sử dụng dịch vụ và cây thuốc Nam: Các khảo sát của Đỗ Thị Phương (1996), Thái Văn Vinh (1999 tại Thái Nguyên), Nguyễn Thị Hương (2006 tại Hà Giang), Trần Văn Khanh (2006 tại Hà Tây), Phùng Văn Tân (2006 tại Hà Nội), Nguyễn Hữu Nam (2007), Phạm Vũ Khánh (2007, 2012, 2013), Tôn Thị Tịnh (2007), Nguyễn Hoàng Sơn (2007), Mai Xuân Tường (2008), Nguyễn Vũ Uý (2008), Nguyễn Thiên Bảo (2010), Vũ Thị Kế Hương (2011 tại Hải Dương), Nguyễn Thị Vinh (2011 tại Hòa Bình), Trần Đức Tuấn (2012), Trần Ngọc Phương (2012), Nguyễn Văn Trung (2012 tại Lâm Đồng), Nguyễn Trung Kiên (2014), Tôn Mạnh Cường (2013 tại Vĩnh Phúc), Đào Thị Hương (2015 tại Thái Nguyên), Trần Văn Định (2015 tại Vĩnh Phúc).
  • Về các mô hình can thiệp: Đỗ Thị Phương (2005 tại Phú Lương, Thái Nguyên) đào tạo YHCT hướng cộng đồng cho NVYT thôn bản; Nguyễn Thị Hạnh và cộng sự (2009 tại Cây Thị, Đồng Hỷ, Thái Nguyên) can thiệp đào tạo kỹ năng châm cứu, xoa bóp bấm huyệt và dùng thuốc Nam theo cơ chế xã hội hóa; Phạm Việt Hoàng (2012 tại Hưng Yên); Trần Đăng Khoa (2014 tại Thanh Hóa); Hoàng Thị Hoa Lý (2014) can thiệp nâng cao tỷ lệ khám chữa bệnh YHCT và kiến thức dùng thuốc Nam tại tuyến xã.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Mặc dù đã có một số mô hình can thiệp đơn lẻ, nhưng việc xây dựng một gói can thiệp tổng thể kết hợp giữa đào tạo kỹ năng thực hành ("cầm tay chỉ việc") về 70 cây thuốc Nam và châm cứu cho cán bộ y tế trạm, nâng cao năng lực tư vấn cho NVYT thôn bản, đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bị chẩn trị, cải tạo vườn thuốc Nam mẫu và đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khỏe tại các xã miền núi đặc thù của tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được nghiên cứu và đánh giá một cách có hệ thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án áp dụng các khái niệm và định nghĩa chuẩn hóa trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật y tế Việt Nam và tài liệu của WHO:

  • Thuốc YHCT: Gồm vị thuốc YHCT và thuốc thang, có thành phần là dược liệu được chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp YHCT hoặc theo kinh nghiệm dân gian.
  • Vị thuốc YHCT: Dược liệu được chế biến theo lý luận và phương pháp YHCT dùng để phòng bệnh, chữa bệnh hoặc sản xuất thuốc.
  • Thuốc thang: Dạng thuốc cổ truyền gồm một hoặc nhiều vị thuốc kết hợp theo lý luận YHCT hoặc kinh nghiệm dân gian, đóng gói theo liều dùng.
  • Thuốc thành phẩm YHCT: Thuốc đã qua các giai đoạn sản xuất (dạng viên, nước, chè, bột, cao...).
  • Thuốc Bắc: Vị thuốc, bài thuốc có nguồn gốc từ phương Bắc, bào chế và sử dụng theo y lý Trung y.
  • Thuốc Nam: Gồm các vị thuốc theo kinh nghiệm dân gian gia truyền bản địa và các dược liệu trong nước được bào chế, sử dụng theo lý luận kinh điển YHCT (âm dương ngũ hành, tứ khí, ngũ vị, thăng giáng phù trầm).
  • Cơ sở pháp lý: Quyết định 222/QĐ-TTg, Quyết định 2166/QĐ-TTg, Quyết định 153/2006/QĐ-TTg và các quy định chuyên môn của Bộ Y tế về chuẩn quốc gia y tế xã.

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp thiết kế can thiệp cộng đồng có so sánh trước - sau và có nhóm đối chứng.
    • Nhóm can thiệp: Trạm y tế xã Minh Tiến và xã Đức Lương.
    • Nhóm đối chứng: Trạm y tế xã Phú Cường và xã Phúc Lương.
  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu:
    • Mẫu định lượng mô tả người dân: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \frac{p(1-p)}{d^2}$$ Tính toán được cỡ mẫu tối thiểu là 399, làm tròn thành 400 người dân đã sử dụng dịch vụ YHCT tại 4 trạm y tế (100 người/xã). Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách bệnh nhân khám chữa bệnh YHCT tại trạm (ví dụ tại xã Minh Tiến, tổng số bệnh nhân là 2.384 người, chọn mẫu với khoảng cách $k = 23$).
    • Cán bộ y tế và NVYT thôn bản: Chọn chủ đích toàn bộ 4 cán bộ phụ trách YHCT tại 4 trạm y tế và toàn bộ 55 nhân viên y tế thôn bản của cả 4 xã.
    • Mẫu định lượng đánh giá can thiệp người dân: Áp dụng công thức so sánh 2 tỷ lệ: $$n = \frac{Z_{(\alpha, \beta)}^2 (p_1 q_1 + p_2 q_2)}{(p_1 - p_2)^2}$$ Với $p_1 = 0,49$ (nghiên cứu của Trần Văn Khanh), mong muốn giảm sai lệch kiến thức để đạt $p_2 = 0,35$, $\alpha = 0,1$, $\beta = 0,5$, $Z_{(\alpha, \beta)} = 2,7$, tính được cỡ mẫu $n = 178$, làm tròn thành 200 người dân.
    • Mẫu định tính: Thực hiện cả trước và sau can thiệp.
      • Phỏng vấn sâu (11 cuộc trước, 11 cuộc sau): 01 lãnh đạo TTYT huyện, 04 trạm trưởng TYT xã, 02 cán bộ YHCT trạm, 04 người dân.
      • Thảo luận nhóm (04 cuộc trước, 04 cuộc sau): 02 cuộc với đại diện chính quyền, ban ngành đoàn thể (9 người/nhóm gồm UBND, Hội Đông y, Đoàn thanh niên, Hội người cao tuổi, Hội phụ nữ, Hội nông dân, MTTQ, Hội cựu chiến binh); 02 cuộc với người dân (9 người/nhóm).

Nguyên tắc và nội dung can thiệp

Gói giải pháp can thiệp được xây dựng dựa trên 3 nguyên tắc:

  • Tính khả thi: Tận dụng hệ thống tổ chức y tế sẵn có, tuân thủ chính sách hiện hành, quy trình kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp.
  • Khả năng tiếp cận: Sát thực tế mô hình bệnh tật địa phương, phù hợp với trình độ tiếp thu của cán bộ y tế và người dân nông thôn miền núi.
  • Tính bền vững: Phù hợp nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát huy vai trò cộng đồng, địa phương có thể tự duy trì và nhân rộng.

Các hoạt động can thiệp cụ thể:

  • Đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị: Cung cấp máy điện châm (04 máy cho các trạm can thiệp), cung ứng kim châm cứu phục vụ đào tạo và khám chữa bệnh, tranh châm cứu, khay đựng dụng cụ, hộp bông cồn, phác đồ xử trí vựng châm, phác đồ xử trí sốc phản vệ; cải tạo vườn thuốc Nam mẫu đạt chuẩn 70 cây thuốc Nam theo danh mục Bộ Y tế, có biển tên và nhãn hướng dẫn.
  • Đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn: Tổ chức tập huấn theo phương pháp "cầm tay chỉ việc" về kỹ thuật châm cứu, công thức huyệt, nhận biết và kê đơn 70 cây thuốc Nam cho 2 cán bộ YHCT tại trạm can thiệp; bồi dưỡng kiến thức thuốc Nam và kỹ năng tư vấn cho NVYT thôn bản.
  • Truyền thông - Giáo dục sức khỏe (TT-GDSK): Phối hợp với chính quyền, các đoàn thể địa phương tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh xã, phát tài liệu truyền thông, hướng dẫn người dân trồng và sử dụng cây thuốc Nam tại hộ gia đình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về YHCT, các khái niệm chuyên ngành, tổng thuật các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác YDCT (Quyết định 222/QĐ-TTg, Quyết định 2166/QĐ-TTg, Quyết định 153/2006/QĐ-TTg). Tác giả phân tích dữ liệu thứ cấp về hệ thống khám chữa bệnh YHCT trên toàn quốc qua các giai đoạn 2003-2010 và 2011-2016.

Chỉ số hoạt động YHCT tuyến xã toàn quốc Năm 2003 (%) Năm 2006 (%) Năm 2008 (%) Năm 2010 (%) Năm 2016 (%)
Tỷ lệ TYT có hoạt động khám chữa bệnh YHCT 41,6 59,0 69,6 79,3 84,8 (2015)
Tỷ lệ TYT có vườn thuốc Nam mẫu 47,3 38,6 70,5 79,9 89,0 (2015)
Tỷ lệ TYT có cán bộ chuyên trách YHCT 34,3 52,7 62,8 74,3 -
Tỷ lệ khám chữa bệnh YHCT / Tổng khám chung 17,9 20,5 22,0 24,6 28,5
Tỷ lệ điều trị ngoại trú YHCT / Tổng ngoại trú 15,1 24,9 22,1 25,9 33,1

Chương 1 cũng điểm luận chi tiết các nghiên cứu trong nước và quốc tế về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động YHCT (chính sách, nhân lực, cơ sở vật chất, nhận thức cộng đồng), đồng thời giới thiệu tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và mạng lưới y tế của huyện Đại Từ và 4 xã nghiên cứu (Minh Tiến, Đức Lương, Phú Cường, Phúc Lương).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu, địa điểm, khung thời gian triển khai và các biến số/chỉ số nghiên cứu tương ứng với từng mục tiêu. Tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu định lượng, cách thức tổ chức các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm định tính, cấu trúc bộ công cụ thu thập thông tin, các biện pháp khống chế sai số nghiên cứu, quy trình xử lý dữ liệu và các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được từ quá trình điều tra mô tả và can thiệp:

  • Thực trạng hoạt động YHCT năm 2014 tại 4 xã nghiên cứu:
    • Cơ sở vật chất, trang thiết bị chẩn trị YHCT tại các trạm còn thiếu thốn, phòng khám YHCT chủ yếu lồng ghép; số lượng cây thuốc trong vườn thuốc Nam chưa đủ theo quy định 70 cây; kinh phí dành riêng cho hoạt động YHCT tại trạm hầu như không có.
    • Nguồn nhân lực: Trình độ cán bộ phụ trách YHCT ở tuyến xã chủ yếu là y sỹ, kiến thức về công thức huyệt, kỹ năng châm cứu và nhận biết, kê đơn thuốc Nam còn hạn chế; NVYT thôn bản thiếu kỹ năng tư vấn sử dụng thuốc Nam cho người dân.
    • Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT so với tổng số khám chữa bệnh chung tại 4 trạm còn ở mức thấp; các chứng bệnh thường gặp đến khám gồm các bệnh về cơ xương khớp, cảm mạo, tiêu hóa, thần kinh.
  • Kết quả xây dựng và triển khai giải pháp:
    • Cung cấp trang thiết bị thiết yếu (máy điện châm, kim châm, khay, tranh châm cứu, hộp đựng) và cải tạo hoàn chỉnh vườn thuốc Nam 70 cây thuốc mẫu tại 2 trạm can thiệp (Minh Tiến, Đức Lương).
    • Tổ chức các lớp tập huấn lý thuyết kết hợp thực hành trực tiếp cho cán bộ trạm và NVYT thôn bản; phát hành tài liệu truyền thông về cây thuốc Nam.
  • Đánh giá hiệu quả can thiệp sau 2 năm:
    • Năng lực chuyên môn của cán bộ trạm: Kiến thức về huyệt, công thức huyệt, kỹ năng nhận biết và sử dụng 70 cây thuốc Nam, kỹ năng châm cứu và kê đơn thuốc Nam tại 2 trạm can thiệp được nâng cao rõ rệt so với trước can thiệp và vượt trội so với 2 trạm đối chứng.
    • Năng lực của NVYT thôn bản: Tỷ lệ NVYT thôn bản có kiến thức và kỹ năng tư vấn sử dụng thuốc Nam tốt tại nhóm can thiệp tăng lên đáng kể.
    • Chuyển biến trong cộng đồng: Kiến thức nhận biết cây thuốc Nam và thực hành trồng, tự sử dụng cây thuốc Nam điều trị các chứng bệnh thông thường tại gia đình của người dân 2 xã can thiệp có sự cải thiện rõ rệt so với nhóm chứng.
    • Hoạt động khám chữa bệnh tại trạm: Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT và tỷ lệ áp dụng các phương pháp châm cứu, kê đơn thuốc Nam tại 2 trạm can thiệp tăng lên so với giai đoạn trước can thiệp.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả phân tích, so sánh các phát hiện nghiên cứu với các công bố của các tác giả tiền nhiệm:

  • Bàn luận về thực trạng: Sự tương đồng về khó khăn nhân lực, cơ sở vật chất và kinh phí tại các trạm y tế xã miền núi Thái Nguyên với kết quả nghiên cứu của Phạm Vũ Khánh, Nguyễn Văn Lơn, Vũ Việt Phong, Trịnh Yên Bình, Trương Thị Thu Hương.
  • Bàn luận về giải pháp can thiệp: Khẳng định tính phù hợp của mô hình can thiệp toàn diện dựa vào cộng đồng, kết hợp giữa nâng cao năng lực chuyên môn tại chỗ ("cầm tay chỉ việc") với đầu tư trang thiết bị thiết yếu và đẩy mạnh truyền thông qua mạng lưới y tế thôn bản.
  • Bàn luận về hiệu quả can thiệp: Phân tích các chỉ số cải thiện kiến thức, kỹ năng của nhân viên y tế và thay đổi thực hành của người dân; so sánh mức độ chuyển biến với các can thiệp tương tự của Đỗ Thị Phương (2005), Nguyễn Thị Hạnh (2009), Hoàng Thị Hoa Lý (2014).
  • Bàn luận về hạn chế nghiên cứu: Nêu rõ các rào cản khách quan tại địa bàn miền núi, cỡ mẫu đối tượng cán bộ y tế trạm hạn chế do biên chế tại chỗ và các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tính bền vững của giải pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

  • Về mặt lý luận: Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu khoa học toàn diện về thực trạng tổ chức, hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng (nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí, nhận thức cộng đồng) đến công tác khám chữa bệnh bằng YHCT tại trạm y tế các xã miền núi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án đã xây dựng, áp dụng và chứng minh hiệu quả của một mô hình can thiệp can thiệp tổng thể, khả thi tại tuyến y tế cơ sở miền núi. Mô hình kết hợp đồng bộ 3 thành tố:
    1. Nâng cao năng lực chuyên môn: Đào tạo thực hành châm cứu và kê đơn 70 cây thuốc Nam cho cán bộ trạm y tế; bồi dưỡng kỹ năng tư vấn sử dụng thuốc Nam cho nhân viên y tế thôn bản.
    2. Tăng cường điều kiện vật chất: Trang bị máy điện châm, dụng cụ châm cứu, cải tạo vườn thuốc Nam mẫu đạt chuẩn 70 cây thuốc tại trạm.
    3. Truyền thông giáo dục sức khỏe: Huy động chính quyền, các đoàn thể địa phương và mạng lưới NVYT thôn bản hướng dẫn người dân trồng, sử dụng cây thuốc Nam trong phòng và điều trị một số chứng bệnh thông thường.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Sở Y tế và Trung tâm Y tế huyện: Cần duy trì hình thức đào tạo liên tục, tập huấn thực hành "cầm tay chỉ việc" về YHCT cho cán bộ trạm y tế xã; định kỳ bổ sung, cấp phát trang thiết bị thiết yếu (máy điện châm, kim châm cứu) và hướng dẫn chuẩn hóa vườn thuốc Nam mẫu tại các trạm.
  • Đối với chính quyền địa phương và Trạm Y tế xã: Tăng cường phối hợp liên ngành, phát huy vai trò của Hội Đông y, Hội Người cao tuổi, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân bảo tồn, trồng và sử dụng thuốc Nam tại vườn nhà để chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Phạm vi nghiên cứu thực địa giới hạn tại 04 xã miền núi thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (2 xã can thiệp, 2 xã đối chứng), do đó khả năng suy rộng kết quả cho các vùng sinh thái hoặc địa bàn đồng bằng, đô thị cần có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương.
    • Số lượng cán bộ chuyên trách YHCT tại các trạm y tế tham gia can thiệp tương đối ít (do biên chế hạn định mỗi trạm 1 cán bộ), việc đánh giá năng lực cá nhân có thể chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân của từng cán bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tính bền vững dài hạn của mô hình can thiệp sau khi kết thúc các hỗ trợ vật lực trực tiếp từ đề tài nghiên cứu.
    • Mở rộng thử nghiệm mô hình can thiệp tại các huyện vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khác nhằm hoàn thiện quy trình chuẩn hóa hoạt động YHCT tuyến xã trong toàn tỉnh và khu vực miền núi phía Bắc.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng các chính sách phân bổ nguồn lực, đầu tư trang thiết bị, cải tạo vườn thuốc Nam và tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh YHCT tuyến xã theo tinh thần Quyết định 2166/QĐ-TTg.
  • Đối với các cơ sở đào tạo y dược và cán bộ y tế công cộng: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, bộ công cụ khảo sát năng lực YHCT và khung chương trình tập huấn kỹ năng thực hành 70 cây thuốc Nam, kỹ thuật châm cứu hướng tới tuyến y tế cơ sở.
  • Đối với trạm y tế tuyến xã và nhân viên y tế thôn bản: Luận án cung cấp quy trình triển khai vườn thuốc Nam mẫu, danh mục phác đồ điều trị các chứng bệnh thông thường bằng thuốc Nam và châm cứu không dùng thuốc dễ áp dụng tại cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa bàn và đối tượng can thiệp cụ thể của luận án là gì? Địa bàn can thiệp gồm 2 xã miền núi là xã Minh Tiến và xã Đức Lương (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), đối chứng với 2 xã là Phú Cường và Phúc Lương. Đối tượng can thiệp gồm cán bộ phụ trách YHCT tại trạm y tế, toàn bộ nhân viên y tế thôn bản, người dân sử dụng dịch vụ YHCT, cơ sở vật chất phòng chẩn trị và vườn thuốc Nam tại các trạm y tế nghiên cứu.

2. Ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án được xác định như thế nào? Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh YHCT tại trạm y tế xã huyện Đại Từ năm 2014. Mục tiêu 2: Xây dựng giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh một số chứng bệnh thông thường bằng thuốc Nam và châm cứu tại trạm y tế xã huyện Đại Từ. Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả giải pháp nâng cao hoạt động khám chữa bệnh bằng thuốc Nam và châm cứu tại trạm y tế xã huyện Đại Từ.

3. Gói can thiệp của luận án gồm những nội dung trọng tâm nào? Gói can thiệp gồm: (1) Cung cấp trang thiết bị thiết yếu (04 máy điện châm, kim châm cứu, khay, tranh châm cứu, phác đồ cấp cứu vựng châm, sốc phản vệ) và cải tạo vườn thuốc Nam mẫu 70 cây; (2) Tập huấn "cầm tay chỉ việc" về kỹ năng châm cứu, nhận biết và kê đơn 70 cây thuốc Nam cho cán bộ trạm, nâng cao kỹ năng tư vấn thuốc Nam cho NVYT thôn bản; (3) Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người dân về trồng và sử dụng thuốc Nam qua hệ thống loa truyền thanh và mạng lưới đoàn thể địa phương.

4. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng được thực hiện ra sao? Trong giai đoạn mô tả, tác giả điều tra 400 người dân đã sử dụng dịch vụ YHCT (100 người/xã) bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ sổ khám bệnh, toàn bộ 4 cán bộ phụ trách YHCT trạm và 55 NVYT thôn bản. Trong giai đoạn can thiệp, cỡ mẫu đánh giá là 200 người dân tính toán theo công thức so sánh 2 tỷ lệ ($p_1 = 0,49; p_2 = 0,35; \alpha = 0,1; \beta = 0,5$).

5. Kết quả can thiệp ghi nhận những chuyển biến chính nào tại các xã can thiệp? Sau 2 năm can thiệp, kiến thức về công thức huyệt, kỹ năng châm cứu, nhận biết và kê đơn 70 cây thuốc Nam của cán bộ trạm can thiệp được nâng cao; năng lực tư vấn thuốc Nam của NVYT thôn bản tăng lên; tỷ lệ người dân có kiến thức đúng và thực hành tự trồng, sử dụng thuốc Nam tăng rõ rệt; tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT và áp dụng châm cứu, thuốc Nam tại 2 trạm can thiệp có sự gia tăng so với trước can thiệp và cao hơn so với 2 trạm đối chứng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thủy đã phản ánh bức tranh thực trạng về hoạt động khám chữa bệnh YHCT tại các trạm y tế xã miền núi huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2014 với những khó khăn về nhân lực, cơ sở vật chất và kinh phí. Nghiên cứu đã xây dựng và thực nghiệm thành công mô hình can thiệp toàn diện kết hợp đào tạo kỹ năng thực hành cho cán bộ y tế trạm, bồi dưỡng năng lực tư vấn cho nhân viên y tế thôn bản, nâng cấp trang thiết bị chẩn trị, chuẩn hóa vườn thuốc Nam 70 cây mẫu và đẩy mạnh truyền thông cộng đồng. Kết quả sau 2 năm can thiệp cho thấy sự cải thiện rõ rệt về năng lực chuyên môn của đội ngũ y tế cơ sở, nâng cao nhận thức, thực hành sử dụng thuốc Nam của người dân và thúc đẩy tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT tại các trạm y tế xã miền núi.