CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN THU TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1.Khái niệm, đặc điểm, phân loại về đơn vị sự nghiệp có thu 1.Khái niệm: Là những đơn vị do nhà nước thành lập hoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc doanh.[13] Cùng với nhiệm vụ trong việc thành lập, các đơn vị do nhà nước thành lập hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm … Để xác định đơn vị nào do nhà nước thành lập là đơn vị sự nghiệp có thu cần dựa vào những tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương. - Được Nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động, thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và thực hiện một số khoản thu do chế độ nhà nước quy định. - Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước quy định,được chủ động sử dụng biên chế được cấp có thẩm quyền giao. - Có mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để ký gửi các khoản thu chi tài chính.
Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có thu: Một là: ĐVSN có thu là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời là chính. Không như hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiêp, để thực hiện vai trò của Nhà nước, Nhà nước đã ttổ chức và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung ứng sản phẩm, dịch vụ xã hội công cộng, hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường thú[12] Hai là: Sản phẩm của các ĐVSN là các sảm phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh 6 thần. Sản phẩm, dịch vụ của DVSN chủ yếu là giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức… có tính phục vụ không chỉ một ngành, một lĩnh vực nhất định mà kho tiêu thụ sản phẩm đó thường có tác dụng lan toả, truyền tiếp, tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm đó là “hàng hoá công cộng” tác động đến con người về trí và lực tạo điều kiện cho hoạt đông của con người, tác động đến đời sống của con người, đến quá trình tái sản xuất xã hội.[12] Ba là: Hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSN có thu luôn gắn liền và bị tri phối bởi các trương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước.
Chính phủ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội nên các hoạt động này có gắn liền với nhau.Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu Để quản lý tốt các hoạt động của các ĐVSN có thu cũng như quản lý được quá trình phát triển của các loại hình dịch vụ này, phục vụ tốt cho hoạt động của nền kinh tế quốc dân, cần phải xác định các đơn vị sự nghiệp có thu tuỳ thuộc vào lĩnh vực hoạt động hay khả năng đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.[12] * Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ĐVSN có thu bao gồm: - Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Văn hoá nghệ thuật. - Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống Giáo dục Quốc dân. - Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Nghiên cứu khoa học. - Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Thể dục thể thao.
- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Y tế. - Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Xã hội. - Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Kinh tế. Ngoài các ĐVSN có thu ở các lĩnh vực nói trên còn có các ĐVSN có thu trực thuộc các tổng công ty, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội.
Việc phân loại các ĐVSN có thu theo lĩnh vực hoạt động tạo thuận lợi cho việc phân tích đánh giá hoạt động đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau tácđộng đến 7 nền kinh tế như thế nào, từ đó Nhà nước đưa ra các chế độ, chính sách phù hợp với hoạt động của các đơn vị này.Nguồn thu sự nghiệp của Bệnh viện c ng lập 1. Khái niệm Bệnh viện công lập. Bệnh viện công: Là bệnh viện là do nhà nước thành lập với chức năng nhiệm vụ, là nơi tiếp nhận mọi người bệnh đến cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú theo chế độ chính sách Nhà nước quy định, tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khỏe, là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế, và là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng những tiến độ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ người bệnh.[13] Bệnh viện tư: Là bệnh viện do tư nhân đứng ra tổ chức thành lập với chức năng nhiệm vụ và quy chế hoạt động do hội đồng quản trị xây dựng, hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, có hội đồng quản trị, ban kiểm soát, và có các cổ đông tham gia xây dựng bệnh viện.[13] Như vậy Bệnh viện công và bệnh viện tư có đặc điểm khác nhau rất cơ bản đó là: Bệnh viện công là đơn vị sự nghiệp được nhà nước thành lập để phục vụ nhu cầu khám và điều trị bệnh cho nhân dân, và thực hiện các nhiệm vụ y tế khác do nhà nước giao nhiệm vụ. Các nguồn thu trong bệnh viện công thực hiện theo giá được nhà nước phê duyệt và được xác định đó là nguồn thu sự nghiệp được ghi thu, ghi chi qua ngân sách nhà nước và được quản lý như nguồn thu của ngân sách nhà nước, và coi là nguồn thu sự nghiệp.
Ngoài các nguồn thu theo giá được phê duyệt, các bệnh viện công lập cũng được giao tự chủ tài chính và được khai thác các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định. Còn đối với các bệnh viện tư, hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, các dịch vụ y tế do họ cung cấp được người bệnh chấp nhận với tính chất dịch vụ, nguồn thu đối với các bệnh viện này họ có nghĩa vụ nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác với nhà nước, họ được chủ động trong việc đăng ký chức năng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, nguồn thu đối với các bệnh viện tư là nguồn thu dịch vụ không được coi là nguồn thu sự nghiệp vì không phải làm thủ tục ghi thu, ghi chi qua ngân sách nhà nước. Bệnh viện công lập là đơn vị sự nghiệp có thu. Nguồn thu sự nghiệp tại Bệnh viện công.
Các nguồn thu trong bệnh viện công thực hiện theo giá được nhà nước phê duyệt và được xác định đó là nguồn thu sự nghiệp được ghi thu, ghi chi qua ngân sách nhà nước và được quản lý như nguồn thu của ngân sách nhà nước, và coi là nguồn thu sự nghiệp. Ngoài các nguồn thu theo giá được phê duyệt, các bệnh viện công lập cũng được giao tự chủ tài chính và được khai thác các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định. Còn đối với các bệnh viện tư, hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, các dịch vụ y tế do họ cung cấp được người bệnh chấp nhận với tính chất dịch vụ, nguồn thu đối với các bệnh viện này họ có nghĩa vụ nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác với nhà nước, họ được chủ động trong việc đăng kýchức năng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, nguồn thu đối với các bệnh viện tư là nguồn thu dịch vụ không được coi là nguồn thu sự nghiệp vì không phải làm thủ tục ghi thu, ghi chi qua ngân sách nhà nước.[13] Như vậy về bản chất tài chính, bản chất nguồn thu, cách thức hạch toán, nguồn hình thành tài sản, cơ chế quản lý điều hành của bệnh viện công và bệnh viện tư là hoàn toàn khác nhau. Quản lý, khai thác nguồn thu sự nghiệp bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản thu, tiến hành thu theo đúng Luật ngân sách, đúng các nguyên tắc của Nhà nước, đảm bảo đủ nguồn kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện.
Các nguồn thu chủ yếu của bệnh viện công lập hiện nay gồm có từ quỹ Bảo hiểm y tế và chi trả viện phí trực tiếp của người bệnh, từ các hoạt động liên doanh liên kết, các nguồn tài trợ, viện trợ của các tổ chức trong và ngoài nước, và khai thác các hoạt động dịch vụ của bệnh viện trên nguyên tắc phục vụ tối đa nhu cầu của bệnh nhân và đem lại nguồn thu hợp pháp cho bệnh viện. Các nguồn thu sự nghiệp của bệnh viện công.Nguồn thu Bảo hiểm y tế. - Bản chất của nguồn thu bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do 9 Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT. Luật BHYT không áp dụng đối với BHYT mang tính kinh doanh, người tham gia BHYT được quỹ BHYT chi trả các chi phí trong khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, được chăm sóc sức khỏe toàn diện nhưng chỉ phải trả một phần chi phí theo quy định.
Thực tế cho thấy hình thức chi trả trước bảo hiểm y tế ở nước ta vẫn còn hạn chế. Ngân sách Nhà nước cấp mua bảo hiểm y tế cho người nghèo chiếm tới 56% tổng nguồn thu bảo hiểm y tế; sự tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc của nhóm lao động hưởng lương là nguồn đóng góp quan trọng nhất cho quỹ bảo hiểm y tế. Việc chưa có một cơ chế quản lý sử dụng nguồn quỹ một cách hiệu quả, trong bối cảnh chi phí khám chữa bệnh ngày càng tăng là một trong số nguyên nhân quan trọng dẫn đến bội chi quỹ.