PHẦN MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS Chƣơng 1 tập trung làm rõ những khái niệm trên thế giới về TCPCP của các nhà nghiên cứu, WB, LHQ và ở Việt Nam. Đồng thời chƣơng này cũng phân loại các TCPCP theo phạm vi hoạt động, tính chất hoạt động, khu vực hoạt động, định hƣớng hoạt động và một số cách phân loại khác; Chƣơng 1 cũng phân tích rõ hoạt động của các TCPCPNN tại Việt Nam và TCPCP trong nƣớc từ trƣớc tới nay và những khái niệm và thực trạng hiện tại về vấn đề phòng chống HIV/AIDS – một vấn đề cấp bách đã và đang tác động to lớn đến đời sống con ngƣời và các hoạt động hợp tác trong phòng chống HIV/AIDS trên thế giới CHƢƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM 18 z Trƣớc hết, chƣơng 2 nhằm tập trung làm rõ tình hình chung và thực trạng công tác phòng chống HIV/AIDS mà Việt Nam thực hiện trong những năm qua, qua đó nêu bật hiệu quả hoạt động hỗ trợ của các TCPCP trong việc hỗ trợ đối phó với HIV/AIDS. Có rất nhiều hình thức hỗ trợ, can thiệp từ phía TCPCP trong việc đƣơng đầu với HIV/AIDS. Tuy nhiên, chƣơng này sẽ chỉ đề cập một số hình thức hỗ trợ chủ yếu nhƣ hỗ trợ xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật và chính sách phòng, chống HIV/AIDS, kết nối Việt Nam với các tổ chức, nhà tài trợ quốc tế và các hỗ trợ về mặt chuyên môn trong công tác phòng, chống HIV/AIDS.
CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM Qua những phân tích ở chƣơng 1 và chƣơng 2, chƣơng 3 tập trung phân tích những điểm mạnh, điểm yếu cũng nhƣ khó khăn, hạn chế của các TCPCP trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS và một số đề xuất nhằm phát huy hiệu quả hoạt động cũng nhƣ tăng cƣờng hợp tác giữa Việt Nam và TCPCP trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam. KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 19 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ VẤN ĐỀ PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS 1.1 Một số khái niệm về tổ chức phi chính phủ 1.1 Tổ chức phi chính phủ theo khung định nghĩa thế giới và Việt Nam Tổ chức phi chính phủ (Non – governmental organization) là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khi nói tới những tổ chức xã hội dân sự (civil society) hợp pháp tự nguyện vì những lợi ích công, thƣờng không vì mục đích lợi nhuận, phi bạo lực và không thuộc chính phủ. Theo tác giả Mawlawski: - Từ “Phi” trong “Tổ chức phi chính phủ” (The “Non” in Non- governmental Organization2): là thuật ngữ thƣờng đƣợc sử dụng để nói đến những thực thể không tạo ra lợi nhuận, thuật ngữ này nhằm chia tách ranh giới giữa TCPCP và các thực thể phi chính phủ khác ví dụ nhƣ các công ty đa quốc gia mà mục tiêu chính của nó là mƣu cầu lợi nhuận. Có thể thấy TCPCP hoạt động với những tiêu chí nhƣ không sinh lợi, tự nguyện, là nơi mà mọi ngƣời tham gia vì lý tƣởng và những mục đích cao đẹp3.
Bên cạnh đó, đặc điểm phi bạo lực cũng giúp phân biệt TCPCP với những nhóm sử dụng vũ lực nhằm đạt đƣợc mục đích của mình nhƣ các nhóm khủng bố, du kích hay giải phóng. Theo Rosenau, phi bạo lực chính là một đặc điểm chính để phân biệt giữa TCPCP với các thực thể phi chính phủ khác. Phần lớn những học giả nghiên cứu trong lĩnh vực quan hệ quốc tế coi TCPCP là tổ chức xã hội quốc tế, ví dụ: Học giả Rosenau cho rằng TCPCP là những tổ chức có hoạt động vƣợt ra khỏi phạm vi quốc gia. Tuy nhiên nếu nhìn trong bối cảnh này thì 2 Mawlawski F.
(1996), Nongovernmental organizations and internal conflict, Centre for Science and International Affairs, pg.435-460 20 z quan điểm của Rosenau khi ám chỉ “quốc tế” đã gây ra những quan điểm trái chiều: Đối với một số học giả khác cho rằng thành viên của TCPCP đến từ nhiều hơn một quốc gia, một số khác cho rằng TCPCP quốc tế phải hoạt động ở những quốc gia khác nhau. - Cụm từ “Phi chính phủ” trong “Tổ chức phi chính phủ” (non- governmental in Nongovernmental Organizations): TCPCP thƣờng đƣợc hiểu là tổ chức không có đại diện của chính phủ trong đó, đƣợc các cá nhân hoặc các nhóm quốc gia thành lập ra và không phải đại diện chính thức của chính phủ quốc gia (Russett4). Do đó nhiều tác giả thƣờng coi TCPCP nhƣ những tổ chức cá nhân. Có một số cách tiếp cận khác cho rằng TCPCP đƣợc hình thành từ các cá nhân, các nhóm thực thể và những cá nhân có đủ trình độ hoặc thực thể phải đƣợc tham gia vào trong lĩnh vực mà tổ chức đó hoạt động.
Nhƣ vậy cách tiếp cận này cho phép thành phần chính phủ có thể trở thành thành viên nhƣng vẫn dựa nguyên tắc không bị ảnh hƣởng, tác động bởi chính phủ đó. Hơn nữa, TCPCP không đƣợc phụ thuộc quá nhiều vào chính phủ về mặt tài chính, TCPCP có thể nhận hỗ trợ tài chính từ chính phủ nhƣng chỉ ở một giới hạn nhất định để có thể duy trì hoạt động trong trƣờng hợp nguồn hỗ trợ từ phía chính phủ rút đi. Tuy nhiên trong thực tế thì tình hình hoàn toàn không nhƣ vậy vì càng ngày có càng nhiều TCPCP phụ thuộc vào nguồn tài chính từ chính phủ và hoạt động vì những mục đích đặc thù và từ đó các nguồn đóng góp từ chính phủ trở thành các nguồn thu chính của tổ chức đó. Điều căn bản của tính “phi chính phủ” ở đây là các TCPCP không đại diện cho chính phủ nƣớc họ, mà đại diện cho tổ chức của mình – tổ chức này thƣờng đăng ký chính thức với nhà nƣớc nhƣ một tổ chức không vụ lợi và mang tính chất tƣ nhân.
Từ “phi chính phủ” không nói lên đƣợc bản chất của các tổ chức đó. Cụ thể, TCPCP có sự khác biệt với các hình thức hành động tập thể khác ví dụ nhƣ đình công tập thể do nó có cơ cấu tổ chức bền vững lâu dài. Ngoài ra TCPCP còn có một số thuộc tính đặc trƣng khác nhƣ: có cơ cấu tổ chức căn bản, có thành viên thƣờng trực, có văn phòng và nguồn thu tài chính. Theo định nghĩa của WB thì TCPCP là “một tổ chức dân sự theo đuổi những hoạt động nhằm giảm bớt khổ đau, thúc đẩy lợi ích của ngƣời nghèo, bảo vệ môi trƣờng, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hoặc thực hiện các dịch vụ cộng đồng”5.
Tóm lại, có thể coi TCPCP là một tổ chức xã hội độc lập có tính chuyên môn hóa với mục đích căn bản là nhằm thúc đẩy các mục tiêu chung ở cấp quốc gia hoặc quốc tế. Thuật ngữ “TCPCP” đƣợc nhắc đến lần đầu tiên trong Điều 71 Hiến chƣơng LHQ năm 1949, khi LHQ tiến hành nhóm tất cả các tổ chức làm về phát triển vào thành một tên gọi chung là TCPCP. Điều 71 trong Hiến chƣơng có đề cập: “Hội đồng kinh tế xã hội, trong khả năng cho phép của mình, có thể tiến hành thảo luận với các TCPCP về các vấn đề quan tâm. Việc thảo luận này có thể tiến hành với các tổ chức quốc tế và các tổ chức quốc gia sau khi bàn bạc với các quốc gia thành viên của LHQ”.
Theo LHQ6, các tổ chức không mang những đặc điểm sau thì đƣợc coi là TCPCP: (i) các tổ chức thƣơng mại, (ii) các tổ tham gia vào hoạt động bạo lực hay ủng hộ bạo lực, 5 Malena, C. (1995), Working with NGOs: A practical guide to operational collaboration between the world bank and non-governmental organizations, Operations Policy Department, World Bank 6 Nalinakumari, B. and Richard MacLean (2005), NGOs: A primer on the Evolution of the Organizations that are setting the next generation of “regulations”, Environmental Quality Management, Volum 14, Issue 4, pg. 1 – 21 22 z (iii) các tổ chức có mục tiêu lật đổ/thay thế chính quyền hiện tại và (iiii) các tổ chức nằm dƣới sự kiểm soát trực tiếp của bất kỳ chính phủ nào.
Dƣới đây là bảng tóm tắt một cách sơ lƣợc về cách tiếp cận trong phân loại mục tiêu, thành viên, hoạt động và nguồn kinh phí của TCPCP.1: Cách tiếp cận trong phân loại mục tiêu, hoạt động và nguồn kinh phí của các TCPCP 7 Mục tiêu Thành viên và Nguồn kinh phí Hoạt động cơ cấu nhân sự Mục tiêu cơ bản: Thành viên: Cá Nguồn kinh phí: Chức năng: Có Thay đổi tiêu nhân, tổ chức, thành viên, đóng thể bao gồm vận chuẩn của xã hội; bán chính phủ, góp, từ các quỹ, động chính sách; nâng cao sự hiểu cho tất cả mọi các chính phủ thu thập thông tin biết; tác động tới ngƣời… (cấp hoặc theo và phân tích; đƣa các chính sách, Phạm vi địa lý: hợp đồng), các tổ ra các ý kiến và chƣơng trình; Có thể ở mức chức liên chính đề xuất; giám sát thực thi chính cộng đồng, địa phủ… và đánh giá; hỗ sách; giải quyết phƣơng, quốc gia, trợ và truyền các vấn đề không khu vực, liên thông; hỗ trợ và có sự tham gia quốc gia trợ cấp tài chính, của chính phủ… Cơ cấu nhân sự: thực thi Vì lợi ích gì? Lợi không phân biệt ích của ai? (tình nguyện), Khu vực hoạt Vì lợi ích chung chuyên gia, nhân động: Có thể ở (cho mục đích sự đƣợc bầu, cơ mức cộng đồng, duy nhất hoặc vì cấu thuộc ban địa phƣơng, quốc 7 Simmons, P. (1998), Learning to live with NGOs, Foreign Policy 112, pg. 85 23 z lợi ích chung toàn quản lý… gia, khu vực, liên xã hội); cho lợi quốc gia ích riêng của Mục tiêu: có thể thành viên, nhóm là cộng đồng; hoặc tổ chức; vì ngƣời tiêu dung, lợi ích của chính phủ; các “những nhóm thành phần phi không thể đại chính phủ; các tổ diện” (thế hệ chức liên chính tƣơng lai, trái phủ đất…) Ở Việt Nam, thuật ngữ TCPCP xuất hiện lần đầu tiên trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992, trong đó quy định “Thủ tướng chính phủ cho phép thành lập và quản lý việc tuân theo pháp luật của các Hội, các TCPCP”. Sau đó là Luật Hợp tác xã năm 1996 và một số văn bản pháp qui gần đây: TCPCP là một tổ chức đƣợc hình thành mang tính độc lập tƣơng đối với Chính phủ; Đƣợc cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, có sự quản lý Nhà nƣớc; Đƣợc lập ra do sự tự nguyện của nhân dân; Hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật.