Chương 1: Lý luận cơ bản về thuế, quản lý thuế và hiệu quả công tác thu thuế. Chương 2: Thực trạng công tác thu thuế và hiệu quả công tác thu thuế trên địa bàn Quận Thanh Xuân - Thành Phố Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu thuế trên địa bàn Quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội. 7 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU THUẾ 1.1 Tổng quan về thuế 1.1 Khái niệm về thuế “Thuế là hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng”[6].
Bản chất, chức năng của thuế Từ khái niệm thuế nói trên ta có thể thấy được bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó, những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế, người ta thấy có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau : - Tính bắt buộc: Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị bắt buộc NNT chuyển giao một phần thu nhập của mình vào NSNN dưới hình thức thuế. Khi chuyển giao thu nhập, lợi ích của NNT không được xác định cụ thể khi chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế. Bên cạnh đó, không có ai tự nguyện trả tiền khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ công cộng.
Do vậy, yêu cầu bắt buộc chuyển giao thu nhập của thuế là tất yếu khách quan. - Tính không đối giá, không hoàn trả trực tiếp: hàng hoá, dịch vụ công cộng được nhà nước cung cấp cho tất cả mọi người trên cơ sở lợi ích chung, lợi ích của cộng đồng, của quốc gia chứ không xem xét lợi ích hay nhu cầu riêng của mỗi người. NNT sử dụng ít hay nhiều hàng hoá, dịch vụ công cộng không phụ thuộc vào số thuế phải nộp. Điều này có nghĩa là số tiền thuế nộp không xuất phát từ lợi ích, nhu cầu tương ứng của mỗi cá nhân hay thể nhân, tức là 8 không không có tính đối giá.
Trước khi nộp thuế, không có hàng hoá, dịch vụ công cộng nào được nhà nước cung cấp. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT. NNT sẽ nhận được gián tiếp các khoản bồi hoàn thông qua dịch vụ công mà nhà nước cung cấp như an ninh, trật tự xã hội; phúc lợi công cộng,. tức là thuế không có tính hoàn trả trực tiếp.
- Tính pháp lý cao: Quyền lực chính trị của nhà nước được thể hiện bằng pháp luật do nhà nước đặt ra. Quan hệ thu, nộp thuế giữa nhà nước và dân cư phải được thực hiện dựa trên các căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế. Như vậy, thuế được đảm bảo bởi pháp luật; nói cách khác, thuế có tính pháp lý cao. Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế.
Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của ngân sách nhà nước trên nhiều phương diện khác nhau. Hệ thống thuế và phân loại thuế 1.Khái niệm hệ thống thuế Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết bao hàm việc xây dựng các sắc thuế, loại thuế; phương pháp thu, nộp trên những nguyên tắc nhất định.Tùy thuộc vào khả năng và ý đồ của từng Nhà nước trong việc điều tiết dòng thu nhập quốc dân, ở những giai đoạn lịch sử cụ thể mà hình thành những hệ thống thuế khác nhau. Tuy vậy, bất kỳ một hệ thống thuế nào cũng phải bao gồm 2 bộ phận : Hệ thống chính sách thuế và Hệ thống quản lý thuế. Chính sách thuế là tổng hợp các phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thu nộp thuế; quản lý thuế là các biện pháp, thủ pháp thực hiện chính sách thuế để đạt được những mục tiêu đã định [9].
Khi xem xét hệ thống thuế của một quốc gia nhất định, người ta ít chú ý đến số lượng của các sắc thuế, các loại thuế trong hệ thống đó, mà chủ yếu 9 đánh giá, xem xét đến khía cạnh chất lượng của nó. Mỗi quốc gia tùy theo điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội ở từng giai đoạn cụ thể mà định hướng xây dựng hệ thống thuế riêng của mình. Hệ thống thuế đó phản ánh những mục tiêu của Nhà nước đặt ra.2 Phân loại thuế Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý và tổ chức hành thu trong thực tế, người ta tiến hành phân loại thuế theo một số tiêu thức nhất định. + Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế Theo cách phân loại truyền thống đã hình thành từ rất lâu, thuế được chia thành hai loại : thuế trực thu và thuế gián thu.
Sự phân loại này phụ thuộc vào đối tượng đánh thuế, mối quan hệ tương hỗ giữa người nộp thuế và nhà nước: - Thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế điều tiết vào thu nhập của pháp nhân, thể nhân và các cá nhân. Ở nước ta thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp… - Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp điều tiết vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ. Thuế gián thu gồm: thuế giá trị gia tăng; thuế môn bài; thuế tài nguyên; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu - nhập khẩu. + Phân loại theo đối tượng đánh thuế Phân loại theo đối tượng đánh thuế, hệ thống thuế bao gồm các loại: - Thuế đánh vào hàng hoá: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng.
- Thuế đánh vào thu nhập, như: thuế lợi tức, thuế thu nhập. - Thuế đánh vào tài sản, như: thuế nhà, thuế đất, thuế chuyển quyền sử dụng nhà, đất. - Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu công cộng, như: thuế tài nguyên, thu vốn ngân sách. Vận dụng cách phân loại này trong thực tế cho thấy hệ thống thuế bao gồm nhiều loại thuế với những tác dụng riêng có khác nhau, từng loại thuế phát huy vai 10 trò điều tiết trong các lĩnh vực nhất định song chúng vừa hổ trợ, bổ sung cho nhau để đảm bảo thực hiện chức năng toàn diện của hệ thống thuế.
Ngoài ra còn một số cách phân loại như: - Phân loại thuế dựa vào mối quan hệ của thuế với thu nhập có thuế và thuế theo tỷ lệ. - Phân loại thuế theo chế độ phân cấp quản lý, điều hành ngân sách: Thuế nhà nước, thuế địa phương - Phân loại theo phương thức sử dụng: Thuế tổng hợp, thuế chuyên dùng 1.Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là một chức năng vốn có của Nhà nước, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì nhất thiết vai trò đó càng được coi trọng và phát huy. Với vai trò chủ yếu là tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự can thiệp tích cực của Nhà nước thông qua hệ thống Pháp luật, đặc biệt là pháp luật tài chính, thuế, ngân hàng, trong đó vai trò của thuế trở nên cực kỳ quan trọng. Thuế được coi là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước: Trong các khoản thu ngân sách nhà nước theo quy định của luật ngân sách nhà nước 2015 gồm: Thuế, Phí, lệ phí,. thì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Bởi, Chính sách thuế tác động tới tất cả các đối tượng, các thành phần kinh tế, tới mọi lĩnh vực.
Do vậy khoản thu từ thuế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước. * Công cụ điều tiết kinh tế - Bên cạnh là nguồn lực nguồn vốn, Thuế còn là một phương tiện giúp điều tiết kinh tế vĩ mô. Bằng công cụ thuế nhà nước có thể điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý theo yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn, tạo 11 thuận lợi để tăng việc làm, giảm thât nghiệp. Điều chỉnh lạm phát trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá nóng hay khi nền kinh tế giảm phát.
* Công cụ điều tiết thu nhập Thuế là công cụ điều tiết thu nhập, thể hiện rõ nhất ở chính sách thuế thu nhập. Thuế điều tiết thu nhập bằng việc điều chỉnh thuế suất, đánh thuế suất cao đối với người có thu nhập cao, đưa ra các khoản giảm trừ (Giảm trừ bản thân, người phụ thuộc) để đảm bảo một ngưỡng thu nhập đáp ứng nhu cầu cuộc sống của các cá nhân. Hay ở chính sách thuế tiêu dùng, các hàng hóa xa xỉ có giá trị đắt đỏ sẽ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt từ đó điều hòa thu nhập của xã hội. * Công cụ rà soát, kiểm soát Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế giúp nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Góp phần đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Góp phần nâng cao tính bình đẳng trong môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Khái niệm Theo nghĩa hẹp,“Quản lý thuế là hệ thống những quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung cấp dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế” [8]. Tương ứng với khái niệm nêu trên thì nội dung quản lý thuế gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế,thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.