Tổng quan nghiên cứu
Đầu tư cho đổi mới công nghệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2001-2011 chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP, mức đầu tư rất khiêm tốn khi so sánh với con số 2,0% GDP ở các quốc gia công nghiệp phát triển. Đáng chú ý, trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài nhà nước chỉ đạt mức tương đương 3% so với các doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn. Thực trạng này tạo ra rào cản nghiêm trọng đối với năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại tỉnh Bến Tre, ngành công nghiệp chế biến dừa giữ vai trò kinh tế mũi nhọn với hơn 100 cơ sở và doanh nghiệp hoạt động, đóng góp tỷ trọng chủ đạo trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở này vẫn vận hành trên nền tảng máy móc lạc hậu, hệ số đổi mới thiết bị hàng năm không đáng kể, dẫn đến chi phí sản xuất cao và sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô hoặc sơ chế.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xây dựng và đề xuất hệ thống giải pháp sử dụng công cụ thuế suất nhằm kích thích trực tiếp hoạt động đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung vào trường hợp điển hình là ngành chế biến dừa tỉnh Bến Tre. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác lập tại địa bàn tỉnh Bến Tre với mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 30 doanh nghiệp chế biến dừa trên tổng thể 116 doanh nghiệp toàn tỉnh, kết hợp khảo sát 10 cán bộ thuế và 3 cơ quan quản lý chuyên trách cấp tỉnh trong khung thời gian từ năm 2001 đến năm 2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách tài khóa địa phương, hướng tới mục tiêu thúc đẩy 100% doanh nghiệp chế biến dừa nâng cấp công nghệ, gia tăng tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng chế biến sâu từ mức dưới 20% lên trên 40% trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng mô hình các giai đoạn phát triển năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (1990), bao gồm ba nấc thang phát triển chính: định hướng theo yếu tố đầu vào, định hướng theo sức đầu tư và định hướng theo đổi mới sáng tạo. Trong đó, việc chuyển dịch phương thức cạnh tranh từ lợi thế so sánh chi phí nhân công rẻ sang lợi thế khác biệt hóa sản phẩm dựa trên năng suất cao đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư thỏa đáng cho công nghệ. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết cấu trúc công nghệ của Nawar Sharif (1986) và Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT), xác định công nghệ bao gồm 4 thành phần tương tác hữu cơ: phần kỹ thuật (phần cứng), phần con người, phần thông tin và phần thiết chế tổ chức.
Về mặt khái niệm pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 (Luật số 80/2006/QH11) và Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi năm 2013 (Luật số 29/2013/QH13), định nghĩa công nghệ là tập hợp các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ để chuyển biến nguồn lực thành sản phẩm hoàn chỉnh. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được chuẩn hóa theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, quy định các cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người. Hệ thống công cụ thuế được phân tích sâu dưới 4 hình thức thuế suất: thuế suất tỷ lệ thuận, thuế suất cố định tuyệt đối, thuế suất lũy tiến và thuế suất lũy thoái, nhằm làm rõ cơ chế tác động của chính sách thuế đến quyết định tái đầu tư của doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích để khảo sát thực tế 30 doanh nghiệp chế biến dừa trên tổng số 116 doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre (chiếm tỷ lệ đại diện 25,86%). Cơ cấu mẫu khảo sát được phân bổ chặt chẽ theo loại hình sở hữu, gồm: 02 doanh nghiệp có vốn nhà nước (chiếm 6,7%), 24 doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn (chiếm 80,0%), cùng 04 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (chiếm 13,3%). Về cơ cấu sản phẩm, mẫu khảo sát bao phủ toàn diện 8 phân nhóm sản phẩm chủ lực: cơm dừa nạo sấy (6/12 DN), kẹo dừa (8/26 DN), sữa và dầu dừa (2/8 DN), mụn dừa (2/10 DN), xơ dừa (4/38 DN), than thiêu kết (3/11 DN), thạch dừa (3/3 DN) và hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa (2/8 DN).
Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát bán cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp 10 cán bộ thuế công tác tại 08 huyện, thành phố thuộc tỉnh Bến Tre, cùng đại diện lãnh đạo của 3 cơ quan thực thi chính sách cấp tỉnh gồm: Sở Tài chính, Cục Thuế và Sở Khoa học và Công nghệ. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các niên giám thống kê, báo cáo thu nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2008-2012 của Cục Thuế tỉnh Bến Tre. Phương pháp phân tích dữ liệu được thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel thông qua thống kê mô tả, phân tích so sánh chéo và phân nhóm chỉ tiêu. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh trực quan tương quan giữa gánh nặng thuế suất thực tế với tốc độ đổi mới máy móc của từng nhóm hình thức sở hữu, bảo đảm tính xác thực và phù hợp với đặc thù dữ liệu định lượng cấp vi mô.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực trạng trang thiết bị tại 30 doanh nghiệp chế biến dừa cho thấy trên 70% máy móc và dây chuyền sản xuất có xuất xứ nội địa tự chế hoặc nhập khẩu từ các thị trường có trình độ kỹ thuật trung bình như Trung Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á. Mức độ tự động hóa hoàn toàn của toàn ngành chỉ đạt dưới 10%, trong khi hơn 65% quy trình sản xuất vẫn phụ thuộc vào phương thức bán tự động và thao tác thủ công thô sơ, đặc biệt ở các công đoạn bóc vỏ, nạo cơm dừa và định hình thủ công mỹ nghệ.
Số liệu thu nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2008-2012 của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre ghi nhận thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 85% trong tổng cơ cấu các khoản thu ngân sách địa phương. Mặc dù đóng góp ngân sách hàng năm tăng trưởng trung bình từ 8% đến 12%, có tới 80% doanh nghiệp tư nhân được khảo sát khẳng định các chính sách ưu đãi thuế hiện nay chưa tạo được đòn bẩy tài chính đủ mạnh để họ mạnh dạn đổi mới thiết bị.
Cơ cấu sản phẩm của ngành chế biến dừa Bến Tre thể hiện sự mất cân đối rõ rệt: các mặt hàng sơ chế có giá trị gia tăng thấp như xơ dừa, chỉ xơ dừa, mụn dừa thô và than thiêu kết chiếm tới hơn 60% tổng sản lượng sản xuất, nhưng chỉ đóng góp khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngược lại, các nhóm sản phẩm chế biến sâu có hàm lượng công nghệ cao như dầu dừa tinh khiết, sữa dừa đóng lon tiệt trùng và than hoạt tính chỉ chiếm chưa đầy 20% số lượng cơ sở sản xuất nhưng đem lại tỷ suất lợi nhuận trên 35% cho doanh nghiệp.
Thảo luận kết quả
Thực trạng chậm đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp chế biến dừa Bến Tre bắt nguồn từ việc chính sách thuế hiện hành chưa có sự phân hóa theo mức độ tinh xảo công nghệ của sản phẩm. Các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giai đoạn qua chủ yếu căn cứ vào địa bàn đầu tư hoặc quy mô lao động, mà chưa gắn liền trực tiếp với tỷ lệ khấu hao máy móc mới hay hàm lượng nghiên cứu và phát triển (R&D) kết tinh trong sản phẩm. Khi mức thuế suất áp dụng đồng đều giữa sản phẩm thô và sản phẩm tinh chế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng lựa chọn gia công thô để thu hồi vốn nhanh thay vì mạo hiểm đầu tư dây chuyền hiện đại có thời gian hoàn vốn kéo dài từ 5 đến 7 năm.
Toàn bộ các chuỗi dữ liệu thực nghiệm trong luận văn có thể được trực quan hóa thông qua Bảng 2.1 về số nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp nhỏ và vừa Bến Tre từ năm 2008 đến năm 2012, Bảng 2.4 về cơ cấu lao động ngành dừa, cùng Hình 2.5 và Hình 2.6 thể hiện biểu đồ cơ cấu xuất xứ máy móc và mức độ tự động hóa dây chuyền sản xuất. Kết quả thảo luận khẳng định giả thuyết nghiên cứu hoàn toàn xác đáng: cần thiết phải thiết lập cơ chế thuế suất nghịch đảo với trình độ công nghệ, lấy công cụ thuế làm đòn bẩy định hướng dòng vốn đầu tư vào các dây chuyền chế biến sâu nhằm tối ưu hóa giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên dừa bản địa.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tái cấu trúc biểu thuế suất theo nguyên tắc phân tầng nghịch đảo với trình độ công nghệ đối với các sản phẩm chế biến từ dừa. Cơ quan quản lý thuế cần áp dụng mức thuế suất 0% cho các sản phẩm chế biến ứng dụng công nghệ cao (như dầu dừa tinh luyện nguyên chất, bột sữa dừa sấy phun, than hoạt tính chất lượng cao); áp dụng mức thuế suất 5% cho các sản phẩm công nghệ trung bình (như kẹo dừa đóng gói tự động, thạch dừa tinh chế, cơm dừa nạo sấy đạt chuẩn HACCP); và áp thuế suất 10% đối với các mặt hàng dừa tươi thô, than hầm thủ công và phế phụ phẩm chưa qua sơ chế sâu nhằm hạn chế triệt để tình trạng xuất khẩu thô tài nguyên trước năm 2015.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế trích lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ Tài chính và Cục Thuế tỉnh Bến Tre cần hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm lập quỹ R&D, cho phép tính toàn bộ chi phí mua bản quyền công nghệ, thuê chuyên gia kỹ thuật và chuyển giao dây chuyền mới vào chi phí hợp lý được trừ khi xác định thuế Thu nhập doanh nghiệp, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 50% doanh nghiệp ngành dừa thành lập quỹ trước năm 2016.
Thứ ba, triển khai chính sách miễn 100% thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị hiện đại, dây chuyền kiểm soát chất lượng tự động chưa sản xuất được trong nước phục vụ trực tiếp cho ngành chế biến dừa trong giai đoạn 2014-2018. Đồng thời, áp dụng cơ chế khấu hao nhanh tài sản cố định đối với thiết bị công nghệ mới nhập khẩu từ các quốc gia công nghiệp phát triển nhằm rút ngắn chu kỳ thu hồi vốn cho doanh nghiệp.
Thứ tư, thống nhất tiêu chí phân loại và thẩm định doanh nghiệp nhỏ và vừa giữa Thông tư số 16/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính và Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Việc xóa bỏ các điểm nghẽn hành chính trong thủ tục hoàn thuế và miễn giảm thuế sẽ tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bảo đảm 100% doanh nghiệp chế biến dừa có dự án nâng cấp công nghệ đều được thụ hưởng kịp thời các gói hỗ trợ tài khóa của Nhà nước.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thuế: Bao gồm Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Sở Tài chính tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung lý luận vững chắc giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng biểu thuế suất linh hoạt, cân đối hài hòa giữa nhiệm vụ động viên nguồn thu cho ngân sách với mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu bền vững thông qua hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
Ban lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp chế biến dừa: Cung cấp góc nhìn chiến lược về phương thức tối ưu hóa chi phí vận hành thông qua các ưu đãi tài khóa, kỹ năng quản trị công nghệ, tận dụng quỹ phát triển khoa học công nghệ nội bộ để chuyển dịch mô hình sản xuất từ gia công sản phẩm thô sang xuất khẩu các dòng sản phẩm dừa tinh chế có biên lợi nhuận cao.
Các nhà khoa học, giảng viên và học viên chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, cung cấp mô hình phân tích tác động vi mô của công cụ chính sách thuế đối với hành vi đổi mới công nghệ của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một vùng kinh tế nông nghiệp đặc thù.
Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: Khung chính sách và các bài học kinh nghiệm trong luận văn có thể được nhân rộng và chuyển giao để xây dựng đề án khuyến khích đổi mới công nghệ cho các chuỗi giá trị nông - thủy sản chủ lực khác như chế biến lúa gạo, cây ăn trái và thủy hải sản xuất khẩu.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao công cụ thuế suất lại có vai trò quyết định đối với đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành dừa?
Thuế suất tác động trực tiếp đến dòng tiền tích lũy và tỷ suất sinh lời của hơn 80% doanh nghiệp tư nhân vốn có quy mô tài chính hạn chế. Việc điều chỉnh giảm thuế suất cho các sản phẩm công nghệ cao giúp giải phóng nguồn vốn lưu động, giảm bớt rủi ro tài chính khi đầu tư thiết bị mới và kích thích doanh nghiệp tự giác chuyển giao công nghệ hiện đại.
Giả thuyết cốt lõi về mối quan hệ giữa thuế suất và trình độ công nghệ trong luận văn là gì?
Nghiên cứu xác lập nguyên tắc tỷ lệ nghịch: trình độ công nghệ càng cao thì thuế suất càng giảm. Cụ thể, sản phẩm công nghệ cao áp dụng thuế suất 0%, công nghệ trung bình áp dụng 5%, và sản phẩm tươi thô sơ chế áp dụng 10% nhằm điều tiết hành vi của doanh nghiệp hướng vào chế biến sâu.
Quy mô khảo sát 30 doanh nghiệp tại Bến Tre có bảo đảm tính đại diện khoa học không?
Cỡ mẫu 30 trên tổng số 116 doanh nghiệp đạt tỷ lệ đại diện 25,86%, bao quát đầy đủ 3 loại hình sở hữu và toàn bộ 8 phân nhóm sản phẩm dừa của tỉnh Bến Tre. Kết hợp với phỏng vấn sâu 10 cán bộ thuế và 3 sở ngành chuyên trách, dữ liệu thu thập bảo đảm tính xác thực và giá trị đại diện cao.
Rào cản lớn nhất khiến các doanh nghiệp chế biến dừa Bến Tre chậm đổi mới công nghệ là gì?
Rào cản lớn nhất là năng lực vốn tự có mỏng kết hợp với việc hơn 65% dây chuyền sản xuất thuộc thế hệ cũ bán tự động. Thêm vào đó, chính sách thuế giai đoạn 2008-2012 chưa gắn ưu đãi với tiêu chuẩn công nghệ của sản phẩm, khiến doanh nghiệp thiếu động lực đầu tư chiều sâu.
Doanh nghiệp chế biến dừa cần làm gì để tận dụng tối đa chính sách thuế cho hoạt động đổi mới công nghệ?
Doanh nghiệp cần chủ động trích lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tối đa 10% thu nhập tính thuế, đồng thời chuyển đổi dây chuyền sang các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao như dầu dừa tinh khiết hoặc than hoạt tính để hưởng thuế suất ưu đãi 0%, nâng cao tỷ suất lợi nhuận lên trên 35%.
Kết luận
- Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về tác động điều tiết của công cụ thuế suất đối với hoạt động đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Phản ánh trung thực bức tranh công nghệ ngành chế biến dừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2001-2011 với hơn 70% máy móc lạc hậu và đề xuất mô hình phân tầng thuế suất 0% - 5% - 10%.
- Đưa ra hệ thống giải pháp tài khóa đồng bộ giúp chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ 60% nguyên liệu thô sang các dòng sản phẩm tinh chế có giá trị gia tăng vượt trội.
- Vận dụng thành công mô hình năng lực cạnh tranh của Michael Porter vào việc giải quyết bài toán hiện đại hóa công nghệ nông nghiệp địa phương theo lộ trình 2014-2020.
- Kêu góp các cấp quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp khẩn trương thể chế hóa các chính sách thuế suất ưu đãi để nâng tầm chuỗi giá trị dừa Bến Tre trên thị trường quốc tế.