Kết quả điều trị bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích kết quả điều trị bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, cung cấp thông tin giá trị.

Trường đại học

Trường Đại học Y Dược

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn bác sỹ nội trú

2018

108
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của xơ gan

1.2. Phân loại bệnh não gan

1.3. Các nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.3. Kỹ thuật thu thập số liệu

2.4. Xử lý số liệu

2.5. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

2.6. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.3. Kết quả điều trị về lâm sàng và cận lâm sàng

3.4. Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm về lâm sàng

4.3. Đặc điểm cận lâm sàng về huyết học

4.4. Đặc điểm cận lâm sàng về sinh hóa

4.5. Hiệu quả của Lactose kết hợp với LOLA trong điều trị bệnh xơ gan có biến chứng não gan

4.6. Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kết quả điều trị bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan

Bệnh não gan là một biến chứng nghiêm trọng của xơ gan, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tỷ lệ sống sót của bệnh nhân. Tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều trị bệnh não gan có thể cải thiện đáng kể tình trạng của bệnh nhân. Các phương pháp điều trị hiện tại bao gồm sử dụng Lactulose và L-ornithine L-aspartate (LOLA), giúp giảm nồng độ ammoniac trong máu và cải thiện chức năng gan.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân xơ gan mắc bệnh não gan

Bệnh nhân xơ gan thường có triệu chứng lâm sàng đa dạng, từ mệt mỏi, chán ăn đến rối loạn ý thức. Tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh não gan chiếm khoảng 30-45% trong số bệnh nhân xơ gan. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có phương pháp điều trị kịp thời.

1.2. Tầm quan trọng của việc điều trị bệnh não gan

Điều trị bệnh não gan không chỉ giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mà còn giảm tỷ lệ tử vong. Việc sử dụng các thuốc như Lactulose và LOLA đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân xơ gan.

II. Thách thức trong điều trị bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị, nhưng việc điều trị bệnh não gan vẫn gặp nhiều thách thức. Tình trạng bệnh nhân thường phức tạp, với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc theo dõi và điều chỉnh liều lượng thuốc là rất cần thiết để đạt được hiệu quả tối ưu.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, mức độ xơ gan và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân lớn tuổi có xu hướng phản ứng kém hơn với các phương pháp điều trị hiện tại.

2.2. Khó khăn trong việc chẩn đoán sớm bệnh não gan

Chẩn đoán sớm bệnh não gan là một thách thức lớn do triệu chứng ban đầu thường không rõ ràng. Việc thiếu các phương pháp chẩn đoán chính xác có thể dẫn đến việc điều trị muộn, làm giảm khả năng hồi phục của bệnh nhân.

III. Phương pháp điều trị bệnh não gan hiệu quả tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã áp dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau cho bệnh nhân mắc bệnh não gan. Việc kết hợp giữa Lactulose và LOLA đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm triệu chứng và cải thiện tình trạng bệnh nhân.

3.1. Sử dụng Lactulose trong điều trị bệnh não gan

Lactulose là một loại thuốc nhuận tràng giúp giảm nồng độ ammoniac trong máu. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng Lactulose có thể cải thiện tình trạng ý thức của bệnh nhân mắc bệnh não gan, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

3.2. Vai trò của L ornithine L aspartate LOLA

LOLA được sử dụng để tăng cường quá trình chuyển hóa ammoniac, giúp giảm nồng độ ammoniac trong máu. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy rằng LOLA có thể cải thiện đáng kể tình trạng bệnh nhân mắc bệnh não gan.

IV. Kết quả nghiên cứu về điều trị bệnh não gan tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc điều trị bệnh não gan bằng Lactulose và LOLA đã mang lại những cải thiện rõ rệt cho bệnh nhân. Tỷ lệ hồi phục và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đã được nâng cao đáng kể.

4.1. Tỷ lệ hồi phục của bệnh nhân sau điều trị

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hồi phục của bệnh nhân mắc bệnh não gan sau khi điều trị bằng Lactulose và LOLA đạt khoảng 60%. Điều này cho thấy hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện tại trong việc cải thiện tình trạng bệnh nhân.

4.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau điều trị cũng được cải thiện rõ rệt. Nhiều bệnh nhân đã báo cáo giảm triệu chứng và cảm thấy khỏe mạnh hơn sau khi áp dụng các phương pháp điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị bệnh não gan

Điều trị bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương pháp điều trị để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân.

5.1. Tương lai của điều trị bệnh não gan

Trong tương lai, việc nghiên cứu các phương pháp điều trị mới và cải tiến các phương pháp hiện tại sẽ là cần thiết. Các nghiên cứu lâm sàng tiếp theo sẽ giúp xác định rõ hơn về hiệu quả và độ an toàn của các phương pháp điều trị mới.

5.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục bệnh nhân

Giáo dục bệnh nhân về bệnh não gan và các phương pháp điều trị là rất quan trọng. Việc nâng cao nhận thức của bệnh nhân sẽ giúp họ tuân thủ điều trị tốt hơn và cải thiện chất lượng cuộc sống.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay kết quả điều trị bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của xơ gan 1. Tổng quan về dịch tễ Theo nghiên cứu của viện cộng đồng quốc gia Mỹ, tỷ lệ xơ gan năm 1981 là 12,3/10.000 dân, năm 1991 là 26/10.000 dân, trong đó 65% bệnh nhân xơ gan do rượu [73]. Xơ gan vẫn là một bệnh còn tương đối phổ biến ở Việt Nam và thế giới, theo thống kê trước đây ở bệnh viện Bạch Mai xơ gan chiếm 37% trong các bệnh gan mật.

Trong vòng 15 năm gần đây tỷ lệ tử vong do xơ gan tăng cao, theo tài liệu của tổ chức Y Tế thế giới năm 1978, tỷ lệ tử vong do xơ gan ở các nước đang phát triển là 10-20/10. Ở Vương quốc Anh xơ gan là nguyên nhân của 6.000 người chết hàng năm. Ở Pháp tần xuất xơ gan có triệu chứng là 3000/ 1 triệu dân, trong đó do rượu vang chiếm đa số. Tỷ lệ tử vong do xơ gan là 300 người/ 1 triệu dân hàng năm.

Tỷ lệ sống sót 5 năm của bệnh nhân xơ gan do cồn và xơ gan không do rượu lần lượt là 36 %, 14%. Ở Đông Nam Á, vùng Sahara Châu Phi, khoảng 15% dân số nhiễm viên gan B, C trong đó 25% dẫn đến xơ gan [63], [65]. Xơ gan là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 8 ở nam và thứ 9 ở nữ giới, xơ gan gặp cả ở 2 giới nhưng nam gặp nhiều hơn nữ, trong đó 65% xơ gan do rượu [47]. Một số nghiên cứu gần đây ở nước ta thấy tỷ lệ nam: nữ gần bằng 3:1, Tỷ lệ mắc xơ gan ở nam giới thường cao hơn so với nữ giới và tỷ lệ nam: nữ cũng khác nhau giữa các quốc gia ở các khu vực khác nhau.

Tại Trung Quốc, tỷ lệ nam: nữ mắc xơ gan là 4,9: 1. Tại Anh tỷ lệ này là 1,52: 1. Ở Hàn Quốc, số bệnh nhân mắc xơ gan đối với nam cũng cao hơn 50% so với nữ [22],[37],[55]. Tuổi trung bình của bệnh nhân ở nước ta từ 40-50 tuổi, ở các nước châu Âu 55-59; tuổi trung bình ở nước ta sớm hơn ở các nước châu Âu [55].

Xơ gan ít phổ biến với những người dưới 20 tuổi. Tại Trung Quốc tuổi trung bình của tất cả các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bệnh nhân là 50,5 ± 13 năm tại thời điểm chẩn đoán. Theo một nghiên cứu xơ gan xảy ra với tỷ lệ cao ở lứa tuổi từ 45 -64 và 2 loại chủ yếu là xơ gan do rượu và xơ gan do vi rút: 63% ở người > 60 tuổi, 27% ở người trẻ. Một nghiên cứu ở 306 bệnh nhân viêm gan virus C mạn tính thì 39% trở thành xơ gan ở những người trên 50 tuổi và 19% ở những người dưới 50 tuổi [44],[62].

Định nghĩa Xơ gan là hậu quả của rất nhiều tổn thương mạn tính dẫn tới huỷ hoại tế bào gan, tăng sinh tổ chức xơ, tăng sinh tái tạo từ những tế bào gan lành và do đó làm đảo lộn hoàn toàn cấu trúc của gan: các bè tế bào gan không còn mối liên hệ bình thường với mạng lưới mạch máu và đường mật nên gan không bảo đảm được chức năng bình thường của nó [9]. Triệu chứng của xơ gan Do gan tham gia vào rất nhiều chức năng: chuyển hoá các acid amin, cacbonhydrat, tổng hợp cholesterol este, tổng hợp và thoái hoá các protein và glucoprotein (các yếu tố đông máu), chuyển hoá thuốc, hormon, khử độc…; vì vậy khi chức năng gan bị rối loạn sẽ xuất hiện các biểu hiện trên lâm sàng và cận lâm sàng [9],[11]. Triệu chứng lâm sàng [1],[4],[8],[9],[11]. Về lâm sàng xơ gan ở 3 giai đoạn: Xơ gan tiềm tàng – Xơ gan còn bù – Xơ gan mất bù + Xơ gan tiềm tàng: Xơ gan ở giai đoạn này thường không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ thông qua một can thiệp vào ổ bụng vì nguyên nhân khác.

+ Giai đoạn còn bù: bệnh thường có triệu chứng không đặc hiệu: chỉ thấy mệt mỏi, gầy sút, kém ăn, rối loạn tiêu hoá, giãn vi mạch dưới da. + Giai đoạn mất bù: giai đoạn này biểu hiện bằng hai hội chứng lớn là hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa và hội chứng suy chức năng gan. Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Cổ trướng tự do dịch thấm, lượng albumin thấp dưới 30g/l.

- Lách to do ứ máu, từ đó có thể gây giảm tế bào máu, nhất là giảm số lượng và độ tập trung tiểu cầu. - Giãn các tĩnh mạch ở vòng nối cửa chủ, tuần hoàn bàng hệ kiểu gánh chủ, đặc biệt gây giãn tĩnh mạch thực quản, rất nguy hiểm do có thể vỡ gây chảy máu ồ ạt dễ dẫn đến tử vong do mất máu và hôn mê gan. Hội chứng suy chức năng gan: - Rối loạn tiêu hoá, chán ăn, sợ mỡ, phân táo hoặc lỏng. - Phù 2 chi hoặc phù toàn thân kèm theo cổ chướng.

- Xuất huyết dưới da, niêm mạc. - Giãn các mao mạch dưới da (sao mạch, bàn tay son). - Vàng da, xạm da do chèn ép ống mật và bilirubin tự do không liên hợp được, khi có vàng da thường thể hiện đợt tiến triển nặng của bệnh. - Rối loạn chuyển hoá gluxit, lipit, protit biểu hiện: chóng mệt mỏi, có cơn hạ đường huyết, da khô, bong vảy, lông tóc móng dễ rụng, gẫy, trí nhớ giảm, mất ngủ đêm, giảm tình dục.

Giai đoạn muộn: tiền hôn mê, hôn mê gan [41]. - Khám gan thấy gan teo nhỏ hoặc to, thường là teo nhỏ, bờ sắc, không đều, mặt gồ ghề do tăng sinh các u cục. Triệu chứng cận lâm sàng [4], [9]. - Bilirubin máu tăng khi có vàng da chủ yếu là trực tiếp.

- Điện di Protein: albumine giảm, tỷ lệ A/G đảo ngược. Trong suy gan albumine giảm nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mức độ tổn thương tế bào, song albumine không phải là xét nghiệm đặc hiệu với bệnh gan mạn tính vì nó có thể giảm do suy dinh dưỡng, do mất albumine qua đường tiêu hoá, hoặc qua đường nước tiểu (bệnh về thận). - Suy gan: tỷ lệ prothrombin máu giảm - Siêu âm ổ bụng thấy gan teo, màu nhợt, loang lổ, bờ mỏng và vểnh lên, mặt gồ ghề có cục, tuần hoàn bàng hệ, dây chằng tròn xung huyết, sinh thiết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 gan làm xét nghiệm mô bệnh học thấy hình ảnh của xơ gan là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán. Tuy nhiên sinh thiết gan chỉ đặt ra khi chưa có chẩn đoán chính xác hay cần chẩn đoán phân biệt với K gan hoặc viêm gan mạn tính.

Ngoài ra còn một số phương pháp đo độ đàn hồi của gan: một phương pháp mới không xâm nhập để định lượng xơ hoá gan hoặc phát hiện bệnh nhân nhiễm vius viêm gan B bằng kỹ thuật Seminested Polymenase Chain Reacsion có thể cung cấp thêm tư liệu liên quan cho các vấn đề sâu hơn khi nghiên cứu về xơ gan [66]. Chẩn đoán xơ gan Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xơ gan là sinh thiết gan. Sinh thiết thực sự không cần thiết nếu dữ liệu lâm sàng, và cận lâm sàng cho thấy xơ gan rõ ràng. Tuy nhiên, có một biến chứng nhỏ nhưng rất đáng kể của sinh thiết gan, và bản thân xơ gan chính xu thế cho các biến chứng gây ra bởi sinh thiết gan [72].

Chẩn đoán mức độ xơ gan theo Child- Pugh: Mức độ của bệnh xơ gan thường được phân loại với điểm Child-Pugh, Hệ thống này được đưa ra vào năm 1964 bởi Child và được sửa đổi vào năm 1973 bởi Pugh [60]. Bảng phân loại xơ gan theo Child-Pugh Điểm 1 điểm 2 điểm 3 điểm Tiêu chuẩn đánh giá Bilirubin huyết thanh (μmol/l) < 26 26 – 51 > 51 Albumin huyết thanh (g/l) >35 35 - 28 < 28 Prothrombin (%) >65 40 - 65 < 40 Hội chứng não-gan Không có Kín đáo Hôn mê Cổ trướng Không có Ít Nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Dựa vào cách cho điểm theo Child- Pugh thì nếu: Child – Pugh A: 5 – 6 điểm, tiên tượng tốt, xơ gan còn bù. Child – Pugh B: 7 – 9 điểm, tiên lượng dè dặt. Child – Pugh C: 10 – 15 điểm, tiên tượng xấu.

Child – Pugh B-C: xơ gan mất bù. Các biến chứng xơ gan [9],[10],[11]. Khi bệnh xơ gan tiến triển dễ xảy ra các biến chứng: - Thâm tím và dễ chảy máu, do giảm sút sự sản xuất các yếu tố đông máu - Vàng da do sự giảm sút chế biến chất bilirubin. - Ngứa do tích lũy ở da các sản phẩm của mật.

- Sự nhậy cảm với thuốc do sự chuyển hóa giảm sút. - Tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Máu bình thường đi từ ruột và lá lách qua tĩnh mạch cửa bị cản trở, chảy chậm lại và huyết áp cửa tăng lên, gây các biến chứng sau đây: + Cổ trướng: Từ cổ trướng thường tiến tới cổ trướng trơ, khó chữa. + Giãn tĩnh mạch thực quản, dạ dày tá tràng ( thực quản là chính). Các mạch máu bị giãn này có thể giãn to lên và vỡ ra, gây xuất huyết tiêu hóa.

XHTH do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, tĩnh mạch dạ dày: Đây là một biến chứng hay gặp, tiên lượng rất nặng và có tỷ lệ tử vong cao. Có nhiều cách phân loại giãn tĩnh mạch thực quản, cách phân loại của hội nội soi Nhật Bản được áp dụng khá phổ biến [13],[52]. + Độ I: búi giãn nhỏ, biến mất khi bơm hơi căng. + Độ II: các búi giãn tĩnh mạch trung bình, không biến mất khi bơm hơi, đường kính búi giãn 1/3 lòng thực quản, hầu như không còn niêm mạc lành giữa các búi giãn.

+ Độ IV: giãn tĩnh mạch chiếm hầu hết khẩu kính thực quản, niêm mạc lở loét. Biến chứng giãn tĩnh mạch thực quản có tỷ lệ chảy máu tái phát khá cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 (51%), thường sau mỗi lần chảy máu bệnh thêm nặng nề và việc điều trị trở nên khó khăn hơn. - Xu hướng dễ bị nhiễm khuẩn, vì hệ thống miễn dịch thường giảm trong xơ gan. - Nhiễm khuẩn dịch cổ trướng với những vi khuẩn vẫn có ở ruột (viêm phúc mạc nhiễm khuẩn tự phát, SBP).

- Hội chứng gan thận: Máu tưới vào thận bị giảm sút, làm suy thận cấp, tỷ lệ tử vong cao. - Hội chứng gan phổi: Máu rẽ tắt dòng qua phổi giảm dẫn đến hội chứng xanh tím và khó thở. Hệ thống tuần hoàn trong phổi cũng bị giãn. Hội chứng này có thể gặp ở 4- 29% bệnh nhân bị xơ gan.

- Tăng áp lực cửa phổi: Áp lực trên huyết áp phổi tăng do ảnh hưởng của tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết quả điều trị bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả điều trị bệnh não gan, một biến chứng nghiêm trọng của xơ gan. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các phương pháp điều trị đã được áp dụng mà còn phân tích kết quả và những yếu tố ảnh hưởng đến sự hồi phục của bệnh nhân. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về cách thức quản lý và điều trị bệnh não gan, từ đó nâng cao hiểu biết và khả năng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân xơ gan.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến bệnh gan, bạn có thể tham khảo tài liệu Bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân gan mạn, nơi cung cấp thông tin về các yếu tố nguy cơ và triệu chứng của suy gan cấp. Ngoài ra, tài liệu Luận văn nghiên cứu kháng insulin trên bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bệnh gan nhiễm mỡ, một vấn đề ngày càng phổ biến trong cộng đồng. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về các bệnh lý gan và phương pháp điều trị hiệu quả.