Bệnh Cảnh Lâm Sàng Và Các Yếu Tố Thúc Đẩy Suy Gan Cấp Ở Bệnh Nhân Bệnh Gan Mạn

Tài liệu nghiên cứu Bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân gan mạn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2016

108
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về bệnh gan mạn

1.2. Tổng quan về suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn

1.3. Một số yếu tố nguy cơ tiên lượng tử vong trong thời gian nằm viện

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn chọn mẫu

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Phương pháp tiến hành

2.6. Các biến số nghiên cứu

2.7. Một số tiêu chuẩn chẩn đoán trong nghiên cứu

2.8. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung của suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn

3.2. Đặc điểm lâm sàng chung

3.3. Đặc điểm cận lâm sàng

3.4. Đặc điểm về bệnh gan mạn và yếu tố thúc đẩy SGCBGM

3.5. Đặc điểm suy cơ quan và kết quả điều trị

3.6. Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tử vong trong thời gian nằm viện

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của SCGBGM

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng SGCBGM

4.3. Đặc điểm về bệnh gan mạn và yếu tố thúc đẩy

4.4. Khảo sát một số yếu tố nguy cơ tử vong trong thời gian nằm viện

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Phiếu thu thập số liệu

Phụ lục 2: Mục tên thuốc có thể gây tổn thương gan

Phụ lục 3: Danh sách bệnh nhân nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Suy Gan Cấp Trên Nền Bệnh Gan Mạn SGCBGM

Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy gan rất cao. Suy gan có thể xảy ra trên bệnh nhân không mắc bệnh gan trước đó (suy gan cấp) hoặc trên nền bệnh gan mạn đã biết hoặc không biết. Suy gan cấp trên nền bệnh gan mạn (SGCBGM) có nhiều nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng đa dạng và tỷ lệ tử vong cao. SGCBGM thường xảy ra trên nền bệnh nhân xơ gan với bệnh cảnh lâm sàng khác biệt từ cơ chế bệnh sinh, đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân và thường liên quan đến yếu tố thúc đẩy. SGCBGM cũng có thể xảy ra trên cả viêm gan mạn và xơ gan, thậm chí gây mất bù chức năng gan nhanh chóng trầm trọng với suy cơ quan khác ngoài gan. Theo APASL, SGCBGM được định nghĩa là tình trạng tổn thương gan cấp trầm trọng diễn tiến trong 4 tuần như vàng da, rối loạn đông máu, có biến chứng báng bụng và/hoặc bệnh não gan trên bệnh nhân đã được chẩn đoán hoặc không được chẩn đoán bệnh gan mạn.

1.1. Định Nghĩa và Tầm Quan Trọng của SGCBGM

Suy gan cấp trên nền bệnh gan mạn (SGCBGM) là một hội chứng lâm sàng nghiêm trọng. Nó xảy ra khi bệnh nhân có bệnh gan mạn tính trải qua sự suy giảm chức năng gan đột ngột. Điều này dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như rối loạn đông máu, bệnh não gan và suy đa tạng. Tỷ lệ tử vong của SGCBGM rất cao, đặc biệt nếu không được điều trị kịp thời. Việc chẩn đoán và can thiệp sớm là rất quan trọng để cải thiện kết quả cho bệnh nhân. Nghiên cứu về SGCBGM giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ, từ đó phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

1.2. Dịch Tễ Học và Gánh Nặng Bệnh Tật của SGCBGM

Tần suất SGCBGM chiếm khoảng 10-30% tổng bệnh nhân có bệnh gan mạn nhập viện. Bệnh cảnh lâm sàng của SGCBGM diễn tiến nhanh, dẫn đến suy đa cơ quan và tỷ lệ tử vong ngắn hạn và trung hạn cao từ 50-90% phụ thuộc số lượng suy cơ quan mà không có phương tiện hỗ trợ và/hoặc ghép gan. Xơ gan đứng hàng thứ 6 trong các nguyên nhân gây tử vong ở người trưởng thành ở nước phát triển và đứng hàng thứ 9 ở nước đang phát triển. Ở Hoa kỳ, hằng năm có khoảng 35.000 người tử vong vì bệnh gan mạn bao gồm cả viêm gan mạn và xơ gan.

II. Các Nguyên Nhân Suy Gan Cấp Ở Bệnh Nhân Gan Mạn Tại TP

Nhiều nghiên cứu cho thấy nguyên nhân bệnh gan mạn trong SGCBGM thường gặp là VGSV B, Rượu, VGSV C và nguyên nhân khác như viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, bệnh Wilson, viêm gan tự miễn. Tại Châu Âu, bốn nguyên nhân chính gây bệnh gan mạn bao gồm cả xơ gan và ung thư gan là do rượu, VGSV C, VGSV B và viêm gan nhiễm mỡ không do rượu. Viêm gan do siêu vi là nguyên nhân thường gặp ở các nước Châu Á, trong đó VGSV B chiếm tỉ lệ đa số. Tại Việt Nam, Việt Nam được xếp vào vùng dịch tễ lưu hành cao của VGSV B, một số nghiên cứu cho thấy VGSV B mạn chiếm tỉ lệ 10-20%.

2.1. Vai Trò của Viêm Gan Siêu Vi B C và Rượu

Viêm gan siêu vi B (VGSV B) và viêm gan siêu vi C (VGSV C) là những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh gan mạn tính trên toàn thế giới. Nhiễm trùng mạn tính với các loại virus này có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Rượu cũng là một yếu tố quan trọng, đặc biệt ở các nước phương Tây. Uống rượu quá mức có thể gây tổn thương gan trực tiếp và làm tăng nguy cơ phát triển SGCBGM ở những người đã mắc bệnh gan mạn tính.

2.2. Các Nguyên Nhân Ít Gặp Hơn Của Suy Gan Cấp

Ngoài VGSV B, C và rượu, còn có một số nguyên nhân ít gặp hơn có thể gây SGCBGM. Chúng bao gồm viêm gan tự miễn, bệnh Wilson (rối loạn chuyển hóa đồng), bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) và các bệnh di truyền khác. Các yếu tố độc hại như thuốc và hóa chất cũng có thể gây tổn thương gan và dẫn đến SGCBGM. Việc xác định nguyên nhân cụ thể là rất quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

III. Yếu Tố Thúc Đẩy Suy Gan Cấp Ở Bệnh Nhân Gan Mạn Tại TP

Bệnh nhân bị bệnh gan mạn có thể bị mất bù cấp, thường do sự hiện của yếu tố thúc đẩy làm tổn thương gan trực tiếp (YTTĐTT) hoặc gián tiếp (YTTĐGT). YTTĐTT bao gồm VGSV A cấp, VGSV E cấp, VGSV B mạn tái hoạt động, do rượu hoặc dùng thuốc gây độc gan, còn YTTĐGT bao gồm nhiễm trùng, XHTH trên do vỡ TMTQ dãn hoặc phẫu thuật. Rượu và nhiễm trùng là yếu tố thúc đẩy thường gặp ở các nước châu Âu, VGSV B mạn tái hoạt động thường gặp nhất ở Châu Á. Một số yếu tố thúc đẩy khác như XHTH do vỡ dãn TMTQ, nhiễm trùng, phẫu thuật, đợt bùng phát viêm gan tự miễn.

3.1. Nhiễm Trùng và Xuất Huyết Tiêu Hóa Yếu Tố Thúc Đẩy Quan Trọng

Nhiễm trùng là một trong những yếu tố thúc đẩy phổ biến nhất của SGCBGM. Nhiễm trùng có thể gây ra tình trạng viêm toàn thân và làm tăng tổn thương gan. Xuất huyết tiêu hóa, đặc biệt là do vỡ tĩnh mạch thực quản, cũng là một yếu tố thúc đẩy quan trọng. Mất máu đột ngột có thể làm giảm lưu lượng máu đến gan và gây ra suy gan cấp.

3.2. Tái Hoạt Động Viêm Gan B và Các Yếu Tố Thúc Đẩy Khác

Tái hoạt động viêm gan B là một yếu tố thúc đẩy quan trọng ở những bệnh nhân có bệnh gan mạn tính do VGSV B. Tái hoạt động có thể xảy ra khi bệnh nhân ngừng điều trị kháng virus hoặc khi hệ miễn dịch của họ bị suy yếu. Các yếu tố thúc đẩy khác bao gồm phẫu thuật, sử dụng thuốc gây độc cho gan và các bệnh lý đồng mắc khác.

IV. Đánh Giá Mức Độ Suy Gan và Tiên Lượng Tử Vong ở TP

Do tỉ lệ tử vong của SGCBGM cao nên nhiều nghiên cứu về thang điểm tiên lượng nhằm đánh giá giá trị tiên lượng tử vong để đưa ra quyết định điều trị đúng thời điểm. Mới đây, EASL- CLIF khuyến cáo rằng thang điểm CLIF-SOFA rất tốt trong tiên lượng xơ gan mất bù cấp và SGCBGM. Theo khuyến cáo của APASL 2014, SGCBGM liên quan VGSV B: thang điểm MELD có giá trị tốt trong tiên lượng có AUC 0,7-0,84; còn ở bệnh nhân xơ gan nặng nhập Khoa săn sóc đặc biệt có suy đa cơ quan: thang điểm SOFA có giá trị tốt trong tiên lượng dự hậu với AUC là 0,84.

4.1. Thang Điểm MELD và Child Pugh Công Cụ Đánh Giá Tiên Lượng

Thang điểm MELD (Model for End-Stage Liver Disease) và thang điểm Child-Pugh là hai công cụ phổ biến nhất để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh gan mạn tính và tiên lượng tử vong. Thang điểm MELD dựa trên các xét nghiệm máu như bilirubin, creatinine và INR. Thang điểm Child-Pugh dựa trên các yếu tố lâm sàng như báng bụng, bệnh não gan và bilirubin. Cả hai thang điểm đều có thể giúp các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị và xác định bệnh nhân nào cần ghép gan.

4.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ Tử Vong Trong Thời Gian Nằm Viện

Nghiên cứu hệ thống lại các yếu tố nguy cơ tiên lượng tử vong SGCBGM: phân tích trên 2.382 nghiên cứu về SGCBGM, kết quả cho thấy các yếu nguy cơ có liên quan đến tiên lượng tử vong thường được nghiên cứu bao gồm những yếu tố: tuổi, giới, bệnh não gan, HBV DNA, HBeAg, bilirubin TP/HT, INR, thời gian PT, albumin/HT, creatinine/HT, độ chênh áp tĩnh mạch gan, xơ hóa gan, thể Mallory, thang điểm MELD, thang điểm Child-Pugh và thang điểm SOFA.

V. Điều Trị Suy Gan Cấp Ở Bệnh Nhân Gan Mạn Phác Đồ Mới Nhất

Điều trị SGCBGM bao gồm điều trị nguyên nhân, hỗ trợ chức năng gan và điều trị các biến chứng. Điều trị nguyên nhân bao gồm sử dụng thuốc kháng virus cho viêm gan siêu vi, ngừng uống rượu và sử dụng thuốc giải độc gan. Hỗ trợ chức năng gan bao gồm sử dụng thuốc lợi tiểu để giảm báng bụng, thuốc nhuận tràng để giảm bệnh não gan và truyền albumin để cải thiện chức năng đông máu. Điều trị các biến chứng bao gồm sử dụng kháng sinh cho nhiễm trùng và cầm máu cho xuất huyết tiêu hóa.

5.1. Điều Trị Nguyên Nhân và Hỗ Trợ Chức Năng Gan

Điều trị SGCBGM tập trung vào việc giải quyết nguyên nhân cơ bản và hỗ trợ chức năng gan. Điều này có thể bao gồm sử dụng thuốc kháng virus cho viêm gan siêu vi, ngừng uống rượu và sử dụng thuốc giải độc gan. Hỗ trợ chức năng gan có thể bao gồm sử dụng thuốc lợi tiểu để giảm báng bụng, thuốc nhuận tràng để giảm bệnh não gan và truyền albumin để cải thiện chức năng đông máu.

5.2. Ghép Gan Giải Pháp Cuối Cùng Cho Bệnh Nhân Suy Gan Cấp

Ghép gan là một lựa chọn điều trị cho những bệnh nhân SGCBGM không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Ghép gan có thể cải thiện đáng kể tỷ lệ sống sót và chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân này. Tuy nhiên, ghép gan là một thủ thuật phức tạp và có thể có các biến chứng.

VI. Nghiên Cứu Dịch Tễ Học Về Suy Gan Cấp Tại TP

Tại Việt Nam, chưa có số liệu nào về SGCBGM một cách hệ thống và do tính quan trọng của SGCBGM như đã mô tả ở trên nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu về “bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn” với mục tiêu như sau: Khảo sát bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn.

6.1. Đặc Điểm Lâm Sàng và Cận Lâm Sàng Của Bệnh Nhân

Nghiên cứu này sẽ mô tả chi tiết các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân SGCBGM tại TP.HCM. Điều này bao gồm các triệu chứng, dấu hiệu, kết quả xét nghiệm máu và hình ảnh học. Thông tin này sẽ giúp các bác sĩ chẩn đoán và điều trị SGCBGM hiệu quả hơn.

6.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ và Tiên Lượng Tử Vong

Nghiên cứu này cũng sẽ đánh giá các yếu tố nguy cơ tử vong ở bệnh nhân SGCBGM tại TP.HCM. Điều này bao gồm tuổi, giới tính, nguyên nhân gây bệnh, mức độ suy gan và các bệnh lý đồng mắc khác. Thông tin này sẽ giúp các bác sĩ tiên lượng bệnh và đưa ra quyết định điều trị phù hợp.

07/06/2025
Bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân gan mạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân có suy gan rất cao, suy gan có thể xảy ra trên bệnh nhân không mắc bệnh gan trƣớc đó (đƣợc gọi là suy gan cấp) hoặc trên nền bệnh gan mạn đã biết hoặc không biết hoặc mất bù dần của suy gan giai đoạn cuối (đƣợc gọi là suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn) [13]. Suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn (SGCBGM) có nhiều nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng đa dạng và tỉ lệ tử vong cao, thƣờng xảy ra trên nền bệnh nhân xơ gan với bệnh cảnh lâm sàng khác biệt từ cơ chế bệnh sinh, đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân và thƣờng liên quan đến yếu tố thúc đẩy. SGCBGM cũng có thể xảy ra trên cả viêm gan mạn và xơ gan, thậm chí gây mất bù chức năng gan nhanh chóng trầm trọng với suy cơ quan khác ngoài gan [47] Rƣợu và nhiễm trùng là yếu tố thúc đẩy thƣờng gặp ở các nƣớc châu Âu, VGSV B mạn tái hoạt động thƣờng gặp nhất ở Châu Á. Một số yếu tố thúc đẩy khác nhƣ XHTH do vỡ dãn TMTQ, nhiễm trùng, phẫu thuật, đợt bùng phát viêm gan tự miễn [6], [47], [56].

Nhiều nghiên cứu cho thấy nguyên nhân BGM trong SGCBGM thƣờng gặp là VGSV B, Rƣợu, VGSV C và nguyên nhân khác nhƣ viêm gan nhiễm mỡ không do rƣợu, bệnh Wilson, viêm gan tự miễn [51], [73], [89]. Mới đây, APASL đã đƣa ra khuyến cáo về SGCBGM, SGCBGM đƣợc định nghĩa là biểu hiện của tình trạng tổn thƣơng gan cấp trầm trọng diễn tiến trong 4 tuần nhƣ vàng da, rối loạn đông máu, có biến chứng báng bụng và/hoặc bệnh não gan trên bệnh nhân đã đƣợc chẩn đoán hoặc không đƣợc chẩn đoán bệnh gan mạn [86], [87]. Tuy nhiên, EASL và AASLD cũng đƣa ra khuyến cáo về SGCBGM với định nghĩa khác, SGCBGM đƣợc định nghĩa là một bệnh cảnh lâm sàng nặng cấp tính của bệnh gan mạn, thƣờng liên quan đến các yếu tố thúc đẩy và làm tăng tỉ lệ tử vong trong vòng 3 tháng do suy đa cơ quan [6], [47], [86], [87]. 2 Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tần suất SGCBGM chiếm khoảng 10-30% tổng bệnh nhân có bệnh gan mạn nhập viện [73],[51], [56], [59], [70], [89].

Bệnh cảnh lâm sàng của SGCBGM diễn tiến nhanh, dẫn đến suy đa cơ quan và tỉ lệ tử vong ngắn hạn và trung hạn cao từ 50-90% phụ thuộc số lƣợng suy cơ quan mà không có phƣơng tiện hỗ trợ và/hoặc ghép gan [47], [56], [97]. Do tỉ lệ tử vong của SGCBGM cao nên nhiều nghiên cứu về thang điểm tiên lƣợng nhằm đánh giá giá trị tiên lƣợng tử vong để đƣa ra quyết định điều trị đúng thời điểm. Mới đây, EASL- CLIF khuyến cáo rằng thang điểm CLIF-SOFA rất tốt trong tiên lƣợng xơ gan mất bù cấp và SGCBGM. Theo khuyến cáo của APASL 2014, SGCBGM liên quan VGSV B: thang điểm MELD có giá trị tốt trong tiên lƣợng có AUC 0,7-0,84; còn ở bệnh nhân xơ gan nặng nhập Khoa săn sóc đặc biệt có suy đa cơ quan: thang điểm SOFA có giá trị tốt trong tiên lƣợng dự hậu với AUC là 0,84.

Trong khi đó, Duseja cho rằng thang điểm APACHE II có giá trị tốt hơn trong tiên lƣợng tử vong ở bệnh nhân SGCBGM [39], [58], [86], [87], [97]. Theo Wlodzimirow và cộng sự, nghiên cứu hệ thống lại các yếu tố nguy cơ tiên lƣợng tử vong SGCBGM: phân tích trên 2.382 nghiên cứu về SGCBGM, kết quả cho thấy các yếu nguy cơ có liên quan đến tiên lƣợng tử vong thƣờng đƣợc nghiên cứu bao gồm những yếu tố: tuổi, giới, bệnh não gan, HBV DNA, HBeAg, bilirubin TP/HT, INR, thời gian PT, albumin/HT, creatinine/HT, độ chênh áp tĩnh mạch gan, xơ hóa gan, thể Mallory, thang điểm MELD, thang điểm Child-Pugh và thang điểm SOFA [97]. Tại Việt Nam, chƣa có số liệu nào về SGCBGM một cách hệ thống và do tính quan trọng của SGCBGM nhƣ đã mô tả ở trên nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu về “bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn” với mục tiêu nhƣ sau:. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Khảo sát bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn.

MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn. Xác định yếu tố thúc đẩy suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn. Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tử vong trong thời gian nằm viện của suy gan cấp ở bệnh nhân bệnh gan mạn.

4 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh gan mạn 1.1 Định nghĩa và đặc điểm dịch tễ học Bệnh gan mạn đƣợc định nghĩa là tình trạng tổn thƣơng của gan ở nhiều mức độ, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó tình trạng viêm và hoại tử kéo dài liên tục ít nhất 6 tháng [53]. Tuy nhiên, bất cứ nguyên nhân nào của BGM cũng có thể dẫn đến biển đổi mô học của gan và suy gan mạn [64]. Sự biến đổi này thông qua 4 quá trình: [14] - Tổn thƣơng tế bào và thoái hóa; - Chết tế bào và hoại tử; - Gan tái cấu trúc ; - Xơ hóa. Xơ gan là hậu quả và là giai đoạn cuối của bệnh gan mạn, trong đó tế bào gan bị thoái hóa hoại tử và thay thế bởi những tế bào gan tái sinh và các dải xơ làm cấu trúc tiểu thùy gan bị thay đổi thành những nốt tái sinh không có chức năng [10], [14].

Ở bệnh nhân xơ gan, do liên quan với hiện tƣợng này làm tăng kháng lực mạch máu trong gan dẫn đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa và các biến chứng của nó nhƣ XHTH trên do vỡ TMTQ dãn và/hoặc báng bụng. Ngoài ra, chức năng chính của gan cũng bị suy giảm nhƣ chức năng miễn dịch nên làm tăng nhạy cảm với nhiễm trùng và đảo lộn chức năng chuyển hóa của gan [14]. Bệnh nhân bị bệnh gan mạn có thể bị mất bù cấp, thƣờng do sự hiện của yếu tố thúc đẩy làm tổn thƣơng gan trực tiếp (YTTĐTT) hoặc gián tiếp (YTTĐGT). YTTĐTT bao gồm VGSV A cấp, VGSV E cấp, VGSV B mạn tái hoạt động, do rƣợu hoặc dùng thuốc gây độc gan, còn YTTĐGT bao gồm nhiễm trùng, XHTH trên do vỡ TMTQ dãn hoặc phẫu thuật [63].

5 Xơ gan đứng hàng thứ 6 trong các nguyên nhân gây tử vong ở ngƣời trƣởng thành ở nƣớc phát triển và đứng hàng thứ 9 ở nƣớc đang phát triển. Ở Hoa kỳ, hằng năm có khoảng 35.000 ngƣời tử vong vì bệnh gan mạn bao gồm cả viêm gan mạn và xơ gan [73].2 Nguyên nhân Tại Châu Âu, theo khuyến cáo EASL năm 2013, bốn nguyên nhân chính gây bệnh gan mạn bao gồm cả xơ gan và ung thƣ gan là do rƣợu, VGSV C, VGSV B và viêm gan nhiễm mỡ không do rƣợu [25]. Viêm gan do siêu vi là nguyên nhân thƣờng gặp ở các nƣớc Châu Á, trong đó VGSV B chiếm tỉ lệ đa số. Ở Đông Nam Á và vùng Sahara châu Phi bị nhiễm siêu vi viêm gan B, C ngay cả khi còn nhỏ tuổi chiếm khoảng 15% dân, trong đó 25% dẫn đến xơ gan [66].

Theo xu hƣớng hiện này, ở các nƣớc Châu Á, nguyên nhân BGM do rƣợu là nguyên nhân đứng hang thứ 3 sau VGSV C, nhƣng một số nghiên cứu khác lại cho thấy nguyên nhân BGM do rƣợu chiếm tỉ lệ đa số [13], [57]. Một nghiên cứu ở Hàn Quốc năm 2012, khảo sát từ năm 2005 đến 2010 trên 6.307 bệnh nhân có bệnh lý gan, kết quả cho thấy VGM chiếm cao nhất là 62,7%. Trong đó, VGM do siêu vi viêm gan B, C chiếm 51,2%, NAFLD chiếm 33,3% và do rƣợu chiếm 13% [65]. Tại Việt Nam, Việt Nam đƣợc xếp vào vùng dịch tễ lƣu hành cao của VGSV B, một số nghiên cứu cho thấy VGSV B mạn chiếm tỉ lệ 10-20% [45] và trong bệnh lý gan chung bao gồm viêm gan cấp, viêm gan mạn, xơ gan, ung thƣ gan đều cho thấy do siêu vi viêm gan B chiếm tỉ lệ rất cao khoảng 31,2-47% [54], [93].

Đồng nhiễm VGSV B và VGSV C chiếm 7,7% [93]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ nhiễm siêu vi viêm gan C có thể lên đến 6,1% [74]. Một nghiên cứu lớn ở trong nƣớc cho thấy tỉ lệ nhiễm siêu vi viêm gan C thấp hơn là 2,89% và trong bệnh lý gan bao gồm viêm gan cấp, viêm gan mạn, xơ gan, ung thƣ gan cho thấy do siêu vi. 6 viêm gan C chiếm khoảng 19,2-23% [54], [93].

Rƣợu là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 sau VGSV B, VGSV C [45] Các nguyên nhân gây VGM có thể đƣợc phân loại nhƣ sau: [63] - Do siêu vi : siêu vi viêm gan B, C, D, Cytomegalo virus, Epstein Barr virus. - Do thuốc và độc tố: rƣợu, thuốc nhƣ Nitrofurantoin, Amiodarone, Methotrexate, Isoniazid, Methyldopa, Phenytoin… - Bệnh chuyển hóa: bệnh gan nhiễm mỡ không do rƣợu (Non-Alcoholic Fatty Liver Disease: NAFLD), bệnh ứ sắt di truyền (Hemochromatosis) và ứ đồng di truyền (bệnh Wilson) - Tự miễn: viêm gan tự miễn, viêm đƣờng mật xơ hóa nguyên phát, xơ gan ứ mật nguyên phát - Nguyên nhân khác: do ký sinh trùng, thiếu Alpha 1 antitrypsin.1 Chẩn đoán viêm gan mạn: Viêm gan mạn tồn tại mà không có triệu chứng nhiều năm. Có thể tiếp theo sau giai đoạn viêm gan cấp, triệu chứng vẫn cần kéo dài sau hơn 6 tháng [63]. - Hai phần ba trƣờng hợp VGM không có triệu chứng hoặc có các triệu chứng cơ năng mơ hồ nhƣ mệt mỏi, chán ăn… trừ khi diễn tiến đến XƠ GAN [1], [50].

Do đó, lâm sàng thƣờng không giúp ích để chẩn đoán VGM. - Cận lâm sàng: Aminotransferase tăng từ 1,5 - 5 lần, thƣờng dƣới 10 lần giới hạn bình thƣờng trên, kéo dài từ 6 tháng trở lên. ALP và GGT tăng nhẹ, bilirubin, albumin và INR thƣờng bình thƣờng trừ khi bệnh tiến triển hay nặng [50]. Siêu âm (SA), chụp cắt lớp điện toán (Computed Tomography: CT) hay chụp cộng hƣởng từ (Magnetic resonance imaging: MRI) gợi ý tình trạng VGM bằng.

7 các dấu hiệu thay đổi cấu trúc của gan. Biểu hiện mô học của VGM là sự thâm nhiễm tế bào viêm đơn nhân mà chủ yếu là tế bào lympho ở khoảng cửa [69]. - Xác định nguyên nhân : xét nghiệm nguyên thƣờng gặp [1], [63] - Viêm gan siêu vi: VGSV B (HBsAg, Anti-HBs), VGSV C (Anti-HCV), HDV (Anti-HDV, HBsAg), VGSV E ( Anti- HEV), EBV (Anti-EBV), CMV (Anti-CMV). - Viêm gan tự miễn : ANA, SMA, anti-LKM1 - Bệnh Wilson: Ceruloplasmin máu giảm, bình thƣờng 20-40 mg/ml, đồng trong nƣớc tiểu tăng cao, bình thƣờng <40 µg/24 giờ và vòng Kayser-Fleischer ở mắt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên Cứu Về Suy Gan Cấp Ở Bệnh Nhân Bệnh Gan Mạn Tại Thành Phố Hồ Chí Minh cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng suy gan cấp ở những bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố nguy cơ và triệu chứng của suy gan cấp mà còn đề xuất các phương pháp điều trị và quản lý hiệu quả. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về cách nhận diện sớm và can thiệp kịp thời, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Ngoài ra, để mở rộng kiến thức về lĩnh vực y tế, bạn có thể tham khảo tài liệu Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng tại bệnh viện truyền máu huyết học thành phố hồ chí minh năm 2020. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của điều dưỡng trong việc chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt là trong bối cảnh điều trị các bệnh lý nghiêm trọng như bệnh gan. Mỗi liên kết đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của y tế và chăm sóc sức khỏe.