Đền, Chùa, Đình Ở Huyện Đông Triều Tỉnh Quảng Ninh Thế Kỷ XX

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay đền chùa đình ở huyện đông triều tỉnh quảng ninh thế kỷ xx, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ nhân văn

2016

100
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Đối tượng nghiên cứu

0.3.2. Nhiệm vụ

0.3.3. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.4.1. Nguồn tư liệu

0.4.2. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp của luận văn

0.6. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Điều kiện tự nhiên

1.2. Lịch sử hành chính huyện Đông Triều

1.3. Thành phần dân cư

1.4. Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội

1.5. Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Đông Triều

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐỀN, CHÙA, ĐÌNH CỦA HUYỆN ĐÔNG TRIỀU THẾ KỶ XX

2.1. Hệ thống đền, chùa, đình của huyện Đông Triều

2.2. Số lượng và sự phân bố đền, chùa, đình

2.3. Niên đại của đền, chùa, đình ở Đông Triều

2.4. Các vị Thần, Phật được thờ cúng trong đền, chùa, đình huyện Đông Triều

2.5. Cảnh quan địa lý và kiến trúc của đền, chùa, đình

2.5.1. Cảnh quan địa lý

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI CỦA ĐỀN, CHÙA, ĐÌNH Ở HUYỆN ĐÔNG TRIỀU

3.1. Đền, chùa, đình là nơi lưu giữ dấu tích lịch sử

3.2. Giá trị văn hóa tâm linh

3.3. Giá trị du lịch gắn kết cộng đồng xã hội

3.4. Một số giải pháp về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích đền, chùa, đình ở huyện Đông Triều

3.5. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám Phá Đền Chùa Đình Ở Huyện Đông Triều Thế Kỷ XX

Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, nổi bật với hệ thống đền, chùa, đình phong phú, phản ánh sâu sắc văn hóa tâm linh của người dân nơi đây. Trong thế kỷ XX, các công trình này không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và văn hóa. Việc nghiên cứu về đền, chùa, đình ở Đông Triều giúp hiểu rõ hơn về di sản văn hóa và lịch sử của khu vực này.

1.1. Tổng Quan Về Đền Chùa Đình Ở Đông Triều

Đền, chùa, đình ở Đông Triều có niên đại từ lâu đời, với nhiều kiến trúc độc đáo. Các công trình này không chỉ mang giá trị tôn giáo mà còn là biểu tượng văn hóa của người dân địa phương. Nhiều ngôi đền, chùa đã được công nhận là di sản văn hóa, thu hút du khách và nghiên cứu.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Đền Chùa Đình Ở Đông Triều

Lịch sử hình thành các đền, chùa, đình ở Đông Triều gắn liền với sự phát triển của vùng đất này. Từ thời kỳ đầu dựng nước, các công trình này đã xuất hiện và phát triển, phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa dân gian và tôn giáo. Nhiều ngôi đền thờ các vị thần, anh hùng dân tộc, thể hiện lòng biết ơn của người dân.

II. Những Thách Thức Trong Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Đông Triều

Mặc dù có giá trị văn hóa cao, nhưng đền, chùa, đình ở Đông Triều đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo tồn. Sự phát triển đô thị hóa, biến đổi khí hậu và thiếu nguồn lực bảo tồn là những vấn đề cần được giải quyết. Việc bảo tồn không chỉ là trách nhiệm của chính quyền mà còn cần sự tham gia của cộng đồng.

2.1. Ảnh Hưởng Của Đô Thị Hóa Đến Di Sản

Đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến việc nhiều đền, chùa, đình bị xâm hại hoặc phá bỏ. Các công trình kiến trúc cổ không còn được bảo vệ, gây mất mát lớn về di sản văn hóa. Cần có các biện pháp bảo vệ hiệu quả để giữ gìn những giá trị này.

2.2. Thiếu Nguồn Lực Bảo Tồn

Nguồn lực tài chính và nhân lực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa còn hạn chế. Nhiều ngôi đền, chùa không có kinh phí để duy trì và phục hồi. Việc kêu gọi sự hỗ trợ từ các tổ chức và cá nhân là rất cần thiết để bảo tồn các giá trị văn hóa này.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Đền Chùa Đình Ở Đông Triều

Để bảo tồn các đền, chùa, đình ở Đông Triều, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc kết hợp giữa bảo tồn vật chất và bảo tồn giá trị văn hóa tinh thần là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục cộng đồng cũng cần được triển khai để nâng cao nhận thức về giá trị của di sản.

3.1. Bảo Tồn Vật Chất Các Công Trình

Bảo tồn vật chất các đền, chùa, đình cần được thực hiện thông qua việc phục hồi kiến trúc, bảo trì thường xuyên và sử dụng vật liệu truyền thống. Các chuyên gia cần tham gia vào quá trình này để đảm bảo tính nguyên gốc của công trình.

3.2. Giáo Dục Cộng Đồng Về Di Sản

Giáo dục cộng đồng về giá trị của đền, chùa, đình là một phần quan trọng trong công tác bảo tồn. Các hoạt động như tổ chức hội thảo, triển lãm và các chương trình tham quan sẽ giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của người dân trong việc bảo vệ di sản.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Nghiên Cứu Di Sản Văn Hóa Đông Triều

Nghiên cứu về đền, chùa, đình ở Đông Triều không chỉ mang lại giá trị lịch sử mà còn có thể ứng dụng vào phát triển du lịch. Việc khai thác các giá trị văn hóa này sẽ góp phần nâng cao đời sống kinh tế cho người dân địa phương. Du lịch văn hóa có thể trở thành một nguồn thu nhập quan trọng cho huyện Đông Triều.

4.1. Phát Triển Du Lịch Văn Hóa

Du lịch văn hóa dựa trên các giá trị của đền, chùa, đình có thể thu hút nhiều du khách. Các tour du lịch kết hợp tham quan các di tích lịch sử sẽ giúp nâng cao nhận thức về văn hóa địa phương và tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng.

4.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Tổ Chức

Việc tăng cường hợp tác giữa các tổ chức, cơ quan nhà nước và cộng đồng trong việc bảo tồn và phát triển du lịch là rất cần thiết. Các chương trình hợp tác sẽ giúp chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực, từ đó nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn.

V. Kết Luận Về Giá Trị Di Sản Văn Hóa Đông Triều

Đền, chùa, đình ở huyện Đông Triều không chỉ là những công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng văn hóa, tâm linh của người dân. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản này là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần có những chính sách và hành động cụ thể để bảo vệ và phát triển di sản văn hóa Đông Triều trong tương lai.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Di Sản Văn Hóa

Di sản văn hóa không chỉ là tài sản của riêng một địa phương mà còn là tài sản chung của nhân loại. Việc bảo tồn di sản văn hóa giúp gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và tạo ra sự kết nối giữa các thế hệ.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Cho Di Sản Đông Triều

Hướng đi tương lai cho di sản văn hóa Đông Triều cần được xác định rõ ràng. Cần có các chiến lược dài hạn để bảo tồn và phát huy giá trị của các đền, chùa, đình, đồng thời kết hợp với phát triển kinh tế bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay đền chùa đình ở huyện đông triều tỉnh quảng ninh thế kỷ xx

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu và phát triển từ ngàn năm. Gắn bó cùng dân tộc, nhân dân Đông Triều đã tạo dựng nên quê hương Đông Triều giàu đẹp như ngày nay. Muốn hiểu về Đông Triều ngày nay không thể không hiểu Đông Triều trong quá khứ. Vậy hãy cùng nhau lật giở lại những trang sử từ buổi đầu tạo dựng và bảo vệ quê hương.

Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Đông Triều Đông Triều xưa nằm trong vùng châu lục - địa danh nổi tiếng bởi “sản nhiều ngọc trai”, cùng với sừng tê, ngà voi, đồi mồi, lông chim trả, ngọc trai là một trong những sản vật quý của phương Nam được chính quyền đô hộ Trung Quốc chú trọng vơ vét hàng đầu. Và cũng như mọi người dân Lạc Việt, người Đông Triều cũng phải chịu đựng một chế độ tô thuế nặng nề, nạn chiếm đất lập trang trại, sự độc quyền mua bán muối, sắt… Cũng chính bởi lẽ đó, ngay từ buổi đầu công nguyên người dân Đông Triều đã đứng lên chống lại chính quyền đô hộ Thế kỷ XIII, khi châu Á, châu Âu đang rung chuyển dưới vó ngựa của đế quốc Mông Cổ, nước ta bước vào thời thái bình thịnh trị của nhà Trần. Việc phải đương đầu với hoạ xâm lăng của đế quốc lớn như đế quốc Mông Cổ quả là một thử thách ghê gớm, quá sức với một quốc gia Đại Việt bé nhỏ. Thế nhưng nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân ta ba lần kháng chiến thắng lợi vẻ vang, bảo tồn được quốc gia độc lập.

Trong khí thế “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước dốc sức” người dân Đông Triều đã góp phần không nhỏ để làm nên chiến thắng to lớn ấy. Người Đông Triều và đất Đông Triều đã có sự gắn bó gần như “định mệnh” đối với nhà Trần. Từ xa xưa, tổ tiên nhà Trần đã có gốc rễ ở nơi này, các vua Trần rất coi trọng Đông Triều, có cả một chiến lược phòng thủ và bảo vệ Đông Triều và cả vùng Đông Bắc, coi đây là một vùng đất trọng yếu được bảo vệ rất cẩn thận vì không chỉ là vùng "đất căn bản" quê hương của triều đại mà còn là vì thế mạnh của vùng đất đó trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đông Triều nói riêng và cả tỉnh Quảng Ninh ngày nay nói chung đều thuộc đất Hải Đông.

Hải Đông ở phía Đông Bắc cửa ngõ quan trọng của Đại Việt. Từ Đông Hải có các đường giao thông thủy bộ nối liền miền biển với đồng bằng Bắc Bộ ngày nay, có đường sang Trung Quốc, có đường biển mà nhiều thuyền bè các nước tụ tập trao đổi, buôn bán hàng hóa. Với điều kiện 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự nhiên như vậy khiến Đông Triều nói riêng và Hải Đông nói chung trở thành con đường chiến lược trong các cuộc tiến công xâm lược Đại Việt của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Các vua Trần khi xuất gia đã biến nơi này thành một trung tâm Phật giáo, đã lấy nhiều đất đai để phong cấp cho vương hầu xây dựng điền trang thái ấp và khi chết cũng chọn nơi này làm đất xây dựng lăng tẩm.

Từ hải cảng Vân Đồn đến kinh đô Thăng Long có cả một hệ thống thái ấp, ấp thang mộc là những chốt quân sự quan trọng có thể từng bước chặn đường tiến quân của quân xâm lược. Thế kỷ XIII là thế kỷ lịch sử mà người dân huyện Đông Triều không những có quyền tự hào về những thành tựu văn hoá mà còn có quyền kể đến những đóng góp lớn lao cho công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ quốc gia Đại Việt. Đối với Đông Triều và khu mỏ, chính quyền thực dân chuyển dần sang chính sách thời chiến. Chúng bắt mọi người phải tuân theo những luật lệ nghiêm ngặt để kiểm soát tình hình.

Ngày 28-9-1939, chúng ra sắc lệnh giải tán toàn bộ các tổ chức quần chúng, kể cả các hình thức đơn giản nhất như hội chơi cờ, hội hiếu, hội hỉ. Chúng huy động toàn bộ lực lượng cảnh sát, mật vụ kiểm tra, lùng sục, bắt bớ, giam cầm và xử án hàng loạt quần chúng bị nghi ngờ là có hoạt động cách mạng. Trước tình hình mới Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và thay đổi sách lược phù hợp với điều kiện mới. Sự chuyển hướng chỉ đạo đúng đắn của Đảng đã giúp cho phong trào cách mạng Đông Triều kịp chuyển vào bí mật, giữ gìn lực lượng và chuẩn bị cho một cao trào đấu tranh vũ trang giành chính quyền.

Ở Đông Triều, phát xít Nhật câu kết với thực dân Pháp ra sức bóc lột nhân dân ta. Chúng tăng cường vơ vét của cải phục vụ cho cuộc chiến tranh, đồng thời thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng ở khắp mọi nơi. Chiến tranh và sự áp bức bóc lột của bọn phát xít Pháp - Nhật cùng với sự cướp phá của bọn thổ phỉ người Hoa đã gây ra những tai hoạ nặng nề cho nhân dân Đông Triều, nhất là công nhân mỏ. Bọn Pháp - Nhật bắt công nhân làm tăng giờ từ 10 - 12 giờ, thậm chí 14 giờ nhưng không tăng lương mà trả theo công nhật được làm việc từ 6 đến 10 ngày trong một tháng.

Mặt khác, để giải quyết sự đình đốn trong sản xuất, bọn chủ mỏ sa thải tới gần 50% số công nhân mỏ. Công nhân không có việc làm, một bộ phận đã bị người Pháp ép buộc 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào lính hoặc phải làm thợ trong hàng ngũ quân đội của Pháp, số còn lại sống lay lắt trong cảnh cơ hàn. Đối với nông dân và các tầng lớp lao động xã hội khác cũng chịu chung cảnh ngộ như những người công nhân mỏ. Chiến tranh đã nhanh chóng làm bần cùng mọi tầng lớp nhân dân lao động.

Pháp - Nhật bắt nhân dân nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu và thu thóc tạ. Chúng tăng gấp hai đến ba lần các loại thuế cơ bản của nông dân và người lao động như thuế thân, thuế điền thổ, thuế môn bài .từ chính sách đó, giá cả các mặt hàng nhu yếu phẩm tăng vọt. Gạo tăng gấp đôi, các mặt hàng khác tăng lên từ 80% đến 100% so với trước chiến tranh. Những chính sách áp bức bóc lột đến tận xương tuỷ của bọn Pháp - Nhật đã đẩy mâu thuẫn giữa nhân dân lao động Đông Triều với chúng ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt.

Tất cả mọi người lao động sẵn sàng đứng dậy lật đổ ách kìm kẹp của chúng, giành quyền sống và quyền độc lập. Được Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 của Đảng và chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh soi sáng, ở Đông Triều, tuy các cơ sở Đảng chưa được phục hồi, nhưng do ảnh hưởng của phong trào cả nước, những quần chúng tích cực đã bí mật tổ chức các cuộc đấu tranh mới. Tháng 9-1941, một số anh em công nhân đứng đầu là các anh Bính, Thi Kịch, Kiệm ở mỏ Mạo Khê đã kêu gọi anh em công nhân đình công đòi cải thiện chế độ làm việc, chống cúp phạt và tăng khẩu phần lương thực từ 0,8 kg lên 1 kg và 5 xu mỗi ngày. Cuộc đấu tranh này đã thu hút đông đảo anh em công nhân thợ lò, thợ cơ khí tham gia, buộc bọn chủ phải chấp nhận các yêu sách của họ.

Tháng 8 năm 1942, công nhân thợ lò Mạo Khê lợi dụng lúc trời mưa tối đã phá sập 14 thìu ở chợ lò Gioóc-đan. Cũng trong thời gian này, học sinh trường tiểu học ở huyện lỵ đã tổ chức chống việc kéo cờ của Pháp, đồng thời rải truyền đơn và vẽ cờ búa liềm tuyên truyền đường lối cách mạng của Mặt trận Việt Minh. Năm 1943, nông dân một số địa phương trong huyện chống chính sách thu thuế, thu thóc của phát xít. Tháng 12- 1943, công nhân Mạo Khê đã đánh đổ đoàn tàu chở than của bọn chủ trên đường từ Pi-ô đến Gioóc - đan.

Cùng với các cuộc đấu tranh trực diện chống bọn chủ mỏ và chính quyền Pháp- Nhật, các tổ chức cách mạng của quần chúng dần dần được phục hồi và phát triển 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên các địa bàn huyện. Năm 1944, Hội ái hữu ở làng Cầm (Xuân Viên) đã tổ chức quyên góp giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn do chính quyền phát xít và bọn thổ phỉ gây ra. Hội đã tổ chức nhân dân trong làng chống chính sách thu lạc và thu thóc tạ của chính quyền Pháp - Nhật. Phong trào bước đầu đã thu hút được một số hào lý địa phương tham gia.

Từ các kết quả đó, đầu năm 1944, Đông Triều đã có những hoạt động bán vũ trang của công nhân mỏ Mạo Khê để chống lại sự cướp bóc của bọn thổ phỉ. Đây là những thắng lợi bước đầu của phong trào cách mạng Đông Triều theo đường lối của Mặt trận Việt Minh. “Tháng 9/1944, đồng chí Nguyễn Văn Đài đã trở lại Đông Triều hoạt động trong cơ sở cũ ở Mạo Khê nắm tình hình Công hội cứu quốc (Công hội đỏ) và phong trào quần chúng. Đồng chí Nguyễn Văn Đài đã tìm gặp đồng chí Tạ Văn Biếu, một hội viên tích cực của “Công hội đỏ” những năm trước.

Sau khi đồng chí Tạ Văn Biếu báo cáo tình hình phong trào công nhân Mạo Khê hưởng ứng chủ trương của Mặt trận Việt Minh đang lên cao, đồng chí Đài cũng trao đổi với đồng chí Biếu về tình hình thế giới, tình hình trong nước và đề ra những nhiệm vụ cấp bách phải làm để kịp thời đáp ứng những yêu cầu mới của cách mạng đó là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động cách mạng không chỉ nhằm vào công nhân, nông dân mà còn cần đi sâu vào các tầng lớp như thanh niên, phụ nữ, học sinh, trí thức, tiểu tư sản, binh dân yêu nước người Việt. để mở rộng các tổ Việt Minh bí mật ở mỏ và vùng nông thôn quanh mỏ” [5, tr. Các hội viên “Công hội đỏ” như các đồng chí Tạ Văn Biếu, Lê Mai, Lê Minh, Tạ Văn Ngân, Nguyễn Văn Thi, Phạm Tuấn Khải, Phạm Duy Năng, Hoàng Văn Hiện (tức Khánh), Trần Quang, Mạc Đình Vịnh, Phạm Văn Thử, Đoàn Thanh đã hoạt động rất tích cực trong phong trào. Đến tháng 11/1944 các cơ sở Việt Minh ở mỏ Mạo Khê từ khu lò Văn Lôi, Jordan, Piốt đến Fonten đều được củng cố vững chắc.

Các tổ Việt Minh còn được phát triển ở các vùng nông thôn quanh khu mỏ như Đồ Sơn, Yên Lãng, Tràng Bạch, Yên Dưỡng, Bích Nhôi, Hạ Chiễu, Thượng Chiễu, Lỗ Sơn, Vạn Chánh, Duyên Linh, Thượng Tra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám Phá Đền, Chùa, Đình Ở Huyện Đông Triều, Quảng Ninh Thế Kỷ XX" mang đến cái nhìn sâu sắc về các di tích văn hóa tâm linh tại huyện Đông Triều, Quảng Ninh trong thế kỷ XX. Tài liệu không chỉ khám phá lịch sử và kiến trúc của các đền, chùa, đình mà còn nhấn mạnh vai trò của chúng trong đời sống văn hóa và tâm linh của người dân địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các nghi lễ, phong tục tập quán liên quan đến các di tích này, từ đó hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và lịch sử của khu vực.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ ussh nghiên cứu văn bia huyện đông sơn tỉnh thanh hóa, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn bia và di sản văn hóa tại Thanh Hóa, hay Khóa luận tốt nghiệp xây dựng tour du lịch văn hóa hà nội đền sóc chùa non nước thành cổ loa hà nội, giúp bạn khám phá thêm về các tour du lịch văn hóa tại Hà Nội. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn bia huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về văn bia và di tích lịch sử tại khu vực khác, mở rộng hiểu biết của bạn về di sản văn hóa Việt Nam.