Tổng quan nghiên cứu
Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh sở hữu bề dày lịch sử ngàn năm với hệ thống 133 di tích lịch sử - văn hóa và cách mạng, trong đó có 23 di tích đã được xếp hạng gồm 8 di tích cấp quốc gia và 15 di tích cấp tỉnh. Địa bàn này là cái nôi phát tích và là trung tâm văn hóa, tâm linh đặc biệt của vương triều Trần với quần thể 14 điểm di tích lăng mộ, đền miếu tiêu biểu. Tuy nhiên, xuyên suốt thế kỷ XX, các biến động lịch sử, chiến tranh tàn phá cùng tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã tạo ra nguy cơ mai một lớn đối với các thiết chế đền, chùa, đình làng.
Công trình nghiên cứu tập trung khảo sát có hệ thống mạng lưới đền, chùa, đình trên địa bàn 21 đơn vị hành chính của huyện Đông Triều (gồm 19 xã và 2 thị trấn) trong tiến trình lịch sử thế kỷ XX. Mục tiêu cụ thể là giải mã niên đại, đặc trưng kiến trúc, không gian phụng thờ và giá trị văn hóa - xã hội của di sản, từ đó cung cấp căn cứ thực chứng bảo tồn 100% các phế tích và di tích hiện hữu. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc hệ thống hóa dữ liệu khảo sát 40 ngôi chùa, 11 cụm đình làng và 9 ngôi đền lớn, đóng góp giải pháp quản lý di sản phục vụ phát triển kinh tế du lịch văn hóa bền vững cho địa phương với quy mô dân số trên 157.000 người.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội và cấu trúc văn hóa làng xã cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ để phân tích sự tương tác giữa cộng đồng cư dân và các thiết chế tín ngưỡng. Nghiên cứu đồng thời khai thác lý thuyết tiếp biến văn hóa và nhân học tôn giáo, làm rõ hiện tượng dung hợp "Tam giáo đồng nguyên" (Phật - Đạo - Nho) kết hợp tín ngưỡng dân gian bản địa.
Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa làm khung phân tích bao gồm:
- Đình làng: Thiết chế văn hóa - hành chính công cộng, nơi phụng thờ Thành hoàng làng và tổ chức sinh hoạt cộng đồng làng xã.
- Chùa (Tự): Không gian tôn giáo phụng thờ Phật, gắn liền với giáo lý và lịch sử phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
- Đền: Cơ sở tín ngưỡng tưởng niệm các bậc tiền nhân, anh hùng dân tộc hoặc nhân vật lịch sử được thần thánh hóa có công khai hoang, bảo quốc hộ dân.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát toàn diện kết hợp chọn mẫu điển hình trên toàn bộ địa bàn 21 xã, thị trấn của huyện Đông Triều. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 40 ngôi chùa cổ và hiện đại, 11 ngôi đình làng tiêu biểu và 9 công trình đền thờ trọng điểm; đồng thời thực hiện phỏng vấn sâu 25 nhân chứng lịch sử, thủ từ, chức sắc tôn giáo và cán bộ quản lý văn hóa địa phương. Phương pháp phân tích định tính và định lượng được lựa chọn nhằm bảo đảm tính xác thực của tư liệu gốc, đối chiếu giữa văn bia Hán Nôm, thần tích, ngọc phả với hiện trạng kiến trúc vật thể.
Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các đợt điều tra điền dã dân tộc học, đo đạc kiến trúc và sưu tầm hiện vật từ năm 2014 đến năm 2016. Nguồn dữ liệu thứ cấp kế thừa từ các tài liệu lưu trữ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý Di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh, Địa chí Quảng Ninh và Niên giám thống kê huyện Đông Triều. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được kết hợp chặt chẽ để phục dựng tiến trình chuyển biến của các di tích qua từng giai đoạn lịch sử thế kỷ XX.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Hệ thống di tích đền, chùa, đình tại huyện Đông Triều trong thế kỷ XX ghi nhận mật độ phân bố dày đặc với 133 điểm di tích lịch sử - văn hóa, đạt tỷ lệ 17,29% di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Quần thể di tích nhà Trần tại 4 xã An Sinh, Bình Khê, Thủy An và Tràng An hình thành không gian văn hóa tâm linh cốt lõi với 14 điểm di tích độc nhất, minh chứng cho vai trò "thánh địa" của vương triều Trần từ thế kỷ XIII - XIV.
Cơ cấu đối tượng thờ phụng thể hiện tính đa dạng sâu sắc: 100% các ngôi đình làng (như đình Xuân Quang, đình Trạo Hà, đình Quế Lạt) duy trì mô hình thờ nhiên thần kết hợp nhân thần và tiền hiền khai khẩn. Hệ thống 40 ngôi chùa phản ánh sự tiếp nối bền vững của dòng Thiền Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập, tiêu biểu như chùa Quỳnh Lâm, chùa Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên. Hệ thống 9 ngôi đền lớn phụng thờ danh nhân lịch sử dân tộc (nữ tướng Lê Chân tại đền An Biên, 8 vị vua Trần tại đền An Sinh, võ tướng Nguyễn Quang Huy tại đền Di Ái).
Trong thế kỷ XX, các thiết chế tín ngưỡng tại Đông Triều trải qua sự chuyển hóa chức năng lịch sử rõ nét. Đình Hổ Lao, đình Quế Lạt và chùa Bắc Mã không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn trở thành căn cứ địa cách mạng, nơi thành lập Đệ tứ Chiến khu Đông Triều vào tháng 6 năm 1945.
Sau giai đoạn chiến tranh tàn phá khiến hơn 60% công trình bị hư hại hoặc trở thành phế tích, phong trào phục dựng từ năm 1993 đến năm 2014 đã hồi sinh diện mạo nhiều di tích trọng điểm: Đền An Biên tôn tạo năm 1993, Đền An Sinh phục dựng giai đoạn 1997 - 2000, Chùa Ngọa Vân khôi phục năm 2002 và Đền Thái khởi công xây dựng lại năm 2014.
Thảo luận kết quả
Các số liệu khảo sát thực địa được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng phân loại niên đại và bảng danh mục đối tượng phụng thờ, giúp phân định rõ các lớp văn hóa chồng xếp từ thời Lý - Trần, Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn. Cảnh quan địa lý đền, chùa, đình Đông Triều tuân thủ nghiêm ngặt thuật phong thủy truyền thống: tọa lạc nơi "non bình thủy tụ", lưng tựa dãy núi Yên Tử cao từ 600 m đến 1.031 m, cửa chính hướng Nam hoặc Đông Nam nhìn ra các dòng sông Cầm, sông Đạm Thủy, sông Kinh Thầy.
Đặc tính dân cư với 97,5% người Kinh cùng 7 dân tộc thiểu số (Tày chiếm 1,4%, Hoa chiếm 0,5%, Sán Dìu chiếm 0,5%) tạo nên sự giao thoa văn hóa tín ngưỡng đặc sắc. Khác với mô hình đình làng thuần nông ở đồng bằng Bắc Bộ, đình làng tại Đông Triều phản ánh sự gắn kết cộng đồng thợ mỏ và nông dân, đóng vai trò biểu trưng cho tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng địa phương.
Đề xuất và khuyến nghị
- Số hóa toàn diện tư liệu di sản: Triển khai số hóa 100% hồ sơ khoa học, văn bia Hán Nôm và lập bản đồ số 3D cho toàn bộ 133 di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đông Triều trước năm 2028 do Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chủ trì.
- Quy hoạch bảo tồn nguyên trạng: Thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo cấp thiết cho 14 điểm di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần với tỷ lệ sử dụng vật liệu truyền thống đạt trên 85% trong giai đoạn 2026 - 2030 dưới sự giám sát của Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Ninh.
- Phát triển chuỗi du lịch di sản liên vùng: Xây dựng tuyến du lịch tâm linh kết nối Đông Triều - Uông Bí - Côn Sơn Kiếp Bạc, đặt mục tiêu thu hút tăng trưởng lượng khách du lịch văn hóa đạt 15% - 20%/năm giai đoạn 2026 - 2035 do Ban Quản lý Di tích phối hợp cùng các đơn vị lữ hành vận hành.
- Nâng cao năng lực quản lý cơ sở: Tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về luật di sản văn hóa và kỹ năng bảo quản hiện vật cho 100% thành viên ban quản lý di tích cấp xã và người trông coi đền, chùa, đình do Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa: Tiếp cận hệ thống tư liệu thực chứng về 40 ngôi chùa, 11 đình làng và 9 đền miếu để phục vụ các công trình khảo cứu chuyên sâu về văn hóa thời Trần và thiết chế làng xã Bắc Bộ.
- Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Ứng dụng số liệu thống kê và danh mục di tích để xây dựng quy hoạch bảo tồn, xếp hạng di tích và hoạch định chiến lược phát triển du lịch văn hóa bền vững.
- Giảng viên và học viên chuyên ngành Lịch sử, Di sản học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp nghiên cứu lịch sử địa phương với điền dã dân tộc học.
- Kiến trúc sư và chuyên gia trùng tu di tích: Khai thác các mô tả chi tiết về bố cục mặt bằng chữ "Công", chữ "Tam", nghệ thuật chạm khắc rồng và hoa văn trang trí để phục vụ công tác phục chế kiến trúc cổ truyền.
Câu hỏi thường gặp
Hệ thống đền, chùa, đình ở Đông Triều có điểm gì nổi bật so với các vùng khác?
Hệ thống di tích nơi đây gắn liền với quê gốc của vương triều Trần và cội nguồn Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Địa bàn hội tụ mật độ đậm đặc 14 điểm di tích nhà Trần tiêu biểu, kết hợp đan xen giữa di tích kiến trúc tâm linh cổ truyền và các di tích căn cứ địa cách mạng thế kỷ XX.
Đền An Sinh giữ vị trí như thế nào trong quần thể di tích Đông Triều?
Đền An Sinh vốn là Điện An Sinh được xây dựng từ thế kỷ XIV thời Trần. Đây là nơi thờ tự trang trọng 8 vị hoàng đế triều Trần cùng An Sinh vương Trần Liễu và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, giữ vai trò như một trung tâm tín ngưỡng hoàng gia quan trọng bậc nhất của Đại Việt.
Các công trình tín ngưỡng Đông Triều đóng vai trò gì trong cách mạng tháng Tám năm 1945?
Nhiều ngôi đình, chùa đã chuyển hóa công năng thành căn cứ hoạt động cách mạng bí mật. Tiêu biểu là đình Hổ Lao được sử dụng làm nơi luyện tập của đội du kích tập trung, chùa Bắc Mã và đình Quế Lạt là nơi tuyên bố thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo (Đệ tứ Chiến khu) lật đổ chính quyền thực dân - phong kiến.
Tình trạng bảo tồn của các ngôi đình làng tại Đông Triều hiện nay ra sao?
Trải qua chiến tranh và thiên tai, phần lớn đình làng bị hư hại hoặc biến đổi kiến trúc. Đình Xuân Quang tại xã Yên Thọ là ngôi đình duy nhất còn giữ được tương đối nguyên vẹn kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ truyền, các ngôi đình khác như Trạo Hà, Quế Lạt đã được nhân dân quyên góp phục dựng trên nền xưa.
Các vị thần được thờ phụng tại hệ thống đình làng Đông Triều gồm những ai?
Đình làng Đông Triều thờ phụng hệ thống thần linh phong phú gồm nhiên thần (Tứ vị thiên thần: Cao Sơn, Cây Vũ, Cống Ngái, Linh Lang tại đình Xuân Quang; Quý Minh Đại Vương tại đình Quế Lạt), nhân thần có công đánh giặc và các vị tiền hiền khai hoang lập ấp (Nguyễn Quang Huy tại đình Trạo Hà).
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu khoa học về 133 di tích lịch sử - văn hóa, trọng tâm là mạng lưới đền, chùa, đình tại huyện Đông Triều suốt thế kỷ XX.
- Khẳng định giá trị đặc biệt của Đông Triều như một trung tâm văn hóa, tín ngưỡng tiêu biểu thời Trần với 14 điểm di tích lăng mộ, đền miếu và chùa tháp Trúc Lâm.
- Làm rõ bước chuyển hóa chức năng kép độc đáo của đình, chùa Đông Triều khi trở thành căn cứ địa khởi nghĩa của Đệ tứ Chiến khu năm 1945.
- Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn đề xuất 4 nhóm giải pháp cấp thiết nhằm số hóa, quy hoạch trùng tu và phát triển du lịch bền vững cho vùng đất di sản.
- Đặt tiền đề cho các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo về khảo cổ học di tích Phật giáo Trúc Lâm và liên kết phát triển không gian văn hóa vùng Đông Bắc.