Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Khái niệm cơ bản 1. Việc làm, tạo việc làm a.
Khái niệm về việc làm Hiện nay, có nhiều quan niệm về việc làm như sau: Điều 13, Chương II, Bộ Luật lao động và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động - 2006 có ghi: “Việc làm là những hoạt động có ích, tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm”. - “Việc làm là cơ sở vật chất để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” (Tạ Đức Khánh, 2009). - “Việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó” (Tạ Đức Khánh, 2009). - Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
Cho dù có nhiều quan niệm về việc làm, song việc làm là dành cho con người và do con người thực hiện với các điều kiện vật chất, kỹ thuật tương ứng hay đó chính là nhu cầu sử dụng sức lao động của con người. Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một người lao động có việc làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Thông qua việc làm, người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập của người họ.
Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì khái niệm việc làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Trước đây người ta cho rằng chỉ có việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh và trong biên chế nhà 6 nước thì mới có việc làm ổn định, còn việc làm trong các thành phần kinh tế khác thì bị coi là không có việc làm ổn định. Với những quan niệm đó nên người lao động cố gắng xin vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp này. Nhưng hiện nay quan điểm ấy không tồn tại nhiều trong số những người đi tìm việc làm.
Lực lượng lao động này sẵn sàng tìm bất cứ công việc gì, ở đâu, thuộc thành phần kinh tế nào, miễn là hoạt động lao động của họ được nhà nước khuyến khích không ngăn cấm và đem lại thu nhập cao cho họ. Hai phạm trù việc làm và lao động có liên quan với nhau và cùng phản ánh một loại lao động có ích của một người, nhưng hai phạm trù đó hoàn toàn không giống nhau vì có việc làm thì chắc chắn có lao động nhưng ngược lại có lao động thì chưa chắc đã có việc làm vì nó phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà người lao động đang làm. Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội.
Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân (Trần Xuân Cầu, 2008). Phân loại việc làm * Phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động Việc làm chính: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật. Việc làm phụ: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. * Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động - Việc làm đầy đủ: với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là người đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Tuy nhiên, việc 7 xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm. Trên thực tế, nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp và thu nhập thấp. Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc làm và cần được bổ sung với ý nghĩa đầy đủ đó là “việc làm đầy đủ”. Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập.
Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định (Việt Nam hiện nay qui định 8 giờ làm việc/ một ngày) mặt khác việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu cho người lao động. Vậy với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ (Trần Xuân Cầu, 2008) c. Thất nghiệp, thiếu việc làm * Thất nghiệp Gắn với khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”.
Theo tác giả Nguyễn Văn Hồi (2005): “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”. Tác giả Nguyễn Văn Hồi (2005) chia thất nghiệp thành các loại sau: - Xét về nguồn gốc thất nghiệp, có thể chia thành: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ. Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao động giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. 8 Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động, việc làm.
Sự không ăn khớp giữa số lượng và chất lượng đào tạo và cơ cấu về yêu cầu của việc làm, mất cân đối giữa cung và cầu lao động. Thất nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và không ổn định. Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động cao sẽ xảy ra thất nghiệp chu kỳ. - Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm: thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện.
- Ở các nước đang phát triển, người ta chia thất nghiệp thành thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp vô hình. Thất nghiệp hữu hình: Xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được trên thị trường. Thất nghiệp vô hình: Hay còn gọi là thất nghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng chưa sử dụng hết lao động ở các nước đang phát triển. Họ là những người có việc làm trong khu vực nông thôn hoặc thành thị không chính thức nhưng việc làm đó có năng suất thấp, những người này đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất.
* Thiếu việc làm Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì “thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp”. Như vậy, thiếu việc làm được hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều kiện cho người tiến hành nó sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu. Khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau: + Thiếu việc làm vô hình: là trạng thái những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp. Trên thực tế, họ vẫn làm việc nhưng sử dụng rất ít thời gian trong sản xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều và thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn.
9 + Thiếu việc làm hữu hình: là hiện tượng người lao động làm việc thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm việc.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu về lao động việc làm Việt Nam Quý I các năm 2014-2018 Một số chỉ tiêu chủ yếu Quý I Quý I Quý I Quý I Quý I về lao động việc làm Quý I năm năm năm năm năm năm 2014-2018 2014 2015 2016 2017 2018 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở 53 580,9 53 643,9 54 404,9 54 505,1 55 091,9 lên (Nghìn người) LĐ từ 15 tuổi trở lên đang làm 52 526,2 52 427,0 53 288,8 53 363,5 53 985,8 việc (Nghìn người) Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng 2,21 2,43 2,25 2,3 2,2 lao động trong độ tuổi (%) Tỷ lệ thiếu việc làm của lực 2,78 2,43 1,76 1,82 1,48 lượng lao động trong độ tuổi (%) (Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam) Tại thời điểm quý 1/2014, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên 15 - 24 tuổi là 4,99% có xu hướng giảm dần theo các năm, đến quý 1/2016, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên giảm còn 3,68%. Sau đây sẽ gọi chung cụm từ thất nghiệp và thiếu việc làm thành “thất nghiệp”. Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người làm việc trong khu vực phi nông, lâm nghiệp, thủy sản và trong hộ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản có đăng kí kinh doanh, thuộc một trong bốn nhóm sau: (i) lao động gia đình không được hưởng lương, hưởng công; (ii) người chủ của cơ sở, lao động tự làm trong khu vực phi chính thức; và (iii) người làm công ăn lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc; (iv) xã viên hợp tác xã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (Tổ chức Lao động Thế giới). Tạo việc làm Theo Nguyễn Thị Hải Vân (2008), tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường.
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình người lao động làm việc.