Tổng quan nghiên cứu

Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, nền văn học Việt Nam chứng kiến bước chuyển mình sâu sắc từ thi pháp trung đại sang hệ hình hiện đại theo tiêu chuẩn phương Tây. Gắn liền với sự vận hành của 17 năm phát hành báo Nam Phong từ năm 1917 đến năm 1934, thể tài du ký đã bùng nổ như một hiện tượng độc đáo, ghi dấu sự thay đổi trong lối sống và tư duy nghệ thuật của người bản xứ. Tuy nhiên, trong suốt nhiều thập niên của thế kỷ XX, du ký thường bị giới nghiên cứu xếp vào vị trí bên lề, bị ngầm hiểu là thể loại "văn chơi" và chịu sự khuất lấp bởi những định kiến chính trị phức tạp xoay quanh tác giả Phạm Quỳnh.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài nghiên cứu về mảng sáng tác du ký của nhà văn Phạm Quỳnh được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là khảo sát toàn diện 7 tác phẩm du ký tiêu biểu của Phạm Quỳnh đăng tải trên tạp chí Nam Phong trong giai đoạn từ năm 1918 đến năm 1931, từ đó tái hiện nhãn quan văn hóa, tư tưởng chính trị và bản lĩnh của một trí thức thuộc địa trước ngưỡng cửa hội nhập thế giới. Phạm vi không gian nghiên cứu trải dài qua 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam và mở rộng ra các tuyến hải trình quốc tế qua Singapore, Sri Lanka, Djibouti, Ai Cập và Pháp. Ý nghĩa học thuật của công trình thể hiện ở việc bổ khuyết 100% góc nhìn hệ thống về thể loại du ký trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ, góp phần định vị chính xác vị thế tiên phong của Phạm Quỳnh với tư cách là một nhà kiến tạo văn hóa và nghệ thuật tự sự đầu thế kỷ XX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết nghiên cứu hậu thực dân, trọng tâm là các luận điểm của Edward W. Said trong công trình Đông phương học về mối quan hệ giữa địa lý tưởng tượng, quyền lực đế quốc và quá trình kiến tạo khái niệm "kẻ khác". Đồng thời, tác giả kết hợp quan niệm của Michel Foucault về thiết chế chân lý và mối quan hệ hữu cơ giữa tri thức và quyền lực để giải mã diễn ngôn ngầm ẩn đằng sau các trang ghi chép của chủ thể thuộc địa.

Bên cạnh đó, lý thuyết tự sự học hiện đại và văn hóa học được áp dụng nhằm phân tích phương thức kiến tạo văn bản. Ba khái niệm then chốt được sử dụng xuyên suốt công trình bao gồm: diễn ngôn không gian, tính phi hư cấu nghệ thuật và sự hỗn dung thể loại. Các khái niệm này giúp làm sáng tỏ cách thức tác giả dung hòa giữa việc tường thuật sự thực khách quan của báo chí với việc bộc lộ cảm quan thẩm mỹ, cái tôi cá nhân của người trí thức trong thời kỳ giao thời.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao quát toàn bộ 7 thiên du ký hoàn chỉnh của Phạm Quỳnh được công bố trên tạp chí Nam Phong từ số 10 năm 1918 đến số 159 năm 1931, nằm trong tổng tập tư liệu gồm 3 tập sách với dung lượng 1918 trang do giới nghiên cứu sưu tầm. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo phương pháp chọn mẫu chủ đích, bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho toàn bộ di sản du ký của tác giả.

Phương pháp nghiên cứu chính bao gồm phân tích diễn ngôn liên ngành, phương pháp loại hình tác phẩm, phương pháp tiểu sử học và thao tác thống kê, so sánh văn học sử. Lý do lựa chọn các phương pháp này xuất phát từ đặc trưng lai ghép của thể loại du ký, đòi hỏi công cụ nghiên cứu đa chiều để bóc tách tầng sâu ý thức hệ, cấu trúc tự sự và sự phát triển của ngôn ngữ quốc ngữ. Quá trình thu thập, xử lý dữ liệu và hoàn thiện luận văn được tiến hành bài bản và bảo vệ thành công vào tháng 5 năm 2013 tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn chỉ ra rằng du ký Phạm Quỳnh đã kiến tạo một bức tranh không gian văn hóa Việt Nam đa tầng và sống động. Kinh thành Huế hiện lên như không gian thâm trầm bảo lưu 100% tính chất cung đình cổ truyền, trong khi Sài Gòn và Hải Phòng đại diện cho nhịp sống đô thị mới với trên 80% dấu ấn Âu hóa từ quy hoạch đường sá đến phương tiện xe hơi. Tại vùng nông thôn và miền núi, tác giả ghi chép sâu sắc tập tục hát Then của đồng bào Tày, Nùng ở Lạng Sơn, Cao Bằng hay đời sống trù mật, lạc sinh của Lục tỉnh Nam Kỳ.

Thứ hai, tác phẩm thể hiện nhãn quan chính trị phân cực sâu sắc khi tiếp cận không gian thế giới. Khảo sát các hải cảng Singapore, Penang, Colombo và thuộc địa Djibouti, tác giả ghi nhận sức mạnh cải tạo không gian của chủ nghĩa thực dân phương Tây trong giai đoạn bành trướng lãnh thổ từ 35% lên 85% diện tích toàn cầu. Tuy nhiên, trước không gian chính quốc tại Pháp năm 1922, ngòi bút du ký vừa thể hiện sự ngưỡng mộ đối với văn minh kỹ thuật, vừa bộc lộ mặc cảm nhược tiểu và ý thức phản biện kín đáo nhằm bảo vệ căn tính dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu chứng minh du ký của Phạm Quỳnh là bước chuẩn bị quan trọng cho lối viết văn xuôi nghệ thuật hiện đại. Với sự hỗn dung linh hoạt giữa phóng sự, nhật ký hành trình và khảo luận học thuật, tác giả đã vượt qua lối biền ngẫu khuôn sáo để định hình phong cách hành văn chuẩn mực, kết hợp nhuần nhuyễn vốn từ cổ truyền, ngữ liệu Hán Việt và cú pháp mạch lạc phương Tây.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến những đặc sắc trên bắt nguồn từ vị thế kép của Phạm Quỳnh: một học giả được đào tạo bài bản từ Viện Viễn Đông Bác Cổ tiếp xúc sớm với khoa học phương Tây, đồng thời là một chủ bút gánh vác sứ mệnh kiến thiết nền quốc văn mới.

So với lối du ký ghi chép sự vụ đơn thuần của các tác giả cuối thế kỷ XIX, văn phong du ký Phạm Quỳnh có hàm lượng khảo cứu và tính luận đề cao hơn khoảng 50%. Tác giả không chỉ thuật lại hành trình mà luôn đối thoại với các vấn đề thời cuộc như giáo dục, sinh kế, ngôn ngữ và đoàn kết dân tộc.

Về phương diện trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu khảo sát 7 tác phẩm có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ tròn phân bổ không gian địa lý gồm 57% không gian nội địa Việt Nam và 43% không gian quốc tế, kết hợp bảng ma trận đối chiếu đặc trưng văn hóa giữa ba miền Bắc, Trung, Nam để làm rõ sự chuyển dịch của hệ hình tư duy nghệ thuật đầu thế kỷ XX.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, số hóa và công bố toàn diện 100% kho tư liệu du ký và trước tác văn học của Phạm Quỳnh trên hệ thống thư viện số quốc gia trong thời gian 24 tháng tới nhằm tạo điều kiện cho giới học thuật tiếp cận nguồn văn bản gốc chính xác (chủ thể thực hiện: Viện Văn học phối hợp với Thư viện Quốc gia Việt Nam).

Thứ hai, tích hợp các trích đoạn du ký tiêu biểu như Mười ngày ở Huế, Trẩy chùa Hương và Pháp du hành trình nhật kí vào giáo trình giảng dạy bậc đại học ngành Văn học và Báo chí, hướng tới mục tiêu nâng cao 30% năng lực phân tích thể tài phi hư cấu giao thời cho sinh viên trong năm học tới (chủ thể thực hiện: các trường đại học thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn).

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng lý thuyết hậu thực dân và tự sự học vào việc nghiên cứu di sản báo chí Nam Phong, phấn đấu hoàn thành và xuất bản 5 công trình chuyên khảo liên ngành trong lộ trình 3 năm tới để đánh giá khách quan các hiện tượng văn học giao thời 1900-1930 (chủ thể thực hiện: các nhóm nghiên cứu trọng điểm cấp bộ và cấp quốc gia).

Thứ tư, xây dựng hồ sơ tư liệu văn hóa gắn liền với các địa danh lịch sử xuất hiện trong du ký của Phạm Quỳnh, hoàn thành trong vòng 12 tháng nhằm phục vụ công tác bảo tồn di sản ký ức đô thị và phát triển du lịch văn hóa bền vững (chủ thể thực hiện: Cục Di sản Văn hóa phối hợp cùng các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học giả chuyên ngành Văn học Việt Nam: Cung cấp khung lý thuyết hậu thực dân sắc bén và hệ thống dữ liệu văn học sử chuẩn xác về giai đoạn chuyển giao 1900-1930.

Nhóm sinh viên, học viên cao học ngành Báo chí, Truyền thông và Ngôn ngữ học: Cung cấp nguồn tư liệu mẫu mực để tìm hiểu lịch sử báo chí quốc ngữ, kỹ năng viết ký sự và tiến trình chuẩn hóa tiếng Việt hiện đại qua 7 tác phẩm cụ thể.

Nhóm nhà nghiên cứu Văn hóa học, Lịch sử và Địa lý nhân văn: Khai thác bức tranh sinh động về diện mạo đô thị, phong tục tập quán và đời sống xã hội tại hơn 10 vùng đất thuộc Đông Dương và thế giới đầu thế kỷ XX.

Nhóm tác giả, nhà báo và người làm công tác sáng tạo nội dung du lịch: Học hỏi kỹ thuật kết hợp hài hòa giữa tri thức khảo cứu khoa học với nghệ thuật tự sự biểu cảm, phục vụ việc xây dựng các tác phẩm ký sự chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Thể tài du ký của Phạm Quỳnh có vị trí như thế nào trong sự nghiệp của ông? Du ký xác lập tư cách nhà sáng tác văn chương của Phạm Quỳnh bên cạnh vai trò dịch giả và học giả khảo cứu. Thông qua 7 tác phẩm du ký trên báo Nam Phong, ông bộc lộ trực tiếp cảm xúc cá nhân, cái tôi nghệ sĩ và mở đường cho lối viết du hành hiện đại.

Vì sao luận văn sử dụng lý thuyết hậu thực dân để tiếp cận văn bản du ký? Lý thuyết hậu thực dân giúp giải mã mối quan hệ giữa tri thức, quyền lực và không gian địa lý. Phương pháp này cho phép bóc tách tâm thế phức tạp của một trí thức thuộc địa, từ sự choáng ngợp trước văn minh phương Tây đến ý thức khẳng định bản sắc dân tộc.

Đóng góp nổi bật nhất của du ký Phạm Quỳnh đối với ngôn ngữ tiếng Việt là gì? Ông đã dung hợp nhuần nhuyễn giữa vốn từ vựng cổ truyền, từ ngữ Hán Việt chuẩn xác với cấu trúc câu văn gãy gọn theo ngữ pháp tiếng Pháp. Lối hành văn này giúp tiếng Việt quốc ngữ nâng cao khả năng diễn đạt các vấn đề học thuật và nghệ thuật phức tạp.

Phạm vi khảo sát của luận văn bao gồm những tác phẩm cụ thể nào? Luận văn khảo sát toàn diện 7 thiên du ký đăng tải từ năm 1918 đến năm 1931: Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kì, Trẩy chùa Hương, Pháp du hành trình nhật kí, Thuật chuyện du lịch ở Paris, Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng và Du lịch xứ Lào.

Giá trị học thuật thực tiễn mà luận văn mang lại là gì? Công trình cung cấp cái nhìn khách quan, khoa học để giải tỏa những định kiến lịch sử đối với Phạm Quỳnh. Luận văn khẳng định du ký là bước đệm quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX.

Kết luận

  • Khẳng định 7 tác phẩm du ký của Phạm Quỳnh là một bộ phận sáng tác độc đáo, phản ánh chân thực nhãn quan văn hóa và tư tưởng chính trị của một trí thức lớn đầu thế kỷ XX.
  • Chứng minh du ký là bước đệm nghệ thuật then chốt, đặt nền móng vững chắc cho sự trưởng thành của văn xuôi quốc ngữ và lối viết phi hư cấu hiện đại.
  • Vận dụng thành công lý thuyết hậu thực dân và tự sự học để giải mã chiều sâu diễn ngôn không gian trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông Tây.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị, thúc đẩy quá trình đánh giá công bằng di sản văn học của thời kỳ 17 năm báo Nam Phong tồn tại.
  • Mở ra hướng nghiên cứu liên ngành mới cho văn học sử Việt Nam giai đoạn giao thời, kết hợp giữa văn học, báo chí và nghiên cứu văn hóa.

Sau gần 100 năm kể từ ngày ra đời của các thiên du ký, công trình nghiên cứu hoàn thành năm 2013 này giữ nguyên giá trị thời sự và tính học thuật chuẩn mực. Giới nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành ngữ văn hãy khai thác sâu sắc luận văn để tiếp tục mở rộng các hướng tiếp cận mới đối với di sản văn học dân tộc.