Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về năng lực Hiện nay có rất nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về năng lực, cụ thể: Theo Xavier Roegiers (1996): Năng lực là một vấn đề tích hợp ở chỗ nó bao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động [29]. Theo Từ điển Tiếng Việt (2010): Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định [20].
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh: Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ. phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em [15, tr. Theo Phạm Minh Hạc: Năng lực là đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có kết quả hoạt động đó [7; tr 48]. Theo Vũ Xuân Hùng: Năng lực là kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết, được kết hợp nhuần nhuyễn, không tách rời để thực hiện thành công những công việc nào đó [12; tr 17].
Đinh Thị Hồng Minh với quan điểm: năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực 4 nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm [17; tr 6]. Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [4]. Dựa vào các định nghĩa khái niệm trên, chúng tôi cho rằng: Năng lực là khả năng của mỗi cá nhân được hình thành, phát triển trong quá trình sống và học tập tích lũy vốn kiến thức, kỹ năng.
Từ đó vận dụng một cách linh hoạt những kiến thức kỹ năng để giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề thực tiễn của cuộc sống. Cấu trúc của năng lực Theo [6], cấu trúc của năng lực thể hiện ở các cách tiếp cận khác nhau: - Về bản chất, năng lực là khả năng chủ thể kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị, động cơ… nhằm đáp ứng yêu cầu phức tạp của một hoạt động, đảm bảo hoạt động đó có chất lượng trong một bối cảnh (tình huống nhất định). - Về mặt biểu hiện, năng lực thể hiện bằng sự hiểu biết sử dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị, động cơ trong một tình huống có thực chứ không phải sự tiếp thu các tri thức rời rạc, tách rời tình huống thực tức là thể hiện trong hành vi, hành động và sản phẩm có thể quan sát được, đo đạc được. - Về thành phần cấu tạo, năng lực được cấu thành bởi các thành tố kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị, tình cảm và động cơ cá nhân, tư chất… Có nhiều mô hình cấu trúc năng lực khác nhau.
Theo [2], Bernd Meiner – Nguyễn Văn Cường cho rằng: cấu trúc chung của năng lực hành động là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực PP, năng lực xã hội, năng lực cá thể, được mô tả bằng sơ đồ sau: 5 Hình 1. Sơ đồ cấu trúc chung của năng lực - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có PP và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. - Năng lực PP (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Năng lực PP bao gồm năng lực PP chung và PP chuyên môn. Trung tâm của PP nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học PP luận - GQVĐ. - Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. - Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau.
Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Theo [2], mô hình 4 thành phần năng lực trên (Hình 1.) phù hợp với 4 6 trụ cột giáo dục theo UNESCO: Các trụ cột giáo dục của UNESCO Hình 1. Mô hình 4 thành phần năng lực phù hợp với 4 trụ cột giáo dục theo UNESCO Bốn năng lực trên cũng có thể được chia nhỏ hơn thành các năng lực cụ thể như năng lực tự học, năng lực và sáng tạo, năng lực giao tiếp… Trong đó năng lực vận dụng kiến thức là một trong những năng lực quan trọng giúp HS thích ứng được với cuộc sống. Từ cấu trúc năng lực cho ta thấy những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hóa trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Các loại năng lực cần hình thành cho HS trong dạy học - Theo chương trình giáo dục phổ tổng thể năm 2018, (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/Thông Tư- Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã đưa ra một số năng lực chung giúp HS tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học 7 lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới [4]. - Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. - Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho HS những năng lực cốt lõi sau: + Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực GQVĐ và sáng tạo; + Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của HS. Các năng lực chuyên biệt cần hình thành cho HS trong dạy học sinh học ở THPT Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học (Ban hành kèm theo thông tư 32/2018/Thông Tư - Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), môn Sinh học hình thành, phát triển ở HS năng lực sinh học; đồng thời cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành và phát triển năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, GQVĐ và sáng tạo), các phẩm chất như tự tin, trung thực, khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng và biết vận dụng các quy luật của tự nhiên, để từ đó biết ứng xử với thế giới tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học đã đưa ra những yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù đó là năng lực sinh học, biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên, bao gồm ba năng lực thành phần sau: - Năng lực nhận thức sinh học Trình bày, phân tích và giải thích được các kiến thức sinh học cốt lõi về các sự vật hiện tượng, khái niệm, quy luật và các quá trình sinh học; những thuộc tính cơ bản về các cấp độ tổ chức sống phân tử, tế bào, cơ thể quần thể, quần xã - hệ sinh thái, sinh 8 quyển. Từ nội dung kiến thức sinh học về các cấp độ tổ chức sống, HS khái quát được các đặc tính chung của thế giới sống là trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng; sinh trưởng và phát triển; cảm ứng; sinh sản; di truyền, biến dị và tiến hoá.
Thông qua các chủ đề nội dung sinh học, HS trình bày và giải thích được các thành tựu công nghệ sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt, xử lí ô nhiễm môi trường, sản xuất thực phẩm sạch; trong y - dược học. - Năng lực tìm hiểu thế giới sống Thực hiện được hoạt động tìm hiểu thế giới sống, bao gồm: đề xuất vấn đề; đặt câu hỏi cho vấn đề; đưa ra phán đoán, xây dựng giả thuyết; lập kế hoạch ; thực hiện kế hoạch; viết, trình bày báo cáo và thảo luận; đề xuất các biện pháp GQVĐ trong các tình huống học tập, đưa ra quyết định.