mở đầu một chu kỳ mới, một vòng kinh mới. Đó là cơ chế hồi tác (feed-back). Sự hành kinh đều đặn là điều chứng tỏ cơ chế feed-back đƣợc thực hiện tốt do các tuyến nội tiết là tuyến yên, buồng trứng đều hoạt động, chế tiết tốt, đủ nồng độ hormon ức chế vùng dƣới đồi. Nếu không có hiện tƣợng thụ tinh thì khoảng 2 ngày cuối cùng của chu kỳ, hoàng thể đột nhiên bị thoái hóa sau.
Sau phóng noãn nồng độ estrogen và progesterone đột ngột giảm xuống mức thấp nhất và gây ra hiện tƣợng kinh nguyệt [1]. 1 1 2 Đặc điểm và tính chất của kinh nguyệt Sự biến đổi ở niêm mạc tử cung hàng tháng trải qua hai giai đoạn, đó là giai đoạn tăng sinh và giai đoạn bài tiết và kinh nguyệt là kết quả của hai giai đoạn biến đổi này. Nồng độ estrogen và progesteron đột ngột giảm làm bong niêm mạc tử cung và gây ra hiện tƣợng kinh nguyệt nếu không có hiện tƣợng thụ tinh [16]. 5 Do nồng độ hai hormon giảm, niêm mạc tử cung bị thoái hóa tới 65% chiều dày.
Các động mạch xoắn co thắt do tác dụng của các sản phẩm bài tiết từ niêm mạc bị thoái hóa mà một trong những sản phẩm đó là prostaglandin. Một mặt do các động mạch nuôi dƣỡng lớp niêm mạc chức năng bị co thắt gây tình trạng thiếu máu, mặt khác do thiếu tác dụng kích thích của hai hormon nên lớp niêm mạc này bắt đầu hoại tử đặc biệt là các mạch máu. Kết quả của những biến đổi này là mạch máu bị tổn thƣơng và máu chảy đọng lại dƣới lớp niêm mạc chức năng. Vùng chảy máu lan rộng nhanh trong 34 – 36 giờ.
Tiếp theo đó lớp niêm mạc bị hoại tử sẽ tách khỏi tử cung ở những vùng chảy máu. Khối mô bị bong ra, dịch và máu trong khoang tử cung cộng với tác dụng co cơ tử cung của prostaglandin sẽ đƣợc đẩy ra ngoài qua đƣờng âm đạo [16]. Sau khoảng 48 giờ kể từ khi xảy ra hiện tƣợng chảy máu, toàn bộ lớp niêm mạc chức năng bong ra [1]. Niêm mạc tử cung bong không đều tại các vùng khác nhau trong tử cung.
Có nơi bong rồi, có nơi đang bong và có nơi chƣa bong chứ không cùng một lúc. Chính vì thế một cuộc hành kinh kéo dài từ 3 – 7 ngày, trung bình khoảng 5,2 ngày [5], [16]. Máu kinh nguyệt là máu không đông. Máu kinh không chỉ là máu đơn thuần mà là một hỗn dịch máu không đông chứa cả chất nhầy của tử cung, của cổ tử cung, vòi trứng, những mảnh niêm mạc tử cung, những tế bào bong của âm đạo.
Máu kinh chứa những lƣợng quan trọng protein, các chất men và các prostaglandin. Máu kinh có mùi hơi nồng, không tanh nhƣ máu chảy [1]. Trong trƣờng hợp cƣờng kinh, do hiện tƣợng bong niêm mạc và chảy máu xảy ra quá nhanh nên trong máu kinh nguyệt có thể có những cục máu đông. Sau khi ngừng chảy máu, niêm mạc lại đƣợc tái tạo dƣới tác dụng của estrogen đƣợc bài tiết từ các nang noãn phát triển ở buồng trứng trong chu kỳ mới [16].
6 Thời gian chảy máu trung bình mỗi chu kỳ là 3 – 5 ngày. Sau khi ngừng chảy máu, niêm mạc lại đƣợc tái tạo dƣới tác dụng của estrogen đƣợc bài tiết từ các nang noãn phát triển ở buồng trứng trong chu kỳ mới. Không có mối liên quan giữa độ dài kỳ kinh và lƣợng máu kinh [16]. Lƣợng máu trung bình trong mỗi chu kỳ kinh là 38,13 ± 24,76 ml.
Lƣợng kinh nhiều là tổng lƣợng trên 150 ml trong cả kỳ hành kinh, phải thay băng vệ sinh nhiều lần trong ngày, băng vệ sinh ƣớt hết. Lƣợng kinh ít khi lƣợng máu kinh rất ít, ít thay băng vệ sinh trong ngày, không ƣớt hết băng. Thời kỳ dậy thì ở phụ nữ Ở nữ giới, trong thời kỳ bào thai cũng nhƣ sau khi sinh, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận đƣợc những kích thích phù hợp từ tuyến yên. Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện bằng sự phát triển nang noãn và bài tiết hormon sinh dục nữ dẫn đến những thay đổi về thể chất, tâm lý, sự trƣởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh dục [16].
Khi vùng dƣới đồi chín muồi, chế tiết đầy đủ hormone giải phóng Gr- RH để kích thích đầy đủ tuyến yên chế tiết các hormone hƣớng sinh dục FSH và LH từ đó kích thích buồng trứng sản sinh ra hormone sinh dục nữ là estrogen, progesteron làm thay đổi rõ rệt niêm mạc tử cung dẫn đến kinh nguyệt, ngƣời thiếu nữ hành kinh lần đầu tiên và bƣớc vào tuổi dậy thì. Vì vậy tuổi dậy thì về sinh dục đƣợc đánh dấu bằng kỳ hành kinh đầu tiên [1]. Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm mà là một khoảng thời gian. Khoảng thời gian này có thể thay đổi theo từng cá thể nhƣng thƣờng kéo dài 3-4 năm.
Ở Việt Nam, tuổi dậy thì thƣờng từ 8 – 10 tuổi. Thời điểm dậy thì đƣợc đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên, ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 13 – 14 tuổi sớm hơn những thập kỷ của thế kỷ trƣớc khoảng 2 năm [16]. Đại cươn về T ốn kin ái niệm T ống kinh: Kinh nguyệt là hiện tƣợng chảy máu có tính chất chu kỳ hàng tháng từ tử cung ra ngoài do bong niêm mạc tử cung dƣới ảnh hƣởng của sự tụt đột ngột estrogen và progesterone trong cơ thể [1]. Ðộ dài của chu kỳ kinh nguyệt đƣợc tính bằng khoảng thời gian giữa hai ngày chảy máu đầu tiên của hai chu kỳ kế tiếp nhau.
Ở phụ nữ Việt Nam độ dài chu kì kinh nguyệt là 28 – 30 ngày [16]. Chu kỳ kinh có thể thay đổi giữa ngƣời này với ngƣời khác nhƣng ít thay đổi ở cùng một ngƣời trong độ tuổi hoạt động tình dục. Thống kinh cơ năng là hiện tƣợng đau bụng xảy ra khi hành kinh, có tính chất lặp lại và không có tổn thƣơng vùng chậu có thể xác định đƣợc [1]. Ðau là một cảm nhận thuộc về giác quan và xúc cảm do tổn thƣơng đang tồn tại hoặc tiềm tàng ở các mô gây nên và phụ thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của tổn thƣơng ấy [15].
Phân loại Thống kinh đƣợc phân làm hai loại, thống kinh nguyên phát và thống kinh thứ phát. Thống kinh nguyên phát xảy ra ở tuổi dậy thì, ngay vòng kinh đầu tiên có phóng noãn, không có tổn thƣơng thực thể. Thống kinh thứ phát xảy ra sau nhiều năm hành kinh không đau, nay mới đau, còn gọi là thống kinh muộn, thống kinh mắc phải. Thống kinh thứ phát thƣờng do những nguyên nhân thực thể nhƣ tử cung đổ sau, chít lỗ cổ tử cung, u xơ tử cung ở eo từ cung làm cho máu kinh khó thoát ra.
Lạc nội mạc tử cung (endometriosis) là nguyên nhân thực thể rõ nét nhất gây thống kinh, do máu kinh bị ứ ở những ổ có niêm mạc tử cung lạc chỗ [1]. Thốn kin cơ năn Ít phụ nữ khi hành kinh không có dấu hiệu gì, thông thƣờng những dấu hiệu khó chịu của hành kinh không nặng nề và ngƣời phụ nữ có thể chịu đựng đƣợc nhƣ hơi mỏi lƣng, hơi cuộn bụng trƣớc hoặc trong khi hành kinh và nhiều trƣờng hợp hết cảm giác khó chịu ngay sau khi máu kinh chảy ra [1]. Thống kinh có thể kèm theo các triệu chứng nhƣ buồn nôn, nôn, ỉa chảy, sốt, đau đầu, hạ huyết áp thậm chí ngất xỉu. Cơ chế gây đau của thống kinh cơ năng Hiện có nhiều giả thiết đƣa ra nhằm giải thích hiện tƣợng thống kinh cơ năng gồm [5]: + Thuyết co thắt: trƣơng lực co thắt eo, cổ tử cung thay đổi theo nồng độ progesteron, mở ra khi phóng noãn và đóng lại trong giai đoạn hoàng thể.
Hiện tƣợng mở của cơ thắt trùng lặp với thời điểm tụt nồng độ progesteron. Chậm mở cổ tử cung có thể là nguyên nhân gây đau, ở nhiều ngƣời bị thống kinh là do sự chậm mở này. Yếu tố nội tiết: Prostaglandin có tác dụng kích thích gây cơn co tử cung. Niêm mạc tử cung tổng hợp ra các prostaglandin, PgE2 và PgF2α gây co tử cung, gây ra thống kinh.
Thực nghiệm cho thấy các thuốc kích thích cơ quan cảm thụ beta ức chế sự tổng hợp prostaglandin làm mất co bóp tử cung và thiếu máu cũng nhƣ đau đớn do các hiện tƣợng này gây ra [5]. Cơ tử cung và eo tử cung thay đổi có chu kỳ. Trong giai đoạn estrogen, cơ tử cung có những cơn co mau và nhẹ. Trong giai đoạn progesteron thƣa hơn nhƣng mạnh hơn.
Đối với eo tử cung, ngƣời ta cũng thấy estrogen có tác dụng làm mềm và đàn hồi. Dƣới tác dụng của progesteron, niêm mạc tử cung chế tiết prostaglandin F2α. Prostaglandin F2α có hàm lƣợng tƣơng đối cao trong huyết tƣơng và trong máu kinh của ngƣời thống kinh so với ngƣời không bị thống kinh [1]. 9 Ngoài ra, Vasopressin của tuyến yên có thể gây co tử cung và làm giảm dòng máu tới tử cung, trong trƣờng hợp thống kinh thấy tỷ lệ vasopressin tăng lên.
Về mặt sinh lý, nồng độ vasopressin đạt tối đa ở giữa vòng kinh [1]. + Yếu tố thần kinh: Mạng thần kinh giao cảm phong phú chi phối tử cung và các mạch máu của nó, khi kích thích sẽ gây co cơ và giãn mạch. Bên cạnh đó, có mạng thần kinh độc lập thứ hai xuất phát từ các hạch ngoại biên ở cạnh tử cung, đƣợc gọi là noron ngắn hệ adrenergic. Hệ thống thần kinh thứ hai này thoái hóa trong lúc có thai và mất đi khi thai đủ tháng.
Sau thai nghén các sợi thần kinh này đƣợc tái tạo không hoàn chỉnh. Đó là những lý do giải thích thai nghén đã làm khỏi hoàn toàn thống kinh nguyên phát [5]. + Thuyết xung huyết: đã lý giải hiện tƣợng thống kinh ở những ngƣời bị nhiễm khuẩn, thay đổi sự cân bằng các tạng ở tiểu khung. Hiện tƣợng tăng lên do xung huyết sinh lý trƣớc kinh và các yếu tố gây ứ đọng trong tiểu khung nhƣ táo bón, đứng lâu Đau trong thống kinh cơ năng không có nguyên nhân nhƣng các yếu tố: cổ tử cung, nội tiết, thần kinh và tâm lý đều có ảnh hƣởng đến phát sinh đau [5].
+ Thuyết thiếu máu: tử cung co bóp khi hành kinh cần có nhiều máu, một sự tắc nghẽn khi nhu cầu tăng lên sẽ gây ra thiếu máu tƣơng đối và thống kinh. Sự tắc nghẽn này có thể là hai loại: suy yếu hệ thống mạch, kết hợp với tử cung kém phát triển hoặc do co thắt các mạch máu ở cổ tử cung trong lúc co thắt mạch máu ở niêm mạc tử cung để gây ra hiện tƣợng hành kinh.