Đánh giá hiệu quả của bài thuốc CTH trong điều trị thống kinh cơ năng - Luận văn thạc sĩ

Luận văn : đánh giá hiệu quả bài thuốc cth điều trị thống kinh cơ năng đánh giá thực trạng, đề xuất mô hình cải tiến phù hợp thực tế Việt Nam

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đánh giá hiệu quả bài thuốc CTH

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của bài thuốc CTH trong điều trị thống kinh cơ năng. Bài thuốc này được nghiên cứu dựa trên cơ sở bài cổ phương Hoàng kỳ kiến trung thang, đã được ứng dụng tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Tuệ Tĩnh. Kết quả ban đầu cho thấy bài thuốc có hiệu quả cao trong việc giảm đau bụng kinh và cải thiện các triệu chứng liên quan. Nghiên cứu này nhằm đánh giá một cách khoa học để chứng minh tác dụng của bài thuốc, đồng thời theo dõi các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

1.1. Hiệu quả bài thuốc

Hiệu quả bài thuốc được đánh giá thông qua các chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả cho thấy bài thuốc CTH giúp giảm đáng kể mức độ đau bụng kinh, cải thiện chu kỳ kinh nguyệt và giảm các triệu chứng kèm theo như buồn nôn, đau đầu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bài thuốc có tác dụng tích cực trong việc điều hòa nội tiết tố, giúp giảm thiểu các cơn đau do thống kinh cơ năng.

1.2. Tác dụng không mong muốn

Trong quá trình nghiên cứu, các tác dụng không mong muốn của bài thuốc CTH cũng được theo dõi chặt chẽ. Kết quả cho thấy bài thuốc có độ an toàn cao, không gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng nhẹ như chóng mặt hoặc khó chịu nhẹ ở dạ dày, nhưng các triệu chứng này không ảnh hưởng lớn đến quá trình điều trị.

II. Điều trị thống kinh cơ năng

Thống kinh cơ năng là một vấn đề phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Luận văn này tập trung vào việc điều trị thống kinh cơ năng bằng bài thuốc CTH, một phương pháp điều trị từ Y học cổ truyền. Nghiên cứu đã chứng minh rằng bài thuốc không chỉ giúp giảm đau mà còn điều hòa chu kỳ kinh nguyệt, cải thiện sức khỏe sinh sản của phụ nữ.

2.1. Cơ chế điều trị

Cơ chế điều trị của bài thuốc CTH dựa trên việc điều hòa nội tiết tố và giảm sản xuất prostaglandin, một chất gây co thắt tử cung dẫn đến đau bụng kinh. Bài thuốc cũng có tác dụng làm giãn cơ trơn tử cung, giúp giảm đau hiệu quả. Ngoài ra, các thành phần trong bài thuốc còn có tác dụng bổ huyết, điều hòa khí huyết, giúp cải thiện tình trạng thống kinh một cách toàn diện.

2.2. So sánh với phương pháp hiện đại

So với các phương pháp điều trị thống kinh bằng thuốc giảm đau NSAIDs hoặc thuốc tránh thai, bài thuốc CTH mang lại hiệu quả lâu dài và ít tác dụng phụ hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bài thuốc có thể được sử dụng như một phương pháp thay thế hoặc bổ sung cho các phương pháp điều trị hiện đại, đặc biệt là đối với những bệnh nhân không đáp ứng tốt với thuốc Tây y.

III. Thống kinh cơ năng và các vấn đề liên quan

Thống kinh cơ năng là hiện tượng đau bụng xảy ra khi hành kinh mà không có tổn thương thực thể ở vùng chậu. Luận văn này phân tích sâu về các yếu tố gây ra thống kinh cơ năng, bao gồm yếu tố nội tiết, thần kinh và cơ chế co thắt tử cung. Nghiên cứu cũng đề cập đến các phương pháp điều trị hiện có và vai trò của bài thuốc CTH trong việc cải thiện tình trạng này.

3.1. Yếu tố nội tiết

Yếu tố nội tiết đóng vai trò quan trọng trong cơ chế gây ra thống kinh cơ năng. Sự tăng cao của prostaglandin và vasopressin trong máu kinh là nguyên nhân chính gây co thắt tử cung và đau bụng kinh. Bài thuốc CTH có tác dụng ức chế sản xuất prostaglandin, giúp giảm đau và cải thiện tình trạng thống kinh.

3.2. Yếu tố thần kinh

Yếu tố thần kinh cũng được đề cập trong nghiên cứu này. Sự kích thích của hệ thần kinh giao cảm có thể gây co cơ tử cung và giãn mạch, dẫn đến đau bụng kinh. Bài thuốc CTH có tác dụng làm giãn cơ trơn tử cung, giúp giảm đau hiệu quả và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu một chu kỳ mới, một vòng kinh mới. Đó là cơ chế hồi tác (feed-back). Sự hành kinh đều đặn là điều chứng tỏ cơ chế feed-back đƣợc thực hiện tốt do các tuyến nội tiết là tuyến yên, buồng trứng đều hoạt động, chế tiết tốt, đủ nồng độ hormon ức chế vùng dƣới đồi. Nếu không có hiện tƣợng thụ tinh thì khoảng 2 ngày cuối cùng của chu kỳ, hoàng thể đột nhiên bị thoái hóa sau.

Sau phóng noãn nồng độ estrogen và progesterone đột ngột giảm xuống mức thấp nhất và gây ra hiện tƣợng kinh nguyệt [1]. 1 1 2 Đặc điểm và tính chất của kinh nguyệt Sự biến đổi ở niêm mạc tử cung hàng tháng trải qua hai giai đoạn, đó là giai đoạn tăng sinh và giai đoạn bài tiết và kinh nguyệt là kết quả của hai giai đoạn biến đổi này. Nồng độ estrogen và progesteron đột ngột giảm làm bong niêm mạc tử cung và gây ra hiện tƣợng kinh nguyệt nếu không có hiện tƣợng thụ tinh [16]. 5 Do nồng độ hai hormon giảm, niêm mạc tử cung bị thoái hóa tới 65% chiều dày.

Các động mạch xoắn co thắt do tác dụng của các sản phẩm bài tiết từ niêm mạc bị thoái hóa mà một trong những sản phẩm đó là prostaglandin. Một mặt do các động mạch nuôi dƣỡng lớp niêm mạc chức năng bị co thắt gây tình trạng thiếu máu, mặt khác do thiếu tác dụng kích thích của hai hormon nên lớp niêm mạc này bắt đầu hoại tử đặc biệt là các mạch máu. Kết quả của những biến đổi này là mạch máu bị tổn thƣơng và máu chảy đọng lại dƣới lớp niêm mạc chức năng. Vùng chảy máu lan rộng nhanh trong 34 – 36 giờ.

Tiếp theo đó lớp niêm mạc bị hoại tử sẽ tách khỏi tử cung ở những vùng chảy máu. Khối mô bị bong ra, dịch và máu trong khoang tử cung cộng với tác dụng co cơ tử cung của prostaglandin sẽ đƣợc đẩy ra ngoài qua đƣờng âm đạo [16]. Sau khoảng 48 giờ kể từ khi xảy ra hiện tƣợng chảy máu, toàn bộ lớp niêm mạc chức năng bong ra [1]. Niêm mạc tử cung bong không đều tại các vùng khác nhau trong tử cung.

Có nơi bong rồi, có nơi đang bong và có nơi chƣa bong chứ không cùng một lúc. Chính vì thế một cuộc hành kinh kéo dài từ 3 – 7 ngày, trung bình khoảng 5,2 ngày [5], [16]. Máu kinh nguyệt là máu không đông. Máu kinh không chỉ là máu đơn thuần mà là một hỗn dịch máu không đông chứa cả chất nhầy của tử cung, của cổ tử cung, vòi trứng, những mảnh niêm mạc tử cung, những tế bào bong của âm đạo.

Máu kinh chứa những lƣợng quan trọng protein, các chất men và các prostaglandin. Máu kinh có mùi hơi nồng, không tanh nhƣ máu chảy [1]. Trong trƣờng hợp cƣờng kinh, do hiện tƣợng bong niêm mạc và chảy máu xảy ra quá nhanh nên trong máu kinh nguyệt có thể có những cục máu đông. Sau khi ngừng chảy máu, niêm mạc lại đƣợc tái tạo dƣới tác dụng của estrogen đƣợc bài tiết từ các nang noãn phát triển ở buồng trứng trong chu kỳ mới [16].

6 Thời gian chảy máu trung bình mỗi chu kỳ là 3 – 5 ngày. Sau khi ngừng chảy máu, niêm mạc lại đƣợc tái tạo dƣới tác dụng của estrogen đƣợc bài tiết từ các nang noãn phát triển ở buồng trứng trong chu kỳ mới. Không có mối liên quan giữa độ dài kỳ kinh và lƣợng máu kinh [16]. Lƣợng máu trung bình trong mỗi chu kỳ kinh là 38,13 ± 24,76 ml.

Lƣợng kinh nhiều là tổng lƣợng trên 150 ml trong cả kỳ hành kinh, phải thay băng vệ sinh nhiều lần trong ngày, băng vệ sinh ƣớt hết. Lƣợng kinh ít khi lƣợng máu kinh rất ít, ít thay băng vệ sinh trong ngày, không ƣớt hết băng. Thời kỳ dậy thì ở phụ nữ Ở nữ giới, trong thời kỳ bào thai cũng nhƣ sau khi sinh, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận đƣợc những kích thích phù hợp từ tuyến yên. Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện bằng sự phát triển nang noãn và bài tiết hormon sinh dục nữ dẫn đến những thay đổi về thể chất, tâm lý, sự trƣởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh dục [16].

Khi vùng dƣới đồi chín muồi, chế tiết đầy đủ hormone giải phóng Gr- RH để kích thích đầy đủ tuyến yên chế tiết các hormone hƣớng sinh dục FSH và LH từ đó kích thích buồng trứng sản sinh ra hormone sinh dục nữ là estrogen, progesteron làm thay đổi rõ rệt niêm mạc tử cung dẫn đến kinh nguyệt, ngƣời thiếu nữ hành kinh lần đầu tiên và bƣớc vào tuổi dậy thì. Vì vậy tuổi dậy thì về sinh dục đƣợc đánh dấu bằng kỳ hành kinh đầu tiên [1]. Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm mà là một khoảng thời gian. Khoảng thời gian này có thể thay đổi theo từng cá thể nhƣng thƣờng kéo dài 3-4 năm.

Ở Việt Nam, tuổi dậy thì thƣờng từ 8 – 10 tuổi. Thời điểm dậy thì đƣợc đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên, ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 13 – 14 tuổi sớm hơn những thập kỷ của thế kỷ trƣớc khoảng 2 năm [16]. Đại cươn về T ốn kin ái niệm T ống kinh: Kinh nguyệt là hiện tƣợng chảy máu có tính chất chu kỳ hàng tháng từ tử cung ra ngoài do bong niêm mạc tử cung dƣới ảnh hƣởng của sự tụt đột ngột estrogen và progesterone trong cơ thể [1]. Ðộ dài của chu kỳ kinh nguyệt đƣợc tính bằng khoảng thời gian giữa hai ngày chảy máu đầu tiên của hai chu kỳ kế tiếp nhau.

Ở phụ nữ Việt Nam độ dài chu kì kinh nguyệt là 28 – 30 ngày [16]. Chu kỳ kinh có thể thay đổi giữa ngƣời này với ngƣời khác nhƣng ít thay đổi ở cùng một ngƣời trong độ tuổi hoạt động tình dục. Thống kinh cơ năng là hiện tƣợng đau bụng xảy ra khi hành kinh, có tính chất lặp lại và không có tổn thƣơng vùng chậu có thể xác định đƣợc [1]. Ðau là một cảm nhận thuộc về giác quan và xúc cảm do tổn thƣơng đang tồn tại hoặc tiềm tàng ở các mô gây nên và phụ thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của tổn thƣơng ấy [15].

Phân loại Thống kinh đƣợc phân làm hai loại, thống kinh nguyên phát và thống kinh thứ phát. Thống kinh nguyên phát xảy ra ở tuổi dậy thì, ngay vòng kinh đầu tiên có phóng noãn, không có tổn thƣơng thực thể. Thống kinh thứ phát xảy ra sau nhiều năm hành kinh không đau, nay mới đau, còn gọi là thống kinh muộn, thống kinh mắc phải. Thống kinh thứ phát thƣờng do những nguyên nhân thực thể nhƣ tử cung đổ sau, chít lỗ cổ tử cung, u xơ tử cung ở eo từ cung làm cho máu kinh khó thoát ra.

Lạc nội mạc tử cung (endometriosis) là nguyên nhân thực thể rõ nét nhất gây thống kinh, do máu kinh bị ứ ở những ổ có niêm mạc tử cung lạc chỗ [1]. Thốn kin cơ năn Ít phụ nữ khi hành kinh không có dấu hiệu gì, thông thƣờng những dấu hiệu khó chịu của hành kinh không nặng nề và ngƣời phụ nữ có thể chịu đựng đƣợc nhƣ hơi mỏi lƣng, hơi cuộn bụng trƣớc hoặc trong khi hành kinh và nhiều trƣờng hợp hết cảm giác khó chịu ngay sau khi máu kinh chảy ra [1]. Thống kinh có thể kèm theo các triệu chứng nhƣ buồn nôn, nôn, ỉa chảy, sốt, đau đầu, hạ huyết áp thậm chí ngất xỉu. Cơ chế gây đau của thống kinh cơ năng Hiện có nhiều giả thiết đƣa ra nhằm giải thích hiện tƣợng thống kinh cơ năng gồm [5]: + Thuyết co thắt: trƣơng lực co thắt eo, cổ tử cung thay đổi theo nồng độ progesteron, mở ra khi phóng noãn và đóng lại trong giai đoạn hoàng thể.

Hiện tƣợng mở của cơ thắt trùng lặp với thời điểm tụt nồng độ progesteron. Chậm mở cổ tử cung có thể là nguyên nhân gây đau, ở nhiều ngƣời bị thống kinh là do sự chậm mở này.  Yếu tố nội tiết: Prostaglandin có tác dụng kích thích gây cơn co tử cung. Niêm mạc tử cung tổng hợp ra các prostaglandin, PgE2 và PgF2α gây co tử cung, gây ra thống kinh.

Thực nghiệm cho thấy các thuốc kích thích cơ quan cảm thụ beta ức chế sự tổng hợp prostaglandin làm mất co bóp tử cung và thiếu máu cũng nhƣ đau đớn do các hiện tƣợng này gây ra [5]. Cơ tử cung và eo tử cung thay đổi có chu kỳ. Trong giai đoạn estrogen, cơ tử cung có những cơn co mau và nhẹ. Trong giai đoạn progesteron thƣa hơn nhƣng mạnh hơn.

Đối với eo tử cung, ngƣời ta cũng thấy estrogen có tác dụng làm mềm và đàn hồi. Dƣới tác dụng của progesteron, niêm mạc tử cung chế tiết prostaglandin F2α. Prostaglandin F2α có hàm lƣợng tƣơng đối cao trong huyết tƣơng và trong máu kinh của ngƣời thống kinh so với ngƣời không bị thống kinh [1]. 9 Ngoài ra, Vasopressin của tuyến yên có thể gây co tử cung và làm giảm dòng máu tới tử cung, trong trƣờng hợp thống kinh thấy tỷ lệ vasopressin tăng lên.

Về mặt sinh lý, nồng độ vasopressin đạt tối đa ở giữa vòng kinh [1]. + Yếu tố thần kinh: Mạng thần kinh giao cảm phong phú chi phối tử cung và các mạch máu của nó, khi kích thích sẽ gây co cơ và giãn mạch. Bên cạnh đó, có mạng thần kinh độc lập thứ hai xuất phát từ các hạch ngoại biên ở cạnh tử cung, đƣợc gọi là noron ngắn hệ adrenergic. Hệ thống thần kinh thứ hai này thoái hóa trong lúc có thai và mất đi khi thai đủ tháng.

Sau thai nghén các sợi thần kinh này đƣợc tái tạo không hoàn chỉnh. Đó là những lý do giải thích thai nghén đã làm khỏi hoàn toàn thống kinh nguyên phát [5]. + Thuyết xung huyết: đã lý giải hiện tƣợng thống kinh ở những ngƣời bị nhiễm khuẩn, thay đổi sự cân bằng các tạng ở tiểu khung. Hiện tƣợng tăng lên do xung huyết sinh lý trƣớc kinh và các yếu tố gây ứ đọng trong tiểu khung nhƣ táo bón, đứng lâu Đau trong thống kinh cơ năng không có nguyên nhân nhƣng các yếu tố: cổ tử cung, nội tiết, thần kinh và tâm lý đều có ảnh hƣởng đến phát sinh đau [5].

+ Thuyết thiếu máu: tử cung co bóp khi hành kinh cần có nhiều máu, một sự tắc nghẽn khi nhu cầu tăng lên sẽ gây ra thiếu máu tƣơng đối và thống kinh. Sự tắc nghẽn này có thể là hai loại: suy yếu hệ thống mạch, kết hợp với tử cung kém phát triển hoặc do co thắt các mạch máu ở cổ tử cung trong lúc co thắt mạch máu ở niêm mạc tử cung để gây ra hiện tƣợng hành kinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ: Đánh giá hiệu quả bài thuốc CTH điều trị thống kinh cơ năng là một nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả của bài thuốc CTH trong việc điều trị chứng thống kinh cơ năng, một vấn đề sức khỏe phổ biến ở phụ nữ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp bằng chứng khoa học về tác dụng của bài thuốc mà còn mở ra hướng điều trị mới, an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ và những ai quan tâm đến y học cổ truyền và sức khỏe phụ nữ.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị liên quan đến sức khỏe phụ nữ, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định genotype HPV, nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị nhiễm HPV ở phụ nữ. Ngoài ra, Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan cung cấp thêm góc nhìn về sức khỏe sản phụ. Để hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị hiện đại, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn là tài liệu đáng tham khảo. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan.