Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với viên chức ngành giáo dục ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách tinh giản biên chế đối với viên chức ngành giáo dục ở huyện Mê Linh,thành phố Hà Nội 8 e Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chính sách công, chính sách tinh giản biên chế 1. Chính sách công Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý.
Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan.
Chính sách công là chính sách của Nhà nước, cũng như pháp luật chính sách công ra đời từ khi có Nhà nước. Trên thế giới có rất nhiều học giả đưa ra những quan điểm khác nhau về khái niệm chính sách công. Cụ thể có một số quan điểm tiêu biển như sau: - Theo B.Guy Peter “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”. Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là Nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là cộng đồng.
Theo học giả William Jenkin: “Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một Nhà chính trị hay một nhóm Nhà chính trị 9 e gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đó”. Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện các quyết định các vấn đề xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”. Từ những nhận định trên, định nghĩa chính sách công có thể đưa ra ở góc độ như sau: Định nghĩa chính sách công theo nghĩa hẹp: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có mối liên hệ với nhau của Nhà nước với mục tiêu, giải pháp, công cụ thực hiện cụ thể, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền. Định nghĩa chính sách công theo nghĩa rộng: Chính sách công là chính sách của Nhà nước, là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền hành các quyết định, với mục tiêu, giải pháp, công cụ thực hiện cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát riển của Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và phục vụ người dân.
Chính sách tinh giản biên chế Dựa trên những kiến thức cơ bản về chính sách công và các quan niệm về biên chế, tinh giản biên chế ta có thể hiểu: Chính sách tinh giản biên chế là những quy định của Nhà nước nhằm giải quyết vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng biên chế trong cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập từ đó tiến hành sắp xếp và đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng được yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác 10 e và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế. Thực hiện chính sách tinh giản biên chế được hiểu là tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý hằm đạt mục tiêu nhất định. Tổ chức thực thi chính sách tinh giản biên chế là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống. Hoạch định được chính sách tinh giản biên chế đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách tinh giản biên chế còn quan trọng hơn.
Xây dựng được chính sách tinh giản biên chế đúng, có chất lượng nhưng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước). Nếu chính sách tinh giản biên chế không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý. Viên chức, viên chức sự nghiệp giáo dục 1.
Viên chức Điều 2, Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [30]. Từ khái niệm nêu trên, Viên chức có những đặc điểm cơ bản sau đây Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam. Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức 11 e là vị trí việc làm.
Ngoài ra, Điều 20, Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau:“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” [30]. Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”. Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển (Điều 23 Luật Viên chức năm 2010) [30].
Ví dụ: Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội, Bác sĩ khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai… Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập theo khoản 1, Điều 9, Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [30]. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); - Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ). 12 e Ví dụ: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bệnh Viện Bạch Mai, Trường Đại học Y Hà Nội,.
Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Điều đó được hiểu là giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên. Lương của Viên chức được nhận từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập nơi họ làm việc chứ không phải từ Nhà nước.
Viên chức sự nghiệp giáo dục Trên cơ sở quan niệm về viên chức nói chung, có thể hiểu, viên chức giáo dục là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các cơ sở giáo dục công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của cơ sở giáo dục công lập theo quy định của pháp luật. Viên chức giáo dục gắn liền với tên gọi về chức danh nghề nghiệp. Viên chức giáo dục bao gồm viên chức làm công tác quản lý, viên chức giáo viên và những nhân viên. Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm chức vụ quản lý có thời hạn.
Chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. Viên chức giáo viên là những người thực hiện công tác mang tính chuyên môn nghiệp vụ (giảng dạy) trong các cơ sở giáo dục công lập. Ngoài ra, viên chức giáo dục còn là những nhân viên 13 e trong cơ sở giáo dục công lập như: Thủ quỹ, kế toán, văn phòng, nhân viên phòng thí nghiệm…) Viên chức giáo dục phần lớn là giáo viên, nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo. Đội ngũ viên chức giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh, là lực lượng cốt cán biến mục tiêu giáo dục thành hiện thực.