CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN TÀI TRỢ NGẮN HẠN 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan tới nguồn tài trợ ngắn hạn. Khái niệm và phân loại các nguồn tài trợ. Khái niệm Sau khi đã quyết định đầu tư, một trong những quyết định quan trọng tiếp theo mà nhà quản trị tài chính trong của doanh nghiệp cần quan tâm đó là quyết định tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư đó.
Có nhiều khái niệm về nguồn tài trợ: Khái niệm 1, nguồn tài trợ là nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thường xuyên và hiệu quả. Khái niệm 2, nguồn tài trợ của doanh nghiệp là các nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác, huy động để đáp ứng nhu cầu vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm 3, nguồn tài trợ của doanh nghiệp là nguồn vốn của doanh nghiệp cho nhu cầu vốn đầu tư nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thường xuyên và liên tục. Khóa luận sử dụng cả ba khái niệm trên trong quá trình tìm hiểu và phân tích quản trị nguồn tài trợ ngắn hạn vì chúng đều chỉ ra được đặc điểm vai trò của nguồn tài trợ trong doanh nghiệp.
Phân loại các nguồn tài trợ trong doanh nghiệp. Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác nhau, người ta chia nguồn tài trợ trong doanh nghiệp thành các loại tài trợ khác nhau. Tiêu thức phân STT Các loại tài trợ loại - Nợ phải trả 1 Tính sở hữu - Vốn chủ sở hữu - Nguồn vốn nội sinh như: Khấu hao, lợi nhuận để lại 2 Phạm vi phát sinh - Nguồn vốn ngoại sinh như: Vay các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả khách hàng, phải nộp Nhà nước. - Nguồn tài trợ ngắn hạn (dưới 1 năm) 3 Thời hạn sử dụng - Nguồn tài trợ dài hạn (trên 1 năm) SVTH: Trương Thị Mai Hiền – K48H4GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Thảo Trường ĐH Thương Mại 5 Khóa Luận Tốt Nghiệp Mỗi nguồn tài trợ có những đặc điểm khác nhau, do đó, cần phải có sự phân biệt rõ ràng để có hướng sử dụng hiệu quả, cũng như để có phương hướng tổ chức và huy động vốn hợp lý.
Nguồn tài trợ ngắn hạn và các nguồn tài trợ ngắn hạn trong doanh nghiệp. Khái niệm nguồn tài trợ ngắn hạn. Theo giáo trình Quản trị tài chính, trường Đại học Thương Mại, nhà xuất bản thống kê năm 2011 – Tài trợ ngắn hạn là nguồn tài trợ bao gồm các nguồn vốn có thời gian hoàn trả trong vòng 1 năm của doanh nghiệp. Theo giáo trình Tài chính doanh nghiêp của TS.
Trần Đình Tuấn (chủ biên) – Các nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp thông thường là các nguồn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể tạm thời sử dụng. Phân biệt nguồn tài trợ ngắn hạn và nguồn tài trợ dài hạn. Nguồn tài trợ ngắn hạn và nguồn tài trợ dài hạn có những khác biệt cơ bản sau: Nguồn tài trợ ngắn hạn Nguồn tài trợ dài hạn Thời hạn hoàn Có thời hạn hoàn trả trong Có thời hạn đáo hạn dài hơn 1 trả vòng 1 năm năm Lãi suất của các khoản vay Lãi suất của các khoản vay dài Lãi suất ngắn hạn thường thấp hơn các hạn thường cao hơn các khoản khoản vay dài hạn vay ngắn hạn Không phải trả lãi cho những Phải trả lãi cho tất cả các loại tài nguồn tài trợ ngắn hạn được trợ dài hạn mà doanh nghiệp Lãi phải trả các nhà cung cấp tài trợ và các nhận được như vay dài hạn ngân hình thức tín dụng thương mại hàng, phát hành trái phiếu… SVTH: Trương Thị Mai Hiền – K48H4GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Thảo Trường ĐH Thương Mại 6 Khóa Luận Tốt Nghiệp 1. Các nguồn tài trợ ngắn hạn trong doanh nghiệp.
Các loại tài trợ ngắn STT Nội dung hạn Nợ tích lũy là các khoản phải trả cho người lao động và các khoản phải nộp khác, những khoản này phát sinh thường xuyên trong hoạt động kinh doanh, tuy nhiên chúng chưa đến kỳ thanh toán. (Theo giáo trình Quản trị tài chính, trường đại học Thương Mại, nhà xuất bản thống kê năm 2011) Nợ tích lũy (nguồn Nợ tích lũy được xem như là một nguồn tài trợ miễn phí, vì 1 vốn coi như tự có) doanh nghiệp có thể sử dụng tiền mà không phải trả lãi. Tuy nhiên, phạm vi ứng dụng của các khoản nợ tích lũy này là có giới hạn, bởi doanh nghiệp không thể trì hoãn quá lâu việc thanh toán lương và các khoản phải nộp Nhà nước, điều đó sẽ gây nhiều tác hại đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tín dụng thương mại là hoạt động sử dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có quan hệ giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ.
(Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp, học viện Tài Chính, nhà xuất bản tài chính năm 2013) Tín dụng thương mại là nguồn tài trợ tất yếu phát sinh do các Tín dụng thương mại hoạt động kinh doanh và nó thay đổi theo sự thay đổi của 2 (Tín dụng nhà cung doanh thu. Quy mô nguồn vốn tín dụng thương mại phụ thuộc cấp) vào số lượng hàng hóa, dịch vụ mua chịu và thời hạn mua chịu.Chi phí của nguồn tín dụng thương mại chính là giá trị của khoản chiết khấu mà doanh nghiệp bị mất đi khi không mua hàng trong thời hạn được hưởng chiết khấu. SVTH: Trương Thị Mai Hiền – K48H4GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Thảo Trường ĐH Thương Mại 7 Khóa Luận Tốt Nghiệp Hạn mức tín dụng hay thấu chi là một thỏa thuận giữa doanh nghiệp và ngân hàng mà theo đó, ngân hàng đồng ý tạo sẵn một khoản tín dụng nào đó cho doanh nghiệp mà không phải thế chấp. (Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp – TS.
Trần Hạn mức tín Đình Tuấn) dụng hay thấu Đây là hình thức tài trợ có chi phí thấp nhất đối với các doanh chi nghiệp. Song doanh nghiệp phải duy trì đảm bảo khả năng tài chính, đề phòng có thể phải trả lại những khoản vay này khi ngân hàng yêu cầu. Thỏa thuận tín dụng tuần hoàn cũng là một công cụ tài chính do ngân hàng thương mại sáng tạo ra để phục vụ các doanh nghiệp. Nó tương tự như hạn mức tín dụng, ngoại trừ những Tín dụng ngân hàng cam kết chính thức và mang tính pháp lý do ngân hàng đưa ra 3 để tài trợ cho doanh nghiệp theo tổng mức tín dụng tối đa đã Thỏa thuận tín thỏa thuận.
dụng tuần hoàn Theo hình thức vay này doanh nghiệp có nghĩa vụ trả cho ngân hàng một khoản chi phí sử dụng nguồn tài trợ trên toàn bộ hạn mức tín dụng đã thỏa thuận, đổi lại doanh nghiệp có quyền sử dụng nguồn tín dụng đã được tạo ra tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp nhận được đơn đặt hàng của khách hàng, doanh nghiệp có thể tiếp xúc với ngân hàng và yêu cầu ngân hàng cho vay một khoản tiền để tài trợ cho việc thực hiện hợp đồng. Tài trợ theo hợp Ngân hàng thường rất sẵn sàng tài trợ theo thể thức tài trợ đồng này, bởi vì khoản tiền họ cho vay được sử dụng để tài trợ cho một hợp đồng đã kí kết giữa doanh nghiệp mượn tiền và một doanh nghiệp lớn có uy tín và đáng tin cậy, ngân hàng được đảm bảo sẽ thu hồi đúng hạn. SVTH: Trương Thị Mai Hiền – K48H4GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Thảo Trường ĐH Thương Mại 8 Khóa Luận Tốt Nghiệp Một doanh nghiệp muốn nhận được một khoản vay ngắn hạn có thể tiếp xúc với ngân hàng hay công ty tài chính và đề nghị Vay có thế chấp sử dụng các hóa đơn thu tiền làm vật đảm bảo cho khoản vay.
bằng khoản phải Nếu ngân hàng quan tâm và đồng ý tài trợ cho doanh nghiệp, thu họ sẽ đánh giá chất lượng của các loại hóa đơn thu tiền của doanh nghiệp được dùng làm vật thế chấp và sau đó xác định khoản cho vay tương ứng với giá trị của khoản phải thu. Các định chế tài chính có thể mua những khoản phải thu và Nguồn tài trợ ngắn hạn có đảm bảo đây cũng là một phương pháp để gia tăng nguồn tín dụng ngắn hạn của doanh nghiệp. Các tổ chức mua nợ thường là ngân hàng, một công ty mua nợ. Sau khi việc mua bán hoàn tất, bên mua nợ sẽ có trách 4 Bán nợ nhiệm thu hồi những món nợ khó đòi theo các chứng từ đã mua và chịu mọi rủi ro khi gặp phải món nợ khó đòi.
Chi phí huy động vốn theo hình thức thỏa thuận mua nợ khá cao bởi nó bao gồm nhiều loại chi phí như chi phí kiểm tra tư cách tín dụng của khách hàng và những rủi ro không thu hồi được nợ. Bên cạnh các chứng từ bán hàng, các loại hàng hóa tài sản cũng thường được doanh nghiệp sử dụng để thế chấp cho những khoản vay ngắn hạn. Trị giá của khoản vay thuộc loại thế chấp này tùy thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng chuyển Vay có thế chấp đổi nhanh và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hóa thế bằng hàng hóa chấp. 5 Chiết khấu thương Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu phiếu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định.
Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ qua đó ngân hàng dành cho khách hàng được quyền sử dụng cho đến kì hạn của SVTH: Trương Thị Mai Hiền – K48H4GVHD: Th.S Nguyễn Thị Minh Thảo Trường ĐH Thương Mại 9 Khóa Luận Tốt Nghiệp thương phiếu một khoản tiền được xác định trên cơ sở giá trị danh nghĩa của thương phiếu sau khi đã trừ đi khoản lãi phải thu (tức tiền chiết khấu và các khoản chi phí chiết khấu) Có nhiều định nghĩa về bao thanh toán: Theo công ước về Bao thanh toán của UNIDROIT 1998 - thì “ Bao thanh toán là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng gồm cho vay/ứng trước tiền hàng, quản lý sổ sách liên quan đến khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, đảm bảo rủi ro không thanh toán của bên mua hàng” 6 Bao thanh toán Theo hiệp hội bao thanh toán thế giới (FCI) – “Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói, bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ”.