Chương 1 Chương này, tác giả đã trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó tác giả còn tiến hành lược khảo các công trình nghiên cứu trong nước và những công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.Giới thiệu về tỉnh Trà Vinh 8 Trà Vinh là một tỉnh ven biển phía Đông Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, tiếp giáp với các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng, có bờ biển dài 65 km, với diện tích tự nhiên là 2.358 km2, gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 07 huyện, có 02 cửa biển là Cung Hầu và Định An là tuyến hàng hải quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long thông thương ra biển Đông kết nối với quốc tế. Tỉnh Trà Vinh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bị ảnh hưởng bởi bão và lũ, có cao độ nền cao hơn so với các vùng lân cận.
Với dân số toàn tỉnh khoản 1,1 triệu người, trong đó người trong độ tuổi lao động chiếm 59% và lao động có tay nghề chiếm 34%. Theo quy hoạch được phê duyệt, Trà Vinh hiện có Khu kinh tế Định An với diện tích 39.020 ha và 03 Khu công nghiệp gồm: Long Đức (đang trong hoạt động), Cầu Quan, Cổ Chiên [63]. Hiện tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện [60]. Hệ thống đào tạo của tỉnh gồm 01 trường Đại học, các Trường Cao đẳng Dạy nghề, Cao đẳng Y tế, Trung tâm Tin học – Ngoại ngữ, Trung tâm Công nghệ thông tin quốc tế NIIT và các cở sở dạy nghề với nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau, hàng năm cung ứng nhân lực có chất lượng cho các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.
Về tiềm năng phát triển, vì tỉnh Trà Vinh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, với 2 cửa Cung Hầu và Định An, là 2 cửa sông quan trọng của vùng ĐBSCL thông thương qua biển Đông với cả nước và quốc tế nên giao thông đường thủy có điều kiện phát triển, bên cạnh đó Trà Vinh còn có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển các ngành kinh tể biển và ven biển như công nghiệp, nông nghiệp, du lịch và các nhành kinh tế biển khác [63].Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Từ đầu năm 2023 đến nay, tỉnh Trà Vinh đã triển khai thực hiện hiệu quả chỉ đạo, điều hành của Trung Ươn về phát triển kinh tế - xã hội, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, tập trung toàn lực phấn đấu đạt kết quả cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng tăng trưởng 8,51%, đứng thứ 2 khu vực Đồng bằng sông Cửu Long [65]. Cụ thể: - Sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2023 cơ bản ổn định. Các DN không bị thiếu hụt lao động nên không ảnh hướng đến việc sản xuất. 9 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 4 tháng đầu năm ước đạt 35,53% so kế hoạch, tăng 43,41% so với cùng kỳ năm 2022.
- Tình hình đầu tư công, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2023 là hơn 4.714 tỷ đồng, đã phân bổ chi tiết hết 100% kế hoạch vốn ngay từ đầu năm. Giải ngân đến ngày 4/5 là 932,885 tỷ đồng, đạt 19,8% kế hoạch. Trong đó, kế hoạch vốn Thủ tướng giao đầu năm giải ngân 891,503/4.463,233 tỷ đồng, đạt 20% kế hoạch (riêng vốn Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội giải ngân 65,568/366 tỷ đồng, đạt 17,9% kế hoạch. - Tình hình xây dựng hạ tầng, tích cực huy động, lồng ghép các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 10.822 tỷ đồng, đạt 33,82% kế hoạch và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước [58].CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.Một số khái niệm về doanh nghiệp Theo sách kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat, doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.Francois Peroux định nghĩa doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy [64]. Tại Việt Nam, Luật số 59/2020/QH14 của Quốc Hội về Luật Doanh nghiệp tại khoản 10 điều 4, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [61].Phân loại doanh nghiệp 10 Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp thì các loại hình doanh nghiệp bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân. Căn cứ vào trách nhiệm gồm có doanh nghiệp có trách nhiệm vô hạn và doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn [61].Đặc trưng của doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng được coi như một tổ chức sống, và nó cũng có vòng đời với các bước ngoặt thăng trầm, suy giảm, tăng trưởng, phát triển hay diệt vong [2]. Đặc trưng chung của doanh nghiệp có thể được khái quát qua sơ đồ sau: nghiệp có thể được khái quát qua sơ đồ sau: Doanh nghiệp Là một Sản tổ Có Phân chia giá trị xuất chức đầy hàng Tìm được đủ hóa kiếm Nhà các Người Người Người Chủ hay lợi Nhà nước yếu tố cung lao cho sở dịch nhuận nước cho sản ứng động vay hữu vụ để phép xuất bán hoạt Hình 1.
Mô hình đặc trưng của danh nghiệp (Nguồn: Phan Kim Chiến, Giáo trình Lý thuyết Quản trị kinh doanh) 2.Khái niệm thay đổi tổ chức Thay đổi có thể được xem là một quá trình đi từ trạng thái này sang một trạng thái khác và được xem là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển tổ chức. Có nhiều yếu tố góp phần tạo nên sự thay đổi trong tổ chức trong đó có thể kể đến áp lực từ các yếu tố như chính trị, kinh tế, công nghệ, cạnh tranh toàn cầu gia tăng, hay các 11 vấn đề liên quan đến khách hàng như nhu cầu và lợi ích buộc tổ chức phải cải tiến sản phẩm dịch vụ để đáp ứng được yêu cầu của họ [36]. Theo Awour & Kamau (2015), quá trình thay đổi trong tổ chức có ba giai đoạn: (1) Giai đoạn giải phóng, trong giai đoạn này tổ chức cần phải tạo ra sự sẵn sàng thay đổi bằng cách tuyên truyền và giải thích rõ ràng về tầm quan trọng và lợi ích của sự thay đổi, mọi nhân viên cần nhận thức được sự cần thiết và rời bỏ trạng thái hiện tại; (2) Giai đoạn đang chuyển động: sau khi tạo ra sự sẳn sàng thay đổi, ở giai đoạn này những người thay đổi phải tiến lên phía trước và thực sự chấp nhận những thay đổi. Điều này đồi hỏi ở họ sự cam kết và cống hiến hết mình cho tổ chức; (3) Giai đoạn tái định hình: ở giai đoạn cuối này, những thay đổi hoặc chuẩn mực mới của tổ chức được thúc đẩy và chấp nhận rộng rãi, trở thành một thói quen tự nhiên trong cách làm việc của các thành viên trong tổ chức [13].
Tuy nhiên,việc thực hiện thay đổi trong tổ chức vốn là một sự khó khăn. Không chỉ đòi hỏi kiến thức thay đổi mà còn cần có sự truyền đạt đến những người chịu trách nhiệm thực hiện nó [53]. Và sự thay đổi trong tổ chức trở thành một thách thức khi đòi hỏi mọi thứ phải được thực hiện theo sự thay đổi và dẫn đến việc các nhân viên bắt đầu lo ngại về khả năng thất bại khi họ xử lý các tình huống mới phát sinh (Coch, L.Thái độ của nhân viên đối với sự thay đổi của tổ chức Theo Petty & Wegener (1998), thái độ đối với với sự thay đổi của tổ chức được định nghĩa là sự đánh giá tổng quan của một cá nhân thể hiện đối với sự thay đổi đó [60] và là một xu hướng tâm lý được thể hiện thông qua cách đánh giá đối với sự thay đổi ở một số mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ [22]. Việc hình thành thái độ đánh giá của một người khi có sự thay đổi là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình thay đổi bởi một khi đã hình thành sẽ rất khó để họ thay đổi.
Việc duy trì thái độ ban đầu xuất phát từ ba yếu tố quan trọng bao gồm khả năng lựa chọn thông tin một cách cẩn thận, trí nhớ thiên lệch đối với thông tin được lưu trữ và quá trình suy diễn tích cực để phản đối các thông tin không đồng nhất với thái độ đã được hình thành trước đó [26]. Lí do là mọi người đều mong muốn ở trạng thái an toàn và sẽ cảm thấy bất an khi nó trở nên mơ hồ trong lúc tổ chức thay đổi, chính vì vậy người lao động thường thích duy trì trạng thái hiện tại và không chập nhận sự thay đổi [30]. Theo Dunham, Grube, Cummings và Pierce (1989), thái độ đối với sự thay đổi nói chung bao gồm nhận thức của một người về sự thay đổi, phản ứng tình cảm và 12 xu hướng hành vi đối với sự thay đổi [20]. Nhận thức là những ý kiến của nhân viên về ưu và nhược điểm, sự cần thiết về những kiến thức cần có để đối phó với sự thay đổi.
Phản ứng tình cảm là những tình cảm ít nhiều được liên kết, được hài lòng hoặc có sự lo lắng về những thay đổi của tổ chức. Cuối cùng là xu hướng hành vi, là các hành động đã được thực hiện hoặc sẽ được thực hiện trong tương lai để chuẩn bị cho việc sẵn sàng chấp nhận hoặc chống lại sự thay đổi [24]. Qua đó ta thấy khi tổ chức có sự thay đổi sẽ hình thành thái độ đa dạng trong nhân viên từ đó có sự tác động tích cực hoặc tiêu cực lên sự thành công trong công cuộc thay đổi của tổ chức.