MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực ngày càng gia tăng. Mục tiêu của các doanh nghiệp không chỉ là tuyển chọn nhân sự theo yêu cầu mà còn phải tìm cách giữ chân nhân viên đặc biệt là những nhân tài khó kiếm giữ vai trò trọng yếu trong doanh nghiệp. Giáo sư Tiến sĩ Robert Reich đã từng nói: “Tài nguyên duy nhất thực sự còn có tính cách quốc gia là nhân công, năng lực trí tuệ và óc sáng tạo của họ, đó là những gì sẽ quyết định cho sự thịnh vượng trong tương lai”.
Có thể thấy được con người luôn giữ một vị trí quan trọng hàng đầu trong mọi công việc hay cả trong cuộc sống của chúng ta. Với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang phát triển dựa trên tri thức, nguồn nhân lực đã trở thành một trong những yếu tố cạnh tranh quyết định đối với các tổ chức, doanh nghiệp. Hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp đang phải đối mặt với việc nguồn nhân lực nội bộ mất dần động lực khiến hiệu suất công việc giảm sút hay nghiêm trọng hơn là tình trạng “nhảy việc”. Tìm cách cứu vãn tình trạng này đang là mối quan tâm của các nhà quản lý nhân sự và lãnh đạo doanh nghiệp.
Để thu hút và duy trì số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, ngoài việc làm tốt công tác quản lý nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người lao động, doanh nghiệp còn phải xây dựng chính sách khuyến khích và nâng cao lòng hăng say làm việc của người lao động, để khuyến khích người lao động để đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp. Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ quản lý nguồn nhân lực là “sự hài lòng trong công việc của nhân viên”. Sự hài lòng của nhân viên sẽ giúp xây dựng lòng trung thành của họ đối với doanh nghiệp. Làm cho nhân viên yêu thích công việc của họ, xây dựng sự gắn kết giữa các đồng nghiệp hoặc tìm thấy sự lạc quan trong môi trường làm việc của họ sẽ tạo ra sự kết nối giữa họ với mục tiêu kinh doanh và mang lại cho họ sự tự tin để làm việc hướng tới mục tiêu đó.
Khảo sát mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc là một trong những cách giúp nhân viên bày tỏ suy nghĩ và mong muốn phát triển nghề nghiệp, đồng thời giúp nhà quản lý nhân sự hiểu được tâm lý và mong muốn của nhân viên, từ đó phát huy hết 3 khả năng và nhiệt huyết làm việc của nhân viên, giúp cải thiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Là những cử nhân tương lai của Học viện Ngân hàng, chúng tôi ngày càng quan tâm hơn tới sự hài lòng mong muốn có được trong công việc. Đồng thời xuất phát từ nhu cầu ổn định và phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hài lòng trong công việc của Tân cử nhân Học viện Ngân hàng làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội – liên hệ với các trường khối ngành kinh tế” là đề tài nghiên cứu của mình 1. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Mục tiêu chung của nghiên cứu này là việc tìm hiểu và phân tích các yếu tố gây ảnh hưởng đến mức độ hài lòng trong công việc, để đánh giá sự tác động của từng yếu tố ảnh hưởng, xem xét đến tính thực tiễn từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện mức độ hài lòng trong công việc của nhân viên trong doanh nghiệp đặc biệt là Tân cử nhân Học viện Ngân hàng làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hài lòng trong công việc và các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của tân cử nhân Học viện Ngân hàng đối với việc làm doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội. - Phân tích, đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của tân cử nhân Học viện Ngân hàng đối với công việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội. - So sánh sự khác biệt về mức độ hài lòng trong công việc của nhân viên về giới tính, độ tuổi, thu nhập hàng tháng, lĩnh vực kinh doanh, bộ phận chuyên môn và thời gian công tác tại doanh nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp giúp nâng cao mức độ hài lòng trong công việc của Tân cử nhân Học viện Ngân hàng làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội. 4 - Đóng góp kinh nghiệm cho các trường Đại học khối ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung, giúp các trường có đánh giá về sinh viên khi đang học tại trường sát sao hơn với công việc trong tương lai của họ 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu : Các nhân viên được khảo sát làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội là Tân cử nhân HVNH Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu là mức độ hài lòng trong công việc của Tân cử nhân HVNH và các nhân tố tác động tới mức độ hài lòng đối với công việc của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố HN 1.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của Tân cử nhân HVNH làm việc tại các DN trên địa bàn HN Phạm vi không gian : Các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội Phạm vi thời gian : Thu thập các phiếu khảo sát từ các Tân cử nhân Học Viện Ngân Hàng từ 10/3 đến 14/3 Lý do lựa chọn đối tượng và phạm vi nghiên cứu Theo thống kê số lượng sinh viên có việc làm trong vòng 1 năm sau khi tốt nghiệp của các khoa trực thuộc HVNH từ năm 2015 đến 2019 tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp là: Năm thống kê 2015 2016 2017 2018 2019 Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp 96% 95% 95% 95% 93% Bảng 1 : Thống kê số lượng sinh viên có việc làm sau 1 năm từ năm 2015-2019 của Học viện Ngân Hàng. Sau khi tốt nghiệp tại Học viện Ngân hàng, sinh viên đều đã được tích lũy các kiến thức cơ bản cũng như các kỹ năng cần thiết như tiếng anh, vi tính và các kỹ năng mềm khác, giúp sinh viên tự tin khi ứng cử các vị trí việc làm.
Với tỷ lệ có việc làm của 5 sinh viên sau khi tốt nghiệp của HVNH cao hơn 93% sẽ phù hợp với các nghiên cứu về mức độ hài lòng của Tân cử nhân HVNH trong công việc. Trên thực tế hiện nay, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp là tân cử nhân của các trường đại học tham gia và làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nhưng làm được một thời gian ngắn thường thay đổi nơi làm việc hoặc thay đổi công việc khác. Có rất nhiều lí do như: làm trái ngành, trái nghề, không đủ năng lực và kiến thức để hoàn thành công việc, chưa có mục tiêu, định hướng rõ ràng, chưa thoả mãn về lương thưởng, không thích nghi được với môi trường làm việc mới, thời gian thử việc thực tập quá dài,… Vì vậy nhóm đã bắt đầu dự án nghiên cứu lý do tại sao xảy ra hiện trạng này dựa trên mức độ hài lòng đối với công việc của các Tân cử nhân và các nhân tố trong doanh nghiệp ảnh hưởng tới sự hài lòng đối với công việc của nhân viên là: Bản chất công việc, Lãnh đạo, Cơ hội thăng tiến, Lương thưởng, Đồng nghiệp, Điều kiện làm việc, Phúc lợi, Sự hài lòng.
Đồng thời cũng phản ánh được các yêu cầu và mong muốn của doanh nghiệp đối với nhân viên của công ty. Từ đó nhóm đưa ra các giải pháp đề xuất cho doanh nghiệp để giải quyết vấn đề. Do thời gian thực hiện dự án còn hạn chế cùng với việc chú trọng sự chính xác và cụ thể nên nhóm đã quyết định thu hẹp phạm vi khách thể nghiên cứu là các Tân cử nhân của Học Viện Ngân Hàng làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực 2. Định nghĩa về nguồn nhân lực: Theo Liên Hợp quốc “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Như vậy, ở đây nguồn nhân lực được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: công nghệ, vốn tiền tệ, tài nguyên thiên nhiên. 6 Nguồn nhân lực được định nghĩa theo Liên Hợp Quốc là: “tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” 2.2 : Định nghĩa về quản trị nguồn nhân lực Theo Mathis & Jackson (2007), “quản trị nguồn nhân lực là việc thiết kế các hệ thống chính thức trong một tổ chức để đảm bảo hiệu quả và hiệu quả sử dụng tài năng của con người nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức”.
Xét về nội dung, có thể hiểu “Quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông quan tổ chức của nó nhằm thu hút, xây dựng và phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức về mặt số lượng và chất lượng”. Tuy nhiên, thực chất của quản trị nguồn nhân lực là: “công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức với người lao động. Nói cách khác, quản trị nguồn nhân lực chịu trách nhiệm đưa con người vào tổ chức, giúp con người thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh”.2: Sự hài lòng trong công việc và các nhân tố ảnh hưởng tới sự hài lòng trong công việc 2.