Chương 1, tác giả đã trình bày lý do của việc lựa chọn nghiên cứu đề tài, cũng như mục tiêu mà nghiên cứu này sẽ hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ sử dụng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu này cũng đã được trình bày. Bố cục của bài nghiên cứu được thiết kế năm chương của một nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm, học thuyết liên quan đến sự hài lòng của nhân viên 2.1 Khái niệm về sự hài lòng của nhân viên về công việc Theo Locke (1976) cho rằng “Sự hài lòng trong công việc là một trạng thái cảm xúc thú vị hoặc tích cực từ kết quả thẩm định công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một người”. Theo Fieldman và Arnold (1983) nhấn mạnh “Sự hài lòng trong công việc sẽ được định nghĩa là số lượng ảnh hưởng tích cực nói chung hoặc (cảm xúc) mà các cá nhân có đối với công việc của mình”.
Theo Andrew Brin (1991), sự hài lòng chính là việc yêu thích trong công việc “Nếu bạn thích công việc của mình, bạn sẽ có được sự hài lòng trong công việc cao. Nếu bạn không thích công việc của mình một cách mạnh mẽ, bạn sẽ cảm thấy không hài lòng về công việc”. Sự hài lòng về công việc của nhân viên là thái độ của nhân viên đó đối với công việc của họ được giao trong Công ty. Sự hài lòng công việc được định nghĩa là “ mức độ mà mọi người thích hoặc không thích công việc của họ” (Spector, 1997).
Đó là phản ứng, cảm nhận của nhân viên khi thực hiện công việc được giao giữa kỳ vọng và kết quả thực tế mà họ đạt được. Sự hài lòng về công việc của nhân viên là bao gồm những cảm xúc của nhân viên về các yếu tố bên trong như sự phát triển của tổ chức, những kết quả đạt được của cá nhân… và các yếu tố bên ngoài khác như tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, các chính sách và sự hỗ trợ, giám sát của cấp trên, sự phối hợp của đồng nghiệp trong đơn vị, bảo mật (Misener et al, 1996. Spector (1997) đề cập đến sự hài lòng trong công việc là cách mọi người cảm nhận như thế nào về công việc và các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ. Theo nghiên cứu của Friedlander và Margulies (1969), chỉ ra rằng giữa người quản lý và nhân viên có mối quan hệ thân thiện góp phần vào sự hài lòng trong công việc, tuy nhiên kết quả này mâu thuẫn với quan điểm của Herzberg (1966), những người ủng hộ quan điểm sự quản lý không liên quan đến mức độ hài lòng.
6 Theo Frame (2004), Quan hệ với đồng nghiệp có ảnh hưởng đến sự hài lòng bao gồm nơi làm việc của nhân viên, công cụ làm việc, Môi trường và Quan hệ với đồng nghiệp, chính sách của tổ chức và các quy tắc tổ chức. Theo Phillips và Connell (2003), sự hài lòng trong công việc được hiểu “mức độ mà nhân viên hài lòng với công việc mà họ thực hiện”. Tác giả giải thích rằng sự hài lòng trong công việc bao gồm năm yếu tố đó là: sự hài lòng với công việc, cơ hội phát triển, tiền lương, giám sát và mối hệ với đồng nghiệp.2 Một số học thuyết liên quan đến sự hài lòng của nhân viên Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Abraham Maslow (1906-1905) đã nghiên cứu và cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Các nhu cầu này được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao căn cứ vào tầm quan trọng và chia thành 5 bậc như sau: - Những nhu cầu về sinh vật học: là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác.
; - Những nhu cầu về an ninh và an toàn: là những nhu cầu về an toàn, không bị đe doạ về tài sản, công việc, sức khoẻ, tính mạng và gia đình. - Những nhu cầu về xã hội: là những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó; - Những nhu cầu về đánh giá và tôn trọng: là những nhu cầu về, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, tự đánh giá và được tổ chức đánh giá; - Những nhu cầu về tự thể hiện: là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ. Maslow đã chia các nhu cầu thành 2 cấp: cấp cao và cấp thấp: - Cấp thấp gồm các nhu cầu sinh vật học và an ninh, an toàn. - Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và tự thể hiện.
Sự khác biệt giữa hai loại này là chúng thoả mãn từ bên trong và bên ngoài của con người. - Maslow cho rằng khi con người được thoả mãn bậc dưới đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn. 7 - Thuyết cấp bậc nhu cầu của A. Maslow được đánh giá rất cao vì nó có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản lý là muốn động viên nhân viên thì cần phải biết người lao động của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, để từ đó có các giải pháp phù hợp cho việc thoả mãn nhu cầu người lao động đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu của tổ chức Nhu cầu tự thể hiện Cấp cao Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Cấp thấp Nhu cầu sinh học Hình 2.1: Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) (Nguồn: Abraham Maslow, 1943) Lý thuyết nhu cầu của Maslow được áp dụng trong việc đáp ứng sự hài lòng của người lao động: nhu cầu sinh học và an toàn được thể hiện thông qua yếu tố thu nhập và phúc lợi.
Nhu cầu xã hội và được tôn trọng thể hiện thông qua mối quan hệ giữa cấp trên và đồng nghiệp và nhu cầu tự thể hiện bản than được thể hiện thông qua yếu tố quyền tự chủ trong công việc. Thuyết hai yếu tố của F. Herzberg và các đồng nghiệp (1959): chia các yếu tố làm hai khía cạnh ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động bao gồm các yếu tố động viên và các yếu tố duy trì. Yếu tố động viên tác động theo xu hướng tích cực và yếu tố duy trì tác động theo xu hướng tiêu cực.
Lý thuyết này cho rằng yếu tố động viên 8 được đáp ứng sẽ mang lại sự thỏa mãn trong công việc, ngược lài người lao động sẽ không thỏa mãn. Trái ngược với yếu tố duy trì nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn và ngược lại sẽ dẫn đến bất mãn trong công việc. Như vậy Herzberg đã tách biệt tương đối hai nhóm yếu tố và cho rằng chỉ có những yếu tố động viên mới có thể mang lại sự thỏa mãn cho người lao động và nếu không làm tốt các yếu tố duy trì thì sẽ dẫn đến bất mãn của người lao động. Yếu tố động viên gồm có: thành tựu, sự công nhận của người khác, Bản chất của công việc, trách nhiệm của công việc, sự thăng tiến và tiến bộ, triển vọng của sự phát triển.
Yếu tố duy trì gồm có: chính sách của tổ chức, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, quan hệ giữa cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí và sự đảm bảo của công việc. Việc động viên người lao động đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng, đồng thời cả hai nhóm yếu tố động viên và duy trì. Trách nhiệm của nhà quản trị là phải loại trừ sự bất mãn và tạo sự thỏa mãn, không thể chỉ chú trọng riêng một nhóm nào. Thuyết công bằng của John Stacey Adam (1963) Theo J.
Stacy Adams (1963) thì bản chất của thuyết công bằng là cá nhân trong tổ chức so sánh số lượng công việc, những cố gắng và phần thưởng của họ với những người khác trong những môi trường làm việc tương tự nhau. Nếu kết quả của sự so sánh đó là sự ngang bằng nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và hiệu suất làm việc của mình. Nếu thù lao nhận vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại nếu thù lao họ nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ thì họ có xu hướng giảm bớt nỗ lực. Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà là còn được quyết định bởi quá trình tư duy nhận thức của con người về những kỳ vọng của họ ở tương lai.
Cốt lõi của thuyết kỳ vọng chính là quá trình nhận thức của cá nhân về các yếu tố mang tính động viên. Kết quả của cá nhân mong muốn thực chất không phụ thuộc vào quyết định tới hành vi mà nó còn phụ thuộc vào việc cá nhân đó dự 9 đoán liệu rằng mong muốn của mình có thể đạt được hay không. Vroom đã đưa ra công thức: MF = Expectancy x Instrumentality x ∑(Valence(s)) MF (motivational force): yếu tố động viên, gồm 3 thành phần: - Expectancy: là niềm tin cá nhân rằng khi họ cố gắng tốt thì kết quả họ sẽ thể hiện tốt. Đây là mối quan hệ giữa cố gắng (effort) và thể hiện (performance).
- Instrumentality: là niềm tin của cá nhân nhận được kết quả mình mong muốn nếu mình thể hiện được như mình mong muốn. Đây là mối quan hệ giữa thể hiện (performance) và kết quả (outcome). - Valence(s): là giá trị mà cá nhân đó đặt cho kết quả đầu ra dựa trên nhu cầu, mục đích và nguồn động lực của mình Thuyết nhu cầu của E.Alderfert (1969) Thuyết ERG do học giả Clayton Alderfer đưa ra, là một sự bổ sung, sửa đổi thành công cho lý thuyết về Tháp nhu cầu của Abraham Maslow. Còn được biết đến dưới cái tên "Thuyết nhu cầu Tồn tại/Quan hệ/Phát triển" (Existence, Relatedness and Growth).
Thuyết ERG nhận ra 3 kiểu nhu cầu chính của con người: - Nhu cầu tồn tại (Existence needs): Ước muốn khỏe mạnh về thân xác và tinh thần, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn như các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, học hành. và nhu cầu an toàn. - Nhu cầu giao tiếp (Relatedness needs): Ước muốn thỏa mãn trong quan hệ với mọi người.