Tổng quan nghiên cứu

Làng Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa là một vùng đất cổ với bề dày lịch sử hơn 7.000 năm cư trú của người Việt, minh chứng qua di chỉ khảo cổ học Đa Bút được phát hiện năm 1926. Toàn xã Vĩnh Hùng có diện tích tự nhiên 1.981,94 ha, trong đó làng Bồng Thượng chiếm 1.103 ha với hệ thống di sản phong phú gồm 6 di tích lịch sử đã được xếp hạng (3 di tích cấp Quốc gia và 3 di tích cấp tỉnh). Trong không gian văn hóa đó, lễ hội rước nước chùa Báo Ân diễn ra định kỳ từ ngày 27 đến 29 tháng 2 âm lịch hàng năm, đóng vai trò là một nghi thức tâm linh đặc sắc gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải và văn hóa sông nước của cư dân đôi bờ sông Mã dài hơn 3 km chảy qua địa bàn.

Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, công tác quản lý và tổ chức lễ hội đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Tình trạng thương mại hóa, biến tướng tín ngưỡng, xả rác thải bừa bãi và công tác quản lý tài chính thiếu tính tập trung đã làm suy giảm tính thiêng và giá trị nhân văn nguyên bản của di sản.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý lễ hội rước nước làng Bồng Thượng từ năm 2002 (thời điểm Luật Di sản văn hóa có hiệu lực) đến nay; chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy giá trị di sản. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần chuẩn hóa 100% quy trình tổ chức, nâng cao tính minh bạch tài chính công đức và gia tăng hiệu quả khai thác du lịch văn hóa bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý văn hóa hiện đại kết hợp nhân học văn hóa để giải quyết vấn đề:

  • Lý thuyết quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống của tác giả Bùi Hoài Sơn (2009), tập trung vào vai trò điều tiết, định hướng của cơ quan công quyền thông qua văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn di sản phi vật thể và phát triển kinh tế - xã hội.
  • Lý thuyết về sự biến đổi văn hóa và tính thích ứng của lễ hội của tác giả Vũ Ngọc Khánh (2004), khẳng định lễ hội không phải là hiện tượng bất biến mà luôn vận động theo không gian, thời gian và sự phát triển của cộng đồng.

Luận văn làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Lễ hội truyền thống: Theo Nghị định 110/2018/NĐ-CP, là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ cổ truyền nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân.
  • Quản lý lễ hội: Hoạt động tác động có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý nhà nước nhằm định hướng, duy trì và phát huy giá trị di sản.
  • Đặc trưng lễ hội: Gồm 3 đặc trưng nền tảng là tính thiêng (gắn với đối tượng thờ phụng tại chùa Báo Ân và Phủ Mẫu), tính phức hợp (nghi lễ, trò diễn, ẩm thực, âm nhạc dân gian) và tính cộng đồng.
  • Giá trị lễ hội: Thể hiện qua 6 nhóm giá trị căn bản gồm cố kết cộng đồng, giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", thỏa mãn nhu cầu tâm linh, sáng tạo văn hóa, bảo tồn bản sắc và thúc đẩy kinh tế du lịch.

Khung pháp lý tham chiếu gồm Luật Di sản văn hóa, Nghị định 92/2002/NĐ-CP, Nghị định 110/2018/NĐ-CP, Thông tư 15/2015/TT-BVHTTDL và Chỉ thị 06/CT-TTg về chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng kết hợp giữa tài liệu thứ cấp (báo cáo hành chính, địa chí Thanh Hóa, văn bản pháp quy) và dữ liệu sơ cấp thu thập từ thực địa trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2023.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 120 phiếu điều tra ý kiến người dân và du khách tại 7 thôn của làng Bồng Thượng (5 thôn nội đê và 2 thôn ngoại đê), kết hợp 15 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Vĩnh Lộc, lãnh đạo UBND xã Vĩnh Hùng, Ban Quản lý di tích, bô lão am hiểu nghi lễ và ban trị sự chùa Báo Ân. Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên định ngạch kết hợp chọn mẫu thuận tiện được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện của các nhóm chủ thể tham gia lễ hội.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo gồm:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Quan sát trực tiếp toàn bộ 3 ngày diễn ra lễ hội, ghi âm các điệu hò sông Mã, chụp ảnh tư liệu và phỏng vấn tại chỗ.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý tài liệu lưu trữ, đánh giá mức độ tương thích giữa quy định pháp luật và thực tiễn thi hành.
  • Tiếp cận liên ngành: Kết hợp văn hóa học, xã hội học, sử học và kinh tế du lịch để có cái nhìn toàn diện, khách quan về công tác quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức và phân cấp quản lý: Bộ máy quản lý được thiết lập đa tầng từ cấp huyện đến cấp cơ sở. Ban Chỉ đạo do Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hùng làm Trưởng ban, phối hợp chặt chẽ với Tiểu ban Quản lý di tích chùa Báo Ân. Tuy nhiên, ngân sách nhà nước cấp cho sự nghiệp văn hóa cơ sở rất hạn hẹp, chỉ khoảng 20 triệu đồng/năm, trong khi chi phí thực tế cho 3 ngày lễ hội lên tới hàng trăm triệu đồng, đòi hỏi nguồn vốn xã hội hóa phải gánh vác trên 85% tổng kinh phí vận hành.

Thứ hai, về quy mô và các yếu tố cấu thành lễ hội: Lễ hội rước nước duy trì thành công đoàn thuyền quy mô gồm 5 thuyền rồng lớn (sức chứa 80 đến 90 người/thuyền), quy tụ 13 thành viên đội tế nữ quan, 4 người trực tiếp lấy nước thiêng (2 cô Ba Thoải và 2 sư cô) và hơn 200 người dân tham gia diễn xướng dân gian. Không gian hội mở rộng với các trò chơi truyền thống như Tổ Tôm Điếm sử dụng bộ bài 120 quân trên hệ thống 5 điếm chòi dựng trước bến sông.

Thứ ba, về mức độ hài lòng và an ninh trật tự: Khảo sát cho thấy khoảng 85% người tham gia đánh giá tốt công tác an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ và bảo đảm an toàn đường thủy dưới sự phối hợp của Công an xã và Công an huyện Vĩnh Lộc. Tuy vậy, khoảng 15% người được hỏi phản ánh tình trạng quá tải hạ tầng bến bãi và rác thải chưa được thu gom kịp thời tại khu vực ven bờ sông Mã.

Thứ tư, về công tác quản lý tài chính và xã hội hóa: Nguồn thu công đức tăng trưởng ước tính 12% mỗi năm nhờ sự đóng góp tích cực của nhân dân và khách thập phương. Dù vậy, cơ chế phân bổ nguồn thu còn phân tán, dưới 30% kinh phí công đức được trích nộp để tái đầu tư tu bổ, tôn tạo các hạng mục kiến trúc cổ của cụm di tích.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên cho thấy nguyên nhân của những tồn tại bắt nguồn từ sự bất cập giữa nguồn lực công hạn chế và nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của người dân. Mô hình quản lý hiện tại còn mang tính kiêm nhiệm, cán bộ văn hóa cấp xã phải phụ trách nhiều mảng công việc nên chưa thể chuyên môn hóa công tác quản trị sự kiện. Hơn nữa, sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và các cơ sở tôn giáo tự viện đôi lúc chưa đồng bộ trong việc quản lý hòm công đức và quy hoạch dịch vụ thương mại.

So sánh với các nghiên cứu của Bùi Hoài Sơn (2009) về quản lý lễ hội vùng đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội rước nước Vĩnh Hùng có nét tương đồng về xu hướng chuyển dịch từ quản lý mệnh lệnh hành chính sang quản trị cộng đồng dựa vào xã hội hóa. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn thu (85% xã hội hóa, 15% ngân sách và tài trợ) và bảng ma trận SWOT đánh giá 4 khía cạnh: điểm mạnh về di sản, điểm yếu về hạ tầng, cơ hội phát triển du lịch sông Mã và thách thức ô nhiễm môi trường. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế quản lý văn hóa cấp cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Kiện toàn bộ máy và chuẩn hóa quy trình quản lý: Ban hành quy chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa UBND xã Vĩnh Hùng và Ban Trị sự chùa Báo Ân trước quý IV hàng năm; chuẩn hóa 100% kịch bản nghi lễ rước nước và phân công cụ thể trách nhiệm từng thành viên Ban Tổ chức. Chủ thể thực hiện: UBND xã Vĩnh Hùng và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Vĩnh Lộc. Timeline hoàn thành: Quý II/2024.
  • Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn: Tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn mỗi năm về quản lý di sản, văn hóa ứng xử du lịch và kỹ năng kiểm kê tài chính cho hơn 30 cán bộ văn hóa, thành viên Ban Quản lý di tích và các trưởng thôn. Mục tiêu nâng cao 40% chỉ số hài lòng của du khách. Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa phối hợp UBND huyện Vĩnh Lộc. Timeline: Hàng năm từ 2024 đến 2026.
  • Đầu tư cơ sở hạ tầng và kiểm soát môi trường: Quy hoạch mở rộng bến thuyền Báo Ân trên diện tích khoảng 1.500 m2; lắp đặt 20 thùng rác phân loại và bố trí 2 cụm nhà vệ sinh lưu động; cam kết giảm 90% lượng rác thải tồn đọng sau các ngày lễ. Chủ thể thực hiện: Ban Tổ chức lễ hội phối hợp Hợp tác xã môi trường địa phương. Timeline: Quý I/2025.
  • Đẩy mạnh truyền thông số và liên kết du lịch: Xây dựng chuyên mục di sản số trên cổng thông tin điện tử; số hóa dữ liệu 6 di tích lịch sử của làng Bồng Thượng; liên kết tour du lịch tâm linh sông Mã nối Vĩnh Hùng với Phủ Trịnh và Nghè Vẹt; phấn đấu tăng trưởng 35% lượng du khách trong giai đoạn 2024 - 2028. Chủ thể thực hiện: Đoàn Thanh niên và Ban Văn hóa - Thông tin xã Vĩnh Hùng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở (UBND cấp xã, huyện): Cung cấp khung hướng dẫn thực thi Nghị định 110/2018/NĐ-CP, hỗ trợ xây dựng kịch bản lễ hội chuẩn mực, phân định quyền hạn và tối ưu hóa quản lý tài chính công đức.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học: Nguồn tư liệu điền dã chuyên sâu về lễ hội sông nước miền Trung, làm case study điển hình cho học phần Quản lý di sản văn hóa phi vật thể và Xã hội hóa văn hóa.
  • Ban Quản lý di tích và Ban Tổ chức lễ hội tại các địa phương có lễ hội rước nước: Cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn về kỹ thuật tổ chức đội thuyền rồng, quản lý vệ sinh môi trường đường thủy và phương thức huy động sự tự nguyện đóng góp của cộng đồng cư dân.
  • Doanh nghiệp lữ hành và cơ quan quy hoạch du lịch: Tài liệu khảo cứu giá trị để xây dựng tour du lịch trải nghiệm văn hóa, du lịch tâm linh dọc tuyến sông Mã, kết nối quần thể 6 di tích lịch sử làng Bồng Thượng với các danh thắng lân cận của Thanh Hóa.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội rước nước làng Bồng Thượng diễn ra vào thời gian nào và có quy mô ra sao?
Lễ hội diễn ra định kỳ trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng 2 âm lịch hàng năm tại chùa Báo Ân và bến sông Mã. Quy mô tổ chức huy động 5 thuyền rồng lớn với sức chứa 80 đến 90 người mỗi thuyền, thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách từ 5 xã lân cận tham gia.

Nghi thức rước nước trên sông Mã mang ý nghĩa văn hóa tâm linh như thế nào?
Nghi thức thể hiện tín ngưỡng thờ nước và tục thờ Mẫu Thoải của cư dân nông nghiệp lúa nước, tri ân Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các bậc tiền nhân trị thủy. Nước lấy tại Vụng Quần Tiên giữa dòng sông Mã tượng trưng cho sự tinh khiết, mang lại mưa thuận gió hòa, cầu cho quốc thái dân an và mùa màng tươi tốt.

Nguồn tài chính phục vụ tổ chức lễ hội được quản lý và vận hành ra sao?
Trong điều kiện ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ khoảng 20 triệu đồng mỗi năm, kinh phí tổ chức lễ hội chủ yếu dựa vào nguồn xã hội hóa, chiếm trên 85% tổng chi phí. Ban Tổ chức bố trí bàn ghi công đức và hòm công đức công khai, bảo đảm nguyên tắc thu chi minh bạch và báo cáo trước Đảng ủy, UBND xã.

Trò chơi dân gian nào là nét văn hóa đặc sắc nhất trong phần hội?
Đặc sắc nhất là trò chơi Tổ Tôm Điếm được tổ chức trong khuôn viên bến Báo Ân với 5 điếm chòi tượng trưng cho các hướng và bộ bài mika 120 quân. Trò chơi quy tụ các bậc cao niên và thanh niên, kết hợp lối đánh nghiêm ngặt với việc xướng các câu thơ văn học dân gian truyền thống.

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản và thương mại hóa lễ hội?
Cần tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương, bắt buộc 100% hộ kinh doanh ký cam kết bán đúng giá niêm yết, không chèo kéo du khách; đồng thời quy hoạch khu dịch vụ nằm ngoài vùng bảo vệ nghiêm ngặt của chùa Báo Ân và Phủ Mẫu để gìn giữ không gian tôn nghiêm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống cấp cơ sở, làm rõ 3 đặc trưng cốt lõi và 6 giá trị căn bản của di sản phi vật thể.
  • Đánh giá khách quan thực trạng tổ chức lễ hội rước nước làng Bồng Thượng từ năm 2002 đến nay, ghi nhận thành tựu huy động hơn 85% nguồn lực xã hội hóa và bảo đảm tốt an ninh trật tự.
  • Chỉ rõ các nút thắt về ngân sách công hạn hẹp, nguy cơ thương mại hóa và cơ chế phân bổ nguồn thu công đức chưa tối ưu cho việc trùng tu 6 di tích xếp hạng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, có lộ trình rõ ràng giai đoạn 2024 - 2028 nhằm chuẩn hóa quy trình quản lý, đào tạo nhân lực và số hóa di sản.
  • Khẳng định bảo tồn lễ hội truyền thống gắn liền với phát triển du lịch bền vững là chìa khóa nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.