Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI RƯỚC NƯỚC LÀNG BỒNG THƯỢNG, XÃ VĨNH HÙNG, HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm Lễ hội là sinh hoạt cộng đồng làng xã, thể hiện cho niềm tin, sức sống của người dân vào một lực lượng siêu nhiên. Qua lễ hội con người được thăng hoa, được rủ bỏ những lo toan của cuộc sống đời thường để sống với lý tưởng, niềm tin của riêng mình. Thông qua các hoạt động vui chơi, giải trí con người được giao lưu, được gắn bó, được cô kết cộng đồng.
Lễ hội không chỉ mang nét truyền thống độc đáo của mỗi dân tộc mà nó còn là bằng chứng lịch sử, chứng minh sự tồn tại của một dân tộc, một nền văn hóa đã được công nhận. Lễ hội ở nước ta gắn liền với đời sống của mỗi người dân với các di tích lịch sử, các trò chơi dân gian đã ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức của con người. Lễ hội thường có hai phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ và phần hội có mối quan hệ chặt chẽ, như một thể thống nhất không thể tách rời.
Phần lễ là cốt lõi chủ đạo, là phần quan trọng nhất, là linh hồn của lễ hội. Phần hội là sự nảy sinh, tích hợp, bảo lưu. Phần lễ là hệ thống các nghi thức thờ cúng mà con người sáng tạo ra nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người đối với thần linh. Nó mang ý nghĩa tín ngưỡng, cầu xin, tạ ơn thần linh đã phụ trợ cho việc làm ăn may mắm, cho mùa màng bội thu.
Nó được hình thành bởi nhân vật được thờ và gắn liền với một di tích lịch sử, một vùng miền. Phần hội là những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, nó gắn liền với không gian, thời gian, tâm lý của con người, môi trường cảnh quan. Hội được hình thành bởi hình thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về lễ hội.
9 Theo Bách khoa toàn thư lễ hội Việt Nam là sự kiện kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những hành vi tác động nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ.” Tác giả Vũ Ngọc Khánh lại quan niệm: “ Lễ hội cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong một phạm vi, một địa phương hoặc trong cả nước (30, tr. Theo tác giả Hoàng Anh Nhân và Lê huy Trâm trong “Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ thanh” cho rằng: Khái niệm lễ hội là một khái niệm chung, bao quát thường dễ gợi cho ta không khí và hình ảnh về “hội hè đình đám”.
Hội hè đình đám có lẽ càng về sau càng tưng bừng, nhiều màu sắc, nhiều tính kỹ thuật chứ càng xa xưa gần với cội nguồn dân tộc thì càng đơn giản tuy phần tác động sâu sắc trong tâm linh không hẳn là theo sự phát triển ấy. Có những lễ hội không mang đậm màu sắc và không khí của hội hè đình đám như hiện tại mà chỉ đóng khung trong một hoạt động tục lệ thuần túy nhưng về ý nghĩa lại không hề thua kém các lễ hội tưng bừng và quan trọng có ý nghĩa Quốc tế (tức lễ hội có tầm cỡ quốc gia, được triều đình đứng tế hoạch sắc chỉ cho các quan địa phương, tỉnh huyện đứng tế trực tiếp) (33, tr. Từ quan niệm trên tác giả đã chia lễ hội Xứ Thanh thành 3 cấp độ: Tục lệ, lễ tục và lễ hội. “Lễ hội Việt nam trong phát triển du lịch” tác giả Dương Văn Sáu định nghĩa: “ Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác đinh; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để thể hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội” (29, tr.
10 Như vậy, khi bàn về lễ hội các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhất nhiều cách diễn đạt khác nhau về lễ hội, nhưng tất cả đều khẳng định lễ hội là sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người nó diễn ra trong một thời gian, không gian xác định, gắn với một vùng đất cụ thể. Thể hiện sự tôn kính của con người đối với thần linh hay đối thần hoàng làng người đã có công xây dựng làng, xã…Đồng thời thông qua lễ hội con người được hòa mình với những trò chơi, trò diễn mang đậm dấu ấn của một thời kỳ lịch sử. Các loại lễ hội Lễ hội ở nước ta rất đa dạng và phong phú, theo từng đặc trưng riêng của các dân tộc, vùng miền, mà mỗi nơi có nội dung và các thức thể tổ chức lễ hội khác nhau. Có thể phân ra một số loại lễ hội như sau: -Lễ hội chùa, đền, đình: thường tổ chức vào những ngày đầu năm.
Tùy theo phong tục của địa phương, tùy theo cấp di tích lịch sử chùa, đình, đền tổ chức lễ hội do các cấp tổ chức như cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở. Những lễ hội lớn như lễ hội Chùa Hương, Chùa Bái Đính, Đền Hùng, Bà chúa Kho… - Lễ hội truyền thống của các địa phương: Đây là các lễ hội của một số địa phương đã có từ lâu đời như: lễ hội chọi Trâu ở Hải Phòng, lễ hội rước nước. - Lễ hội chung của các dân tộc thiểu số như: dân tộc Thái, Nùng, Tày giao ở miền Bắc, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên… - Lễ hội đặc trưng của từng dân tộc như: lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, lễ hội ném còn của dân tộc Thái…. - Lễ hội về công đức các bậc tiền nhân gắn với truyền thuyết lịch sử và các đền, chùa ở một số địa phương như Lễ hội Đền Trần, Đền Hùng… - Lễ hội tôn giáo như lễ vu lan, lễ Phật Đản của đạo Phật; lễ Thiên Chúa giáng sinh, lễ phục sinh… Theo thông tư 15/2015/TT-BVHTTDL Quy định về tổ chức lễ hội do Bộ trưởng bộ văn hóa thể thao và du lịch ban hành tại điều 3.
Theo đó, các loại hình lễ hội bao gồm: 11 1.Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng. Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá về văn hóa thể thao, du lịch bao gồm: festival, liên hoa văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa, thể thao và du lịch; tuần văn hóa- du lịch; tháng văn hóa- du lịch; năm văn hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch khác. Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam.
Lễ hội truyền thống Lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có tính kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội. Môi trường của lễ hội truyền thống chính là làng xã nông thôn nơi gắn liền với cây đa, giếng nước, sân đình. Lễ hội là môi trường thuận lợi mà ở đó các yếu tố văn hóa truyền thống được bảo lưu và phát triển.
Những yếu tố văn hóa này không ngừng được hoàn thiện, phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử ở từng địa phương, của đất nước. Đây chính là những tinh hoa đã được đúc kết trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử. Bản chất của lễ hội là sự khái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định. Theo Nghị định 110/2018 NĐ-CP ngày 29/8/2018 tại khoản 1, Điều 3 thì lễ hội truyền thống được định nghĩa như sau: “Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn 12 hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.
Như vậy, Lễ hội truyền thống là sản phẩm tinh thần của cộng đồng dân cư, tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội gắn với không gian, thời gian, địa điểm lịch sử cụ thể, là một bảo tàng sống, có sức sống lâu bền, tồn tại đồng hành và tạo nên ký ức văn hóa của một vùng miền, một dân tộc. Lễ hội trở thành truyền thống, khi nó được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được thế hệ sau kế thừa trên nền tảng những giá trị tốt đẹp mà thế hệ trước để lại. Hay nói cách khác lễ hội truyền thống chính là hoạt động văn hóa của cộng đồng, mang những giá trị tốt đẹp của một cộng đồng đó, có tính lịch sử, tính kế thừa, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nối tiếp nhau, nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của lễ hội trong đời sống xã hội.Quản lý Trong quá trình lao động sản xuất, cũng như trong các hoạt động khác, con người muốn phát triển, muốn tồn tại thì phải tuân thủ và chịu sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động để thực hiện một nhiệm vụ nào đó nhằm đạt được mục tiêu chung.