phần mở đầu, kết luận, tài li u tham khảo, các phụ lục nghiên cứu, luận án gồm 3 chƣơng: C ƣơng 1 Cơ sở lý luận về xây dựng văn hóa chất lƣợng trong các trƣờng đại hoc tƣ thục C ƣơng 2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng văn hóa chất lƣợng trong các trƣờng đại hoc tƣ thục Vi t Nam C ƣơng 3 Các giải pháp xây dựng văn hóa chất lƣợng trong các trƣờng đại hoc tƣ thục Vi t Nam. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA CHẤT LƢỢNG TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC TƢ THỤC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu về xây dựng văn hóa chất lƣợng trong các cơ sở giáo dục đ i học 1.
Những nghi n c u ở nước ngoài Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài tập trung vào những vấn đề sau đây: i) Vai trò của VHCL trong các cơ sở GDĐH VHCL là sản phẩm của quá trình phát tri n hoạt động QLCL trong lĩnh vực sản xuất công nghi p, đặc bi t là ở Nhật Bản và Mỹ. K từ thập niên 80 của thế kỷ 20, vi c thiết lập VHCL đã đƣợc nhiều công ty Mỹ khẳng định nhƣ là cơ chế đ đạt đƣợc thành công trong cạnh tranh [111]. Tầm quan trong của VHCL trong các cơ sở sản xuất đã đƣợc các nhà nghiên cứu về QLCL nổi tiếng trên thế giới nhấn mạnh, trong đó đáng chú ý là tác giả Joseph M. Juran: VHCL tạo nên môi trƣờng thuận lợi cho vi c thiết lập và cải tiến liên tục chất lƣợng đ đảm bảo cho tổ chức đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và luôn thành công trên thị trƣờng dài hạn [76]; tác giả Lee Harvey & Diana Green, tác giả Inga Milisiunaite: một tổ chức có nền VHCL là một tổ chức trong đó moi ngƣời chịu trách nhi m về chất lƣợng, từ lãnh đạo cho đến nhân viên [65], [91]; tác giả Alexandra Jancikova và Karel Brychta khẳng định tổ chức có VHCL có th làm thỏa mãn những nhu cầu không ngừng thay đổi của khách hàng, nhân viên và những ngƣời liên quan nhanh chóng hơn và có th thành công hơn tổ chức không có VHCL [74]; cụ th hơn, tác giả Swapan Saha & Mary Hardie miêu tả VHCL là một nền văn hóa mà nó thúc đẩy sự lãnh đạo hơn là giám sát; thôi thúc sự cam kết của đội ngũ đối với các hoạt động chất lƣợng đƣợc lựa chon; sử dụng các nhóm nhƣ là phong cách quản lý chính; cho phép đội ngũ tham gia vào công vi c liên quan đến quyết định; thúc đẩy niềm kiêu hãnh trong đội ngũ; loại bỏ sự sợ hãi; và thôi thúc đội ngũ tìm kiếm những cải tiến liên tục [100].
Tổ chức Forbes Insights phối hợp với Hi p hội Chất lƣợng Hoa Kỳ (American Society for Quality) thực hi n công trình nghiên cứu VHCL liên quan đến các công ty hàng đầu trên thế giới đã khẳng định vai trò của VHCL trong vi c thúc đẩy tăng trƣởng và hi u quả của doanh nghi p, đặc bi t nêu phát bi u của bà Rebecca Yeung, Giám đốc điều hành hãng FedEx rằng VHCL đã giúp công ty đạt hàng trăm tri u đô la tiết ki m chi phí [59]. 8 VHCL trong lĩnh vực GDĐH nói chung, trong các cơ sở GDĐH nói riêng đƣợc nghiên cứu nhiều từ những năm đầu của thế kỷ 21 và chủ yếu ở Châu Âu. Các công trình nghiên cứu lớn đã nhấn mạnh vai trò của VHCL trong các cơ sở GDĐH, cụ the nhƣ sau: Nhóm các tác giả Guy Bendermacher, Mirjam Oude Egbrink, Ineke Wolfhagen & Diana Dolmans khẳng định VHCL giúp cơ sở GDĐH nâng cao chất lƣợng giáo dục – yếu tố quyết định sự thành công của cạnh tranh trong bối cảnh ngân sách công dành cho GDĐH giảm sút và số lƣợng sinh viên ngày càng giảm [42]. Tác giả Jacques Lanarès cho rằng xây dựng VHCL nhằm giúp trƣờng đại hoc trở thành trƣờng có đẳng cấp thế giới – trƣờng có chất lƣợng giáo dục và nghiên cứu khoa hoc đạt tiêu chuẩn cao.
Đe đạt đƣợc mục tiêu này không chỉ cần phải tạo ra và vận hành h thống chất lƣợng đạt chuẩn quốc tế mà còn phải phát trien thành một h thống gắn kết đe thúc đẩy sáng tạo và đổi mới, và tạo ra quyền sở hữu đối với h thống đó. Nói cách khác, điều quan trong là mỗi cá nhân trong trƣờng đại hoc thấy sự liên quan đến nhiều quá trình chất lƣợng và chủ động, tích cực trong vi c thực hi n nhi m vụ – đó chính là thiết lập VHCL [84]. Tác giả Ulf-Daniel Ethlers cho rằng, VHCL sẽ tạo ra các cơ sở đe hieu chất lƣợng GDĐH một cách toàn di n, không chỉ là các tiêu chuẩn chất lƣợng, quá trình chất lƣợng mà còn tính đến các yếu tố khác ảnh hƣởng đến chất lƣợng nhƣ thái độ và kỹ năng của ngƣời dạy, năng lực và động cơ của ngƣời hoc, nền tảng tổ chức [51]; tác giả Lee Harvey cho rằng VHCL khuyến khích sự sáng tạo và hành động, tự phản bi n, phát trien các sáng kiến cải tiến và thực hi n chúng, VHCL quan tâm đến quan h đối tác và hợp tác, chia sẻ kinh nghi m và làm vi c theo nhóm [66]. Kết luận công trình nghiên cứu “Tác động của văn hóa chất lƣợng đối với động cơ của đội ngũ trong lĩnh vực giáo dục ở Pakistan”, tác giả Sadia Kausar nêu rõ, VHCL có tác động quan trong, tích cực đối với động cơ của đội ngũ nhân sự trong lĩnh vực giáo dục nói chung, trong các trƣờng đại hoc nói riêng ở đất nƣớc Pakistan [78].
Ở Malaysia, các tác giả Hairuddin M. Musah thực hi n công trình nghiên cứu “Văn hóa chất lƣợng giáo dục đại hoc Malaysia và hi u suất nguồn nhân lực” nhằm đánh giá mối quan h giữa VHCL và hi u suất nguồn nhân lực đã đƣa ra kết luận rằng khi các trƣờng đại hoc thiết lập môi trƣờng làm vi c định hƣớng VHCL, đội ngũ hoc thuật chắc chắn hài lòng vì phù hợp với bản chất đời sống hoc thuật, chuyên môn của ho và vì vậy sẽ làm vi c trên tinh thần xây dựng, vì sự nghi p chung của nhà trƣờng; trƣờng đại hoc hình thành nền VHCL 9 không chỉ là hài lòng đội ngũ mà còn cả sinh viên [38]. Tác giả Ardi và các cộng sự cho rằng sự hài lòng của sinh viên đƣợc tác động mạnh mẽ bởi sự cam kết của quản lý nhà trƣờng và khả năng sinh viên cung cấp phản hồi đe cải tiến chất lƣợng [39]. ii) Sự cần thiết phải xây dựng VHCL trong các cơ sở GDĐH Xây dựng VHCL nhằm hình thành môi trường cho các hoạt động hướng đến chất lượng và cải tiến chất lượng: Theo tác giả Mary Rose, xây dựng VHCL trong cơ sở GDĐH là hình thành nền văn hóa hoc tập, nền văn hóa tự phê bình và cải tiến trong đó tất cả các thành viên của tổ chức đều liên quan và cam kết một cách đầy đủ, nền văn hóa phát huy tinh thần tự giác của mỗi thành viên trong công vi c [93].
Tác giả Allan Alberto trong công trình “Hieu văn hóa chất lƣợng trong đảm bảo vi c hoc tập ở các cơ sở giáo dục đại hoc” khẳng định VHCL là nền văn hóa nhấn mạnh sự cải tiến liên tục các quá trình, nền văn hóa thúc đẩy môi trƣờng làm vi c làm thỏa mãn khách hàng nhằm giúp tổ chức thành công [37]. Xây dựng VHCL nhằm hình thành hệ thống giá trị - kim chỉ nam cho sự phát triển của nhà trường: Tác giả Syed M. Ahmed cho rằng VHCL là h thống giá trị của một tổ chức the hi n thông qua một môi trƣờng khuyến khích sự hình thành và không ngừng phát trien của chất lƣợng; xây dựng VHCL bao hàm sự điều chỉnh phong cách quản lý theo hƣớng quản lý dựa vào các giá trị, ở đó các giá trị của tổ chức đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động ra quyết định [36]. Các tác giả gồm Dries Berings, Zjef Beerten, Veerle Hulpiau & Piet Verhesschen cho rằng các yếu tố đe nhận di n VHCL của một cơ sở GDĐH là 03 cặp giá trị tƣơng tranh (competing values hay bipolarities) gồm sáng tạo – truyền thống, tự quyết – kiem soát h thống và định hƣớng tập the - chuyên môn hóa cá nhân [44].
Venera coi VHCL là tổng the các tri thức/nhận thức về giá trị liên quan đến chất lƣợng thu đƣợc hoặc đƣợc thừa nhận; các giá trị của VHCL bao gồm các giá trị về quản lý, các giá trị liên quan đến đội ngũ và các giá trị liên quan đến khách hàng [110]. Xây dựng VHCL nhằm hình thành, duy trì và phát triển hệ thống QLCL nói chung, ĐBCL nói riêng để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nhà trường: Theo Trung tâm Phát trien và Đào tạo nghề Châu Âu (CEDEFOP) [49], VHCL dựa vào QLCL và đƣợc hieu nhƣ là sự tác động lan nhau giữa H thống QLCL chuyên nghi p hóa và sự cam kết chất lƣợng của đội ngũ nhân sự. 10 Hi p hội các trƣờng Đại hoc Châu Âu (European University Association - EUA) khẳng định xây dựng VHCL là con đƣờng có hi u quả và ý nghĩa nhất đe hoạt động ĐBCL duy trì và cải tiến chất lƣợng đồng thời tạo điều ki n cho sự thay đổi năng động trong các trƣờng đại hoc [55], [56], [57], [58]. iii) Yêu cầu, giải pháp xây dựng VHCL - Nghiên cứu xây dựng VHCL trong các cơ sở GDĐH theo tiếp cận VHTC: Các tác giả nhƣ James R.
Schoeder & Robert Cudeck (2003), Ehlers (2009, 2010), Jacques Lanarès (2009), … nghiên cứu VHCL theo tiếp cận này. Tác giả Ulf-Danial Ehlers và Dirk Schneckenberg cho rằng VHCL trong GDĐH là một phần của VHTC, do đó xây dựng VHCL gắn liền với xây dựng VHTC. Theo tác giả, VHCL trong GDĐH đƣợc tạo thành bởi bốn yếu tố quan trong: yếu tố cấu trúc (A structural element) - h thống QLCL; các yếu tố tạo thuận lợi (The enabing facrors); các yếu tố văn hóa liên quan đến chất lƣợng (The quality cultures component); các yếu tố kết nối (The transversal elements) [52].