Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Xây dựng văn hóa chất lượng trong các trường đại học tư thục Việt Nam", chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số: 62.14), do nghiên cứu sinh Trần Văn Hùng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Minh Hùng tại Trường Đại học Vinh vào năm 2017.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Loại hình trường đại học tư thục (ĐHTT) tại Việt Nam được hình thành từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX theo chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước. Đến năm 2017, cả nước có 60 trường đại học ngoài công lập, trong đó có 52 trường ĐHTT đang hoạt động, chiếm tỷ lệ 25,5% tổng số trường đại học (không tính khối Quốc phòng - An ninh), với quy mô đào tạo là 232.367 sinh viên, tương đương 13,25% tổng số sinh viên đại học của cả nước.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp, trong đó nguyên nhân cốt lõi là công tác quản lý chất lượng (QLCL) chưa được coi trọng đúng mức. Sự thiếu hụt này diễn ra ở cả hai cấp độ: cấp độ vĩ mô trong chỉ đạo, điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn thiếu đồng bộ; cấp độ vi mô tại các trường đại học chưa thực sự đầu tư thỏa đáng cho QLCL. Tác giả luận án xác định rằng các công cụ kỹ thuật của QLCL chỉ giúp nhà trường đạt được mục tiêu trước mắt, nhưng để duy trì và cải tiến chất lượng liên tục thì yếu tố quyết định là văn hóa chất lượng (VHCL).
Trong khi các mô hình VHCL đã được nghiên cứu và triển khai sâu rộng tại Châu Âu, Hoa Kỳ và một số nước Châu Á từ đầu thế kỷ XXI, thì tại Việt Nam, các công bố mới chỉ dừng lại ở phạm vi giáo dục đại học nói chung. Chưa có công trình nào đi sâu giải quyết vấn đề xây dựng VHCL dành riêng cho khối trường ĐHTT - một khu vực chịu áp lực cạnh tranh thị trường lớn, tự chủ tài chính nhưng còn nhiều rào cản về cơ chế và uy tín học thuật.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng VHCL, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học cùng hoạt động phục vụ cộng đồng của các trường ĐHTT Việt Nam.
Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng VHCL trong các trường ĐHTT.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề xây dựng VHCL trong các trường ĐHTT Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp xây dựng VHCL trong các trường ĐHTT Việt Nam.
- Thực nghiệm đánh giá hiệu quả một số giải pháp xây dựng VHCL trong các trường ĐHTT Việt Nam.
Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp tác động đến các yếu tố cơ bản cấu thành VHCL (tập trung vào việc xây dựng triết lý chất lượng, tầm nhìn chất lượng, hệ giá trị chất lượng, truyền thống về chất lượng, môi trường làm việc vì chất lượng, cho chất lượng cùng với các cơ chế và chính sách về chất lượng) dựa trên bản chất của VHCL trong trường ĐHTT, đặc trưng của trường ĐHTT Việt Nam và bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay, thì có thể hình thành, phát triển VHCL trong các trường ĐHTT Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động xây dựng VHCL trong trường ĐHTT Việt Nam.
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý xây dựng VHCL trong trường ĐHTT Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Khảo sát thực trạng VHCL và hoạt động xây dựng VHCL tại 10 trường ĐHTT có thời gian thành lập từ 10 năm trở lên, phân bố ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
- Thăm dò sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất trên 10 trường ĐHTT này cùng đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu uy tín về giáo dục đại học.
- Tổ chức thực nghiệm một giải pháp đề xuất tại Trường Đại học Duy Tân (thành phố Đà Nẵng).
- Phạm vi số liệu thực tiễn tập trung vào giai đoạn phát triển của các trường ĐHTT Việt Nam từ năm 1994 đến năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm tiếp cận chính:
1. Hướng nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết của VHCL:
- Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh: Khởi nguồn từ Nhật Bản và Hoa Kỳ từ thập niên 80 của thế kỷ XX, các nghiên cứu của Joseph M. Juran (1995), Lee Harvey & Diana Green (1993), Inga Milisiunaite (2010), Alexandra Jancikova & Karel Brychta (2009), Swapan Saha & Mary Hardie (2005) và báo cáo của Forbes Insights phối hợp Hiệp hội Chất lượng Hoa Kỳ (ASQ) đều khẳng định VHCL là nền tảng giúp tổ chức thích ứng nhu cầu khách hàng và tiết kiệm chi phí vận hành.
- Trong lĩnh vực giáo dục đại học: Guy Bendermacher, Mirjam Oude Egbrink, Ineke Wolfhagen & Diana Dolmans (2016) khẳng định VHCL giúp tăng năng lực cạnh tranh trong bối cảnh ngân sách công suy giảm; Jacques Lanarès (2009) xem VHCL là điều kiện để trường đại học đạt đẳng cấp thế giới; Ulf-Daniel Ehlers (2009) và Lee Harvey (2007) phân tích khả năng thúc đẩy sáng tạo, tự phản biện; Sadia Kausar (2014) khảo sát tại Pakistan chỉ ra tác động tích cực của VHCL tới động cơ làm việc của giảng viên; Hairuddin M. Musah (2013) tại Malaysia chứng minh môi trường định hướng VHCL gia tăng hiệu suất nhân lực học thuật; Ardi và cộng sự (2012) nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên thông qua cam kết quản lý.
2. Hướng nghiên cứu các mô hình và giải pháp xây dựng VHCL:
- Tiếp cận văn hóa tổ chức (VHTC): Ehlers & Dirk Schneckenberg (2010) chia VHCL thành 4 thành phần: cấu trúc, yếu tố tạo thuận lợi, yếu tố văn hóa và yếu tố kết nối; Mantz Yorke (2000) xây dựng quy trình từng bước dựa trên lý thuyết của Argyris, Burnes và Kotter.
- Tiếp cận quản lý chất lượng (QLCL) và TQM: David Kruger & Kem Ramdass (2011) đề xuất quy trình 7 bước áp dụng TQM tại các cơ sở giáo dục đại học ở Nam Phi; Tungkunanan và cộng sự (2014) xây dựng khung lý thuyết phát triển VHCL cho Ủy ban Giáo dục nghề nghiệp Thái Lan; Dotun Adbanjo & Dennis Kehoe (2000) nêu 7 yếu tố; Johnson (2000) nêu 9 yếu tố tạo lập VHCL.
- Tiếp cận đảm bảo chất lượng (ĐBCL): Hiệp hội các trường Đại học Châu Âu (EUA) triển khai 3 dự án lớn gồm Quality Culture Project (2002–2006, 134 trường ở 36 nước), Examining Quality Culture in Higher Education Institutions (EQC, 2009–2012, 122 trường), và Promoting Quality Culture in Higher Education Institutions (PQC, 2012–2013); Dự án AfriQ’Units (2010) tại Đông Phi do Đại học Alicante điều phối; Badri N. Koul & Asha Kanwar (2006) khảo sát 12 trường đại học đào tạo từ xa mở; Laura Muresan và cộng sự (2007) nghiên cứu các cơ sở đào tạo ngôn ngữ; Đại học Aalborg (Đan Mạch, 2007) phát triển mô hình ĐBCL phân cấp ở cấp khoa.
- Tiếp cận hệ thống giá trị: Dries Berings, Zjef Beerten, Veerle Hulpiau & Piet Verhesschen (2010, 2011) xây dựng mô hình VHCL dựa trên 3 cặp giá trị tương tranh giữa học thuật truyền thống và TQM; Todorut A. Venera (2013) phân chia giá trị VHCL thành 3 nhóm: quản lý, đội ngũ, khách hàng; Jacques Lanarès (2009) mô hình hóa sự phát triển VHCL theo 2 cấp độ bề mặt và chiều sâu.
3. Hướng nghiên cứu về trường đại học tư thục:
- Stephen Ntim (2014) nghiên cứu 30/55 trường ĐHTT tại Ghana nhấn mạnh vai trò tham gia của các bên liên quan; Nicola Huson (2013) nghiên cứu trường hợp Đại học Công nghệ Đức tại Oman theo khung lý thuyết EUA; tại Việt Nam, Đỗ Đình Thái (2013) thực hiện luận án so sánh hoạt động ĐBCL và sự hình thành VHCL giữa trường đại học công lập và tư thục.
4. Nghiên cứu trong nước về VHCL:
- Lê Đức Ngọc (2004), Lê Đức Ngọc, Trịnh Thị Vũ Lê, Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2013) định vị VHCL qua hệ thống 5 môi trường (học thuật, xã hội, nhân văn, văn hóa, tự nhiên); Nguyễn Tiến Hưng (2011) phác thảo giải pháp nhận thức, chính sách, kỹ năng và công cụ đánh giá; Đỗ Diên (2012) đề xuất quy trình 6 bước; Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai mô hình 6 bước từ năm học 2011–2012.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy: hướng tiếp cận VHTC chưa làm nổi bật các giá trị riêng của chất lượng; hướng tiếp cận QLCL/TQM thiên về mặt kỹ thuật và gặp trở ngại trước tính an toàn vốn của cổ đông tư nhân; hướng tiếp cận ĐBCL của EUA chỉ dừng lại ở khuyến nghị khung, thiếu giải pháp triển khai cụ thể; hướng tiếp cận hệ thống giá trị lại bỏ quên cấu trúc quản trị. Đặc biệt, các công trình đều chưa làm sáng tỏ hai yếu tố cốt lõi là triết lý chất lượng và tầm nhìn chất lượng, đồng thời chưa phân định sự khác biệt về mặt quản trị giữa đại học công lập và đại học tư thục. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách kết hợp hài hòa các hướng tiếp cận, thiết kế mô hình và quy trình xây dựng VHCL dành riêng cho điều kiện thể chế của các trường ĐHTT Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án kế thừa và chuẩn hóa hệ thống khái niệm nền tảng:
- Chất lượng trong giáo dục đại học tư thục: Tiếp cận theo định nghĩa của Edward Sallis và Laura Schindler, chất lượng được luận án khái quát là sự thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng bên trong và bên ngoài. Bảng phân loại khách hàng giáo dục của Edward Sallis được áp dụng trực tiếp:
| Phân loại khách hàng |
Nhóm đối tượng cụ thể trong GDĐH |
| Khách hàng bên ngoài thứ nhất |
Người học (người trực tiếp tiếp nhận dịch vụ và gia tăng giá trị) |
| Khách hàng bên ngoài thứ hai |
Phụ huynh, người sử dụng lao động trực tiếp |
| Khách hàng bên ngoài thứ ba |
Thị trường lao động, chính phủ, cộng đồng xã hội |
| Khách hàng bên trong |
Cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên phục vụ của cơ sở GDĐH |
- Cấu trúc văn hóa tổ chức: Luận án sử dụng mô hình 3 cấp độ VHTC của Edgar H. Schein (1992):
- Cấp độ 1 (Artifacts): Các quá trình và cấu trúc hữu hình (kiến trúc, cảnh quan, ngôn ngữ, đồng phục, nghi lễ).
- Cấp độ 2 (Espoused Beliefs and Values): Các niềm tin và giá trị được công bố (chiến lược, mục tiêu, triết lý, bộ quy tắc ứng xử).
- Cấp độ 3 (Underlying Assumptions): Các quan niệm ngầm định cơ bản (niềm tin, nhận thức vô thức, tình cảm chung định hướng hành động).
- Văn hóa chất lượng trong trường đại học: Tác giả xác lập quan điểm VHCL là một bộ phận đặc thù trực thuộc văn hóa nhà trường ($VHCL \subseteq VHNT$). Theo định nghĩa của luận án: VHCL trong trường đại học là một hệ thống các triết lý, quan điểm, chuẩn mực, giá trị, truyền thống, cơ chế và chính sách liên quan đến chất lượng được các thành viên chấp nhận, biểu hiện qua thái độ, hành vi và các hình thái vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững.
- Các cặp giá trị tương tranh: Kế thừa thang 8 giá trị doanh nghiệp và trường học của Yenming Zhang:
| Thứ hạng |
8 giá trị văn hóa doanh nghiệp cao nhất |
8 giá trị văn hóa nhà trường cao nhất |
| 1 |
Cạnh tranh |
Sự đổi mới |
| 2 |
Chấp nhận rủi ro |
Sự công bằng |
| 3 |
Trao quyền lực |
Dám làm |
| 4 |
Sự tham gia của mọi người |
Tinh thần nhóm |
| 5 |
Tập trung vào kết quả |
Sự đổi mới |
| 6 |
Tập trung vào con người |
Cá nhân |
| 7 |
Làm việc nhóm |
Sự thi hành |
| 8 |
Sự ổn định |
Truyền thống |
- Sáu đặc trưng của VHCL trong trường ĐHTT Việt Nam: Luận án định vị 6 đặc trưng gồm: (1) Tính hệ thống; (2) Tính nhân văn; (3) Tính dân chủ và quyền lực; (4) Tính linh hoạt và đổi mới; (5) Tính hài hòa lợi ích; (6) Tính định hướng lãnh đạo (gắn với dấu ấn của người sáng lập, Chủ tịch Hội đồng quản trị).
Khung phân tích và quan điểm tiếp cận
Tác giả vận dụng 6 quan điểm tiếp cận đồng bộ:
- Tiếp cận hệ thống: Phân tích đối tượng đa chiều trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường kinh tế - xã hội.
- Tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM): Vận hành chu trình PDCA (Hoạch định - Thực hiện - Kiểm tra - Cải tiến).
- Tiếp cận nội dung: Đi sâu vào các thành tố cấu thành văn hóa chất lượng.
- Tiếp cận văn hóa: Coi trọng chuẩn mực hành vi, bản sắc vùng miền và truyền thống sư phạm.
- Tiếp cận thị trường: Định hướng theo sự biến đổi nhu cầu của người học và bên sử dụng lao động.
- Tiếp cận thực tiễn: Bám sát đặc điểm cơ chế tự chủ, tài chính và cấu trúc quản trị đại học tư thục.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu, khái quát hóa nhận định độc lập và phương pháp mô hình hóa.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra bảng hỏi: Khảo sát trên diện rộng đối với cán bộ quản lý (CBQL), giảng viên (GV), nhân viên (NV) và sinh viên tại 10 trường ĐHTT có thâm niên hoạt động từ 10 năm trở lên.
- Phỏng vấn, quan sát: Trao đổi sâu trực tiếp với CBQL, nhà sáng lập và giảng viên.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các nhà khoa học, chuyên gia quản lý giáo dục đại học.
- Phương pháp thực nghiệm: Thử nghiệm giải pháp bồi dưỡng nhận thức chất lượng tại Trường Đại học Duy Tân.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, bảng phân phối tần số ($F$), tần suất ($f_i$) và tần suất tích lũy ($f_i^*$) để kiểm định số liệu trước và sau thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng văn hóa chất lượng trong các trường đại học tư thục
Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết từ tổng quan lịch sử hình thành khái niệm chất lượng, VHTC, VHNT và VHCL. Luận án làm rõ đặc thù thiết chế của trường ĐHTT Việt Nam: mô hình quản trị gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban Kiểm soát, Hiệu trưởng và vai trò phối hợp của tổ chức Đảng. Quyền tự chủ cao về nhân sự và tài chính mang lại lợi thế thích ứng linh hoạt, nhưng mục tiêu bảo toàn và sinh lợi tài chính cũng tạo ra các rủi ro thương mại hóa nếu thiếu nền tảng văn hóa vững chắc.
Tác giả đề xuất cấu trúc mô hình VHCL trường ĐHTT gồm 5 thành tố cơ bản:
- Nhận thức về chất lượng.
- Triết lý chất lượng và tầm nhìn chất lượng.
- Hệ giá trị chất lượng.
- Môi trường làm việc vì chất lượng, cho chất lượng.
- Cơ chế và chính sách về chất lượng.
Mối quan hệ giữa VHCL và TQM được chứng minh là biện chứng: TQM cung cấp công cụ kỹ thuật và quy trình quản trị, còn VHCL tạo lập tâm thế, niềm tin và trách nhiệm tự giác để các quy trình kỹ thuật đó vận hành hiệu quả.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn về xây dựng văn hóa chất lượng trong các trường đại học tư thục Việt Nam
Chương này phản ánh bức tranh thực trạng qua khảo sát 10 trường ĐHTT thành lập từ 10 năm trở lên trên cả nước. Quá trình xử lý dữ liệu được phân chia thành các nhóm tiêu chí định lượng:
- Nhận thức về chất lượng: Tác giả khảo sát mức độ hiểu biết của CBQL, GV, NV về vai trò của chất lượng và thẩm quyền quyết định xây dựng VHCL (ghi nhận qua các biểu đồ 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 2.5). Đa số nhân sự nhận thức được vai trò sống còn của chất lượng, nhưng còn xem việc xây dựng VHCL là nhiệm vụ riêng của ban giám hiệu hoặc bộ phận ĐBCL.
- Mức độ định hướng đối tượng: Thể hiện qua các bảng khảo sát tiêu chí hướng vào người học (Bảng 2.6, 2.7), hướng vào đội ngũ (Bảng 2.8, 2.9) và hướng vào khách hàng bên ngoài (Bảng 2.10, 2.11). Kết quả chỉ ra các trường đáp ứng khá tốt nhu cầu chăm sóc người học nhưng tính gắn kết với doanh nghiệp và thị trường lao động chưa thực sự bền vững.
- Thực trạng các hoạt động quản trị chuyên môn: Được phân tích chi tiết qua các nhóm dữ liệu về công tác đào tạo (Bảng 2.12, 2.13), công tác quản lý (Bảng 2.14, 2.15), công tác phục vụ (Bảng 2.16, 2.17) và thu nhận phản hồi (Bảng 2.18, 2.19).
- Thực trạng các yếu tố cấu thành văn hóa: Bảng 2.20 và 2.21 thống kê về tầm nhìn chất lượng; Bảng 2.22 và 2.23 đo lường hệ giá trị chất lượng; Bảng 2.24 và 2.25 đánh giá truyền thống chất lượng; Bảng 2.26 đến 2.35 phản ánh 4 khâu vận hành chính sách: hoạch định, tổ chức, kiểm soát và cải tiến chất lượng; Bảng 2.36 tổng hợp các yếu tố tạo lập VHCL.
Đánh giá chung của chương chỉ rõ: VHCL tại các trường ĐHTT Việt Nam mới ở giai đoạn đầu hình thành. Nhiều trường đã ban hành tuyên bố sứ mạng, tầm nhìn nhưng chưa chuyển hóa thành hành động thực tế của từng cá nhân; thiếu vắng các cơ chế khuyến khích tự chủ chuyên môn và môi trường làm việc hợp tác; các quy chế ĐBCL còn mang tính đối phó kiểm định.
Chương 3: Các giải pháp xây dựng văn hóa chất lượng trong trường đại học tư thục Việt Nam
Trên 5 nguyên tắc chỉ đạo (bảo đảm tính mục tiêu, tính thực tiễn, tính toàn diện, tính khả thi, tính hiệu quả), tác giả xây dựng hệ thống 6 giải pháp đồng bộ:
Giải pháp 1: Thiết lập quy trình xây dựng VHCL
↓
Giải pháp 2: Nâng cao nhận thức về chất lượng
↓
Giải pháp 3: Xây dựng, tuyên bố triết lý và tầm nhìn chất lượng
↓
Giải pháp 4: Chỉ đạo xác lập hệ giá trị chất lượng
↓
Giải pháp 5: Thiết lập môi trường làm việc vì chất lượng, cho chất lượng
↓
Giải pháp 6: Đánh giá văn hóa chất lượng
- Giải pháp 1: Thiết lập quy trình xây dựng VHCL trong trường ĐHTT: Định hình lộ trình khoa học từ chuẩn bị, lập kế hoạch, triển khai các can thiệp văn hóa đến đánh giá, điều chỉnh.
- Giải pháp 2: Nâng cao nhận thức về chất lượng cho CBQL, GV, NV: Tổ chức các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, làm rõ trách nhiệm giải trình và vai trò của từng vị trí việc làm đối với chất lượng chung.
- Giải pháp 3: Tổ chức xây dựng, tuyên bố triết lý và tầm nhìn chất lượng: Xác định kim chỉ nam học thuật và cam kết của nhà trường trước xã hội, bảo đảm sự thấu hiểu từ cấp lãnh đạo tới người học.
- Giải pháp 4: Chỉ đạo xác lập hệ giá trị chất lượng: Định chế hóa các chuẩn mực hành vi cốt lõi, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần hợp tác chuyên môn.
- Giải pháp 5: Thiết lập môi trường làm việc vì chất lượng, cho chất lượng: Cải tiến các quy trình quản lý thông qua chu trình chất lượng: sơ đồ lập kế hoạch chất lượng (Sơ đồ 3.1), sơ đồ kiểm soát chất lượng (Sơ đồ 3.2), sơ đồ cải tiến chất lượng (Sơ đồ 3.3) và mô hình hệ thống thông tin QLCL (Hình 3.2).
- Giải pháp 6: Đánh giá văn hóa chất lượng: Thiết lập bộ công cụ và tiêu chí định kỳ đo lường mức độ chuyển biến VHCL của nhà trường.
Khảo sát tính cấp thiết và khả thi: Kết quả trưng cầu ý kiến chuyên gia và cán bộ tại 10 trường ĐHTT khẳng định sự đồng thuận cao về tính cấp thiết (Bảng 3.2) và tính khả thi (Bảng 3.3) của 6 giải pháp đề xuất.
Kết quả thực nghiệm: Luận án tiến hành thực nghiệm giải pháp bồi dưỡng nâng cao kiến thức chất lượng tại Trường Đại học Duy Tân. Dữ liệu đối sánh trước và sau thực nghiệm qua các chỉ số tần số $F$, tần suất $f_i$ và tần suất tích lũy $f_i^*$ (Bảng 3.5, 3.6, 3.7, 3.8, 3.9 cùng Biểu đồ 3.1, 3.2) cho thấy sự gia tăng rõ rệt về điểm số nhận thức và thái độ của đội ngũ CBQL, GV, NV đối với công tác chất lượng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án làm sáng tỏ lý luận về VHCL trong giáo dục đại học, xác định vị trí của VHCL là một bộ phận đặc thù của văn hóa nhà trường ($VHCL \subseteq VHNT$).
- Xây dựng khái niệm mới về VHCL phù hợp với bối cảnh giáo dục đại học tư thục, chỉ ra 6 đặc trưng bản chất của loại hình trường này trong điều kiện Việt Nam.
- Đề xuất cấu trúc mô hình VHCL gồm 5 yếu tố cốt lõi: nhận thức chất lượng; triết lý và tầm nhìn chất lượng; hệ giá trị chất lượng; môi trường làm việc vì chất lượng, cho chất lượng; cơ chế và chính sách chất lượng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực trạng toàn diện đầu tiên về VHCL và hoạt động xây dựng VHCL tại 10 trường ĐHTT có bề dày hoạt động trên 10 năm tại Việt Nam.
- Thiết kế mô hình xây dựng VHCL đặc thù cho khối ĐHTT, khắc phục sự khiếm khuyết của các mô hình cơ sở đào tạo công lập.
- Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp thực thi mang tính khả thi cao, gắn liền với thiết kế bộ công cụ đo lường và đánh giá mức độ phát triển VHCL.
- Minh chứng tính hiệu quả thực tế của giải pháp nâng cao nhận thức thông qua quy trình can thiệp thực nghiệm sư phạm tại Trường Đại học Duy Tân.
Kiến nghị đề xuất
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành các hướng dẫn chuyên môn đồng bộ về phát triển văn hóa chất lượng song hành với kiểm định chất lượng; bảo đảm sự bình đẳng giữa trường công lập và trường tư thục trong tiếp cận các nguồn lực phát triển.
- Đối với các trường đại học tư thục: Hội đồng quản trị và Ban giám hiệu cần cam kết dài hạn về đầu tư nguồn lực cho ĐBCL; tích hợp tuyên bố triết lý và giá trị chất lượng vào tiêu chuẩn tuyển dụng, đánh giá nhân sự; xây dựng môi trường học thuật dân chủ, minh bạch và chuyển từ kiểm soát mệnh lệnh sang quản trị dựa trên giá trị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Do giới hạn về nguồn lực và thời gian nghiên cứu, khảo sát thực trạng và điều tra thăm dò tính cấp thiết, khả thi mới chỉ tiến hành trên mẫu 10 trường ĐHTT có thời gian thành lập từ 10 năm trở lên, chưa thể bao quát toàn bộ 52 trường ĐHTT đang vận hành trên toàn quốc.
- Quá trình thực nghiệm giải pháp mới chỉ tổ chức triển khai thử nghiệm trên phạm vi một giải pháp thành phần (nâng cao kiến thức chất lượng cho đội ngũ) tại một địa bàn duy nhất là Trường Đại học Duy Tân (Đà Nẵng), chưa triển khai thực nghiệm trọn gói đồng thời cả 6 giải pháp trên diện rộng.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực trạng trên các trường ĐHTT mới thành lập (dưới 10 năm) và các mô hình trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Thiết kế và thử nghiệm ứng dụng bộ công cụ đánh giá VHCL hoàn chỉnh vào quá trình tự đánh giá và kiểm định chất lượng nội bộ cho nhiều cơ sở giáo dục đại học tư thục khác nhau.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý và nhà đầu tư giáo dục đại học tư thục: Cung cấp cơ sở khoa học để Hội đồng quản trị và Ban giám hiệu nhận diện đúng bản chất của văn hóa chất lượng, từ đó định hình phong cách lãnh đạo, cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận tài chính với chất lượng học thuật và trách nhiệm xã hội.
- Cán bộ chuyên trách đảm bảo chất lượng: Khung 6 giải pháp và hệ thống biểu mẫu, quy trình kiểm soát (Sơ đồ 3.1, 3.2, 3.3) cùng công cụ đánh giá thực trạng là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp để xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong trường học.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Quản lý giáo dục: Phần tổng quan tài liệu dày dặn với hệ thống lý thuyết phong phú (Schein, Juran, Deming, Sallis, Ehlers, EUA, Berings) cùng cấu trúc phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về văn hóa tổ chức trường học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa văn hóa chất lượng trong trường đại học như thế nào?
Luận án xác định VHCL là một dạng văn hóa đặc thù thuộc văn hóa nhà trường ($VHCL \subseteq VHNT$), bao gồm một hệ thống các triết lý, quan điểm, chuẩn mực, giá trị, truyền thống, cơ chế và chính sách liên quan đến chất lượng được các thành viên trong trường chấp nhận, thể hiện qua thái độ, hành vi và các hình thái vật chất nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, tạo lợi thế cạnh tranh và bảo đảm sự phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa.
2. Điểm khác biệt căn bản trong mô hình tổ chức của trường ĐHTT so với trường công lập được luận án chỉ ra là gì?
Trường ĐHTT Việt Nam sở hữu cơ cấu quản trị riêng biệt không có trong trường công lập gồm: Đại hội đồng cổ đông (cơ quan quyền lực cao nhất), Hội đồng quản trị (đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản trị cao nhất) và Ban Kiểm soát. Ngoài ra, tổ chức Đảng trong trường ĐHTT mang vai trò phối hợp với Chủ tịch HĐQT và Hiệu trưởng trong định hướng phát triển, khác với vai trò lãnh đạo toàn diện trong trường công lập.
3. Tác giả luận án đề xuất bao nhiêu giải pháp để xây dựng VHCL trong trường ĐHTT?
Tác giả đề xuất hệ thống đồng bộ gồm 6 giải pháp: (1) Thiết lập quy trình xây dựng VHCL; (2) Nâng cao nhận thức về chất lượng cho CBQL, GV, NV; (3) Tổ chức xây dựng, tuyên bố triết lý và tầm nhìn chất lượng; (4) Chỉ đạo xác lập hệ giá trị chất lượng; (5) Thiết lập môi trường làm việc vì chất lượng, cho chất lượng; (6) Đánh giá VHCL trong các trường ĐHTT.
4. Luận án tiến hành khảo sát thực trạng và thực nghiệm tại những địa bàn cụ thể nào?
Khảo sát thực trạng được tiến hành tại 10 trường ĐHTT có thời gian thành lập từ 10 năm trở lên ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Quá trình thực nghiệm sư phạm đánh giá giải pháp nâng cao kiến thức chất lượng được tổ chức tại Trường Đại học Duy Tân (thành phố Đà Nẵng).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Văn Hùng đã giải quyết một cách toàn diện vấn đề xây dựng văn hóa chất lượng cho khối trường đại học tư thục Việt Nam từ góc độ quản lý giáo dục. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa lý thuyết văn hóa tổ chức, quản lý chất lượng tổng thể và đảm bảo chất lượng, luận án đã định hình được mô hình VHCL 5 thành tố phù hợp với cấu trúc tự chủ tài chính và quản trị cổ phần. Hệ thống 6 giải pháp cùng bộ công cụ đánh giá được kiểm chứng trên dữ liệu khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản trị đại học tư thục hiện nay.