Tổng quan luận án

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là loại hình tín ngưỡng bản địa phổ biến và lâu đời trong đời sống tâm linh của người Việt ở Bắc Bộ, xuất hiện tại nhiều cơ sở thờ tự từ công cộng đến tư gia như đình, đền, chùa, miếu, phủ. Bên cạnh hệ thống tín ngưỡng dân gian truyền thống, đời sống tâm linh đương đại ghi nhận sự xuất hiện của các tín ngưỡng ngoại lai, trong đó có tín ngưỡng Địa Mẫu. Tín ngưỡng Địa Mẫu là tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam. Dù văn bản Địa Mẫu chân kinh in tại đền Ngọc Sơn (Hà Nội) năm 1923 cho thấy tín ngưỡng này đã hiện diện tại Hà Nội từ đầu thế kỷ XX, nhưng tiến trình phát triển từng bị gián đoạn và chỉ thực sự tái phục hồi, lan tỏa mạnh mẽ từ sau năm 1986 đến nay.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Tín ngưỡng Địa Mẫu có danh xưng dễ gây nhầm lẫn với Mẫu Địa (Thánh Mẫu đệ Tứ trong hệ thống Tam, Tứ phủ của người Việt), song thực chất có sự khác biệt về nguồn gốc, hình tượng, kinh văn và phương thức thực hành. Mặc dù hiện tượng thờ Địa Mẫu diễn ra phổ biến tại nhiều cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng ở Hà Nội, trước thời điểm luận án thực hiện chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào khảo sát toàn diện và hệ thống về tín ngưỡng Địa Mẫu tại địa bàn này.

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích của luận án là nhận diện tín ngưỡng Địa Mẫu, tìm hiểu nguồn gốc và quá trình du nhập tín ngưỡng này vào các cơ sở thờ tự ở Hà Nội; phân tích các đặc điểm, giá trị văn hóa, sự biến đổi và dung hợp của tín ngưỡng Địa Mẫu trong đời sống xã hội đương đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quan để chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về tín ngưỡng Địa Mẫu.
  2. Nhận diện tín ngưỡng Địa Mẫu trên cả bình diện lý luận và thực tiễn.
  3. Tìm hiểu nguồn gốc, tiến trình du nhập và phân tích sự chuyển đổi, dung hợp của tín ngưỡng Địa Mẫu tại ba điểm nghiên cứu trường hợp ở Hà Nội.
  4. Chỉ ra những đặc điểm, giá trị văn hóa, xu hướng vận động và đưa ra các nhận định, bàn luận về việc thờ Địa Mẫu tại Hà Nội trong bối cảnh hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Bản chất của tín ngưỡng Địa Mẫu là gì?
  2. Nguyên nhân và lí do nào dẫn đến việc du nhập tín ngưỡng Địa Mẫu vào các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng ở Hà Nội, đặc biệt là ba điểm nghiên cứu chính?
  3. Việc du nhập tín ngưỡng Địa Mẫu đã mang lại kết quả như thế nào giữa tín ngưỡng Địa Mẫu và các tôn giáo tín ngưỡng bản địa?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng Địa Mẫu ở Hà Nội, trọng tâm là sự hiện diện của tín ngưỡng này trong các không gian đình, đền, chùa và điện thờ tư gia.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào ba điểm nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội gồm: Đình Ứng Thiên (số 7 ngõ 151 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa), Chùa Vân Hồ (số 40 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng), và Điện thờ tư gia họ Nguyễn (phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng). Đồng thời, luận án khảo sát đối chiếu với một số điểm thờ Địa Mẫu tại các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình và khu vực Nam Bộ.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ sau năm 1986 đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan theo hai nhóm nội dung chính:

Các nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung

  • Học giả nước ngoài: Léopold Cadière khảo cứu về tâm thức đa thần, sự phụ thuộc vào lực lượng siêu nhiên và đời sống tín ngưỡng của người An Nam. Oscar Salemink (2003) phân tích thực hành lên đồng dưới lăng kính an ninh con người, chỉ ra bốn hình thức bất an tâm lý (sức khỏe, kinh tế/thị trường, hiện sinh/người chết, quản lý rủi ro). Endres và Chauvet nghiên cứu về công năng gọi hồn, lên đồng và tính năng động trong hoạt động hành hương của các ông đồng, bà đồng.
  • Thư tịch cổ và học giả tiền bối: Ghi chép tín ngưỡng qua Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh - Kiều Phú), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Vũ trung tùy bút và Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ), Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn), Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn). Đến đầu thế kỷ XX có các khảo cứu của Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Khoan. Giai đoạn 1954–1975 có công trình của Đỗ Nam, Nghiêm Thẩm, Hồ Hữu Tường, Lê Hữu Lễ.
  • Nghiên cứu sau năm 1986: Tạ Chí Đại Trường (Thần, người và đất Việt), Vũ Ngọc Khánh (Tín ngưỡng làng xã Việt Nam, Nữ Thần và thánh Mẫu Việt Nam, Đạo Thánh ở Việt Nam), Ngô Đức Thịnh (Đạo Mẫu Việt Nam, Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận, Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam), Nguyễn Duy Hinh (Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam), Đặng Nghiêm Vạn (Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay), Nguyễn Đăng Duy (Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam). Các tác giả phân tích sự biến đổi tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa gồm Trương Thìn, Nguyễn Quốc Tuấn, Thái Văn Anh, Đào Thị Vinh, Trương Hiến, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Hồ Tấn Sáng, Chu Văn Tuấn, Đinh Thị Hà Giang, Hồ Bá Thâm, Quốc Bảo, Nguyễn Thị Yên, Phan Văn Ba và Hà Thị Thùy Dương.

Các công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về tín ngưỡng Địa Mẫu

  • Nghiên cứu tại Trung Quốc: Tài liệu khảo cứu chỉ ra tín ngưỡng Mẹ Đất/Địa Mẫu phát triển mạnh vào thời Minh - Thanh, quản lý cõi âm - dương. Đền Địa Mẫu ở Hán Trung (Thiểm Tây), Sơn Tây và các điểm thờ tại Quảng Nam (Vân Nam) lưu giữ bản Địa Mẫu chân kinh, tổ chức lễ tụng kinh vào ngày mùng 1, rằm và ngày 18 tháng 10 âm lịch.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Nguyễn Hồng Dương, Đỗ Quang Hưng và Nguyễn Văn Minh xếp Địa Mẫu/Phật Mẫu Địa Cầu vào danh mục các hiện tượng tôn giáo mới hoặc "đạo lạ" xuất hiện sau năm 1980, ghi nhận sự có mặt tại Nam Định.
    • Trần Hạnh Minh Phương phân tích tín ngưỡng thờ Mẫu của người Hoa tại TP. Hồ Chí Minh, phân biệt Địa Mẫu với Tây Vương Mẫu và Mẹ Thai Sanh. Dương Hoàng Lộc khảo sát tranh Thập nhị Thánh Mẫu tại Miếu Bà An Thuận (Bến Tre). Nguyễn Hữu Hiếu khảo sát Địa Mẫu trong hệ thống gần 40 nữ thần qua am miếu Nam Bộ.
    • Huỳnh Ngọc Thu, Nguyễn Thanh Xuân và Lê Anh Dũng phân tích danh xưng, kinh văn Diêu Trì Kim Mẫu, Phật Mẫu trong đạo Cao Đài và Đạo giáo. Nguyễn Ngọc Thơ khảo sát Diêu Trì Kim Mẫu tại Thoại Sơn (An Giang).
    • Nguyễn Thị Bích Thúy ghi nhận Địa Mẫu tại chùa Bửu Sơn (Sóc Trăng); Mai Thị Minh Thuy khảo sát tại An Giang; Văn Thị Thùy Trang nghiên cứu miếu thờ Địa Mẫu tại Bình Dương; Trần Hồng Liên khảo sát miếu người Hoa tại TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Hải Phượng, Huỳnh Văn Tới và Nguyễn Thị Nguyệt nghiên cứu nữ thần bảo hộ đất đai ở miền Đông Nam Bộ; Nguyễn Văn Bốn nghiên cứu tại Khánh Hòa; Phan Thị Hoa Lý khảo sát Hội quán Ôn Lăng; Lê Thị Thanh Thảo khảo sát am Địa Mẫu chuyển thành chùa Kim Thiền (Tiền Giang).

Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu đề cập Địa Mẫu một cách khái lược, phân tán ở Nam Bộ hoặc liệt kê trong danh sách hiện tượng tôn giáo mới. Hoàn toàn vắng bóng các công trình chuyên sâu nghiên cứu về tín ngưỡng Địa Mẫu tại miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội, chưa phân tích thấu đáo về văn bản kinh sách, nghi lễ thực hành, sự chuyển đổi không gian thờ tự và sự dung hợp với tín ngưỡng bản địa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng của nhân học và văn hóa học:

  1. Lý thuyết Truyền bá văn hóa (Cultural Diffusion): Dựa trên luận điểm của Grafton Elliot Smith, W.J. Perry, Fritz Graebner, Wilhelm Schmidt và diễn giải của Lê Kim Loan, luận án luận giải con đường du nhập của tín ngưỡng Địa Mẫu từ Trung Quốc vào Việt Nam qua di dân và qua sự lưu chuyển của văn bản kinh sách (Địa Mẫu chân kinh), cũng như sự lan tỏa qua công nghệ thông tin trong bối cảnh đương đại.
  2. Lý thuyết Giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation): Vận dụng quan điểm của Thomson và Phan Thị Hoa Lý để phân tích quá trình tiếp xúc tự nguyện giữa tín ngưỡng Địa Mẫu và văn hóa bản địa, dẫn tới sự thích ứng, dung hợp, hỗn dung văn hóa mà không làm mất đi hoàn toàn bản sắc riêng biệt.

Các khái niệm công cụ được xác định rõ: Tín ngưỡng (theo Nguyễn Duy Hinh, Ngô Đức Thịnh), Không gian thiêng / Không gian thờ (theo Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Công Thảo, Phạm Quỳnh Phương), Đình, Chùa (theo Toan Ánh, Nguyễn Quang Lê) và Điện thờ tư gia (theo Lê Thị Chiêng).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tập hợp, phân loại tư liệu và dịch thuật: Thống kê, phân tích các tài liệu xuất bản; dịch và đối chiếu các bản Địa Mẫu chân kinh chữ Hán để so sánh dị bản.
  • Phương pháp điền dã thực địa: Quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các chủ thể thực hành (chủ điện, thủ từ, sư trụ trì, tín đồ); đo đạc, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình không gian và nghi lễ thờ tự tại Hà Nội và các tỉnh lân cận.
  • Phương pháp phân tích, diễn giải, so sánh: Đối chiếu thực hành Địa Mẫu giữa các không gian (đình, chùa, điện tư gia) và giữa hai miền Bắc Bộ - Nam Bộ.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phát 470 phiếu khảo sát ngẫu nhiên đối với người đi lễ từ 18 tuổi trở lên tại ba điểm nghiên cứu ở Hà Nội trong hai đợt (năm 2019 và năm 2022, sau giai đoạn gián đoạn do dịch Covid-19 trong năm 2020–2021).
  • Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức Văn hóa học, Tôn giáo học, Xã hội học và Tâm lý học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 tập trung tổng quan hệ thống tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về tôn giáo tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng Địa Mẫu. Tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học về Địa Mẫu tại Bắc Bộ và Hà Nội; xác lập hệ thống khái niệm công cụ (tín ngưỡng, không gian thiêng, đình, chùa, điện thờ tư gia) và xây dựng khung phân tích dựa trên lý thuyết truyền bá văn hóa cùng lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa.

Chương 2: Tín ngưỡng Địa Mẫu những vấn đề chung và thực tiễn

Chương này làm rõ nguồn gốc lịch sử, danh xưng, hình tượng, kinh sách và nghi thức thực hành của tín ngưỡng Địa Mẫu:

  • Nguồn gốc và danh xưng: Địa Mẫu xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẹ Đất tại Trung Quốc, phát triển thành vị thần tối cao quản lý cõi âm dương, đất đai, muôn loài. Tại Việt Nam, danh xưng xuất hiện dưới nhiều dạng: Địa Mẫu, Đức Địa Mẫu, Diêu Trì Địa Mẫu, Phật Mẫu Địa Cầu.
  • Hình tượng: Khác với Mẫu Địa của người Việt, hình tượng Địa Mẫu phổ biến là người phụ nữ tóc búi cao, mặc áo đen (hoặc xanh đậm), đứng thẳng trên quả địa cầu; một tay bắt ấn cứu độ đặt trước ngực, một tay buông xuôi cầm vật trải dài tượng trưng cho cái chài đánh cá (lưới chài cứu vớt chúng sinh).
  • Kinh sách và nghi lễ: Tụng bản Địa Mẫu chân kinh; thời gian thực hành đặc thù vào giờ Ngọ (11 giờ trưa) các ngày Mậu trong tháng âm lịch; ngày vía chính cử hành vào ngày 18 tháng 10 âm lịch (hoặc các ngày 8, 18, 28 âm lịch hàng tháng).
  • Phân biệt "Địa Mẫu" và "Mẫu Địa":
Tiêu chí phân biệt Tín ngưỡng Địa Mẫu Tín ngưỡng Mẫu Địa (Tam, Tứ phủ)
Nguồn gốc Ngoại lai (du nhập từ Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX). Bản địa (thuộc hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ của người Việt).
Biểu tượng tạo hình Phụ nữ đứng trên quả địa cầu, tay cầm chài lưới, tay bắt ấn cứu độ, y phục đen/sẫm. Nữ thần ngồi ngai, mặc y phục màu vàng (hoàng bào), mang biểu tượng hành Thổ.
Kinh văn cốt lõi Tụng bản Địa Mẫu chân kinh (chữ Hán/Việt). Sử dụng văn chầu, hát văn, khoa cúng Tứ phủ truyền thống.
Thời gian thực hành Giờ Ngọ các ngày Mậu; đại lễ vía ngày 18/10 âm lịch. Các ngày tuần tiết rằm, mùng một; lễ hội Mẫu tháng Ba, tháng Tám; các vấn hầu bóng.
  • Khảo sát thực tiễn tại Bắc Bộ: Khảo sát các điểm thờ Địa Mẫu tại Hà Nội và các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình cho thấy tín ngưỡng này có tuổi đời non trẻ tại miền Bắc, thường dựa vào các cơ sở thờ tự có sẵn để dung hợp và phát triển.

Chương 3: Quá trình hình thành, phát triển tín ngưỡng Địa Mẫu tại đình Ứng Thiên, chùa Vân Hồ và điện thờ họ Nguyễn ở Hà Nội

Chương 3 đi sâu vào ba nghiên cứu trường hợp đại diện cho ba mô hình không gian thiêng tại Hà Nội:

  1. Đình Ứng Thiên (quận Đống Đa): Địa Mẫu được đưa vào phối thờ trong không gian đình làng thờ Nữ thần Hậu Thổ (Ứng Thiên Hậu Thổ). Tại đây, Địa Mẫu được tiếp biến và gán thêm vai trò như một vị Thành hoàng bảo trợ cho cộng đồng dân cư địa phương.
  2. Chùa Vân Hồ (quận Hai Bà Trưng): Trong không gian Phật giáo, Địa Mẫu được tôn xưng là "Đức Địa Mẫu", được nhìn nhận mang phẩm hạnh và quyền năng tương tự như một vị Phật hoặc Bồ Tát cứu độ chúng sinh, tích hợp vào cấu trúc "tiền Phật hậu Mẫu".
  3. Điện thờ tư gia họ Nguyễn (quận Hai Bà Trưng): Trong không gian tư gia, Địa Mẫu được tôn vinh thành vị thần chủ tối cao, cai quản toàn bộ thế giới siêu nhiên gồm cả Tiên, Thánh, Phật và các chân linh người đã khuất.

Số liệu khảo sát xã hội học (tổng hợp từ 470 phiếu năm 2019 và năm 2022):

  • Nhận thức về kinh Địa Mẫu: Tại cả ba điểm, tỷ lệ nhận diện đọc kinh Địa Mẫu là nghi lễ của Địa Mẫu/Phật Mẫu có sự gia tăng từ năm 2019 đến năm 2022, dù vẫn tồn tại sự nhầm lẫn với Mẫu Địa hoặc Phật Bà Quan Âm.
  • Cơ cấu người tham gia: Nữ giới chiếm đa số tại cả ba điểm thờ (dao động từ 65% đến trên 80%). Độ tuổi tham gia đa dạng, tập trung nhiều ở nhóm trung niên và người cao tuổi (từ 40 tuổi trở lên), tuy nhiên nhóm tuổi trẻ (18–35 tuổi) có xu hướng tăng nhẹ năm 2022.
  • Mục đích mong cầu: Cầu sức khỏe, bình an, tài lộc; đặc biệt ghi nhận tỷ lệ cao người đi lễ cầu mong may mắn, thuận lợi trong hoạt động kinh doanh bất động sản, buôn bán nhà đất tại Chùa Vân Hồ và Điện thờ họ Nguyễn.

Chương 4: Những đặc điểm, giá trị, xu hướng và vấn đề bàn luận về thờ Địa Mẫu

  • Bình luận đặc điểm vùng miền: So sánh đối chiếu cho thấy tại Nam Bộ, thờ Địa Mẫu xuất hiện sớm hơn (trước 1975), hòa quyện chặt chẽ với tín ngưỡng người Hoa, đạo Cao Đài và Phật giáo Nam Bộ. Tại Bắc Bộ (Hà Nội), tín ngưỡng xuất hiện muộn hơn, mang tính dung hợp linh hoạt vào các thiết chế đình, chùa, điện tư gia truyền thống.
  • Giá trị văn hóa:
    • Giá trị gắn kết cộng đồng: Hình thành các đạo tràng, nhóm đọc kinh định kỳ, gắn bó các tín đồ qua sinh hoạt tâm linh.
    • Giá trị văn hóa tâm linh và đạo đức: Răn dạy con người sống hiếu nghĩa, bảo vệ môi trường đất đai, hướng thiện, tạo điểm tựa tinh thần giúp giải tỏa bất an tâm lý.
    • Giá trị biểu tượng đa nghĩa: Biểu tượng Mẹ Đất vừa mang ý nghĩa nguồn gốc sinh sôi của tự nhiên, vừa mang ý nghĩa cứu thế và bảo trợ đời sống thế tục.
  • Xu hướng vận động:
    • Chịu tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, biến chuyển thành nơi cầu tài lộc, giao dịch đất đai bất động sản.
    • Xu hướng sáng tạo và tiếp tục dung hợp sâu sắc với tín ngưỡng bản địa (thờ Mẫu Tam, Tứ phủ, thờ Phật, thờ Thành hoàng).
    • Ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền bá kinh sách, tổ chức thực hành tâm linh và cầu nguyện từ xa (đặc biệt trong giai đoạn dịch Covid-19).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học (Lý luận)

  • Hệ thống hóa và xác định rõ bản chất của tín ngưỡng Địa Mẫu là tín ngưỡng ngoại lai có nguồn gốc từ Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX (chứng tích văn bản năm 1923 tại đền Ngọc Sơn) và tái khởi sắc sau năm 1986.
  • Phân định rạch ròi giữa "Địa Mẫu" và "Mẫu Địa", giải quyết sự nhầm lẫn tồn tại lâu năm trong nhận thức dân gian và một số nghiên cứu trước đó.
  • Vận dụng thành công lý thuyết truyền bá và tiếp biến văn hóa để lý giải cơ chế dung hợp của Địa Mẫu vào ba không gian thiêng đặc thù: gắn với đình mang vai trò Thành hoàng; gắn với chùa mang vai trò Phật/Bồ Tát; gắn với điện tư gia mang vai trò thần chủ tối cao.
  • Nhận diện ba nhóm chủ thể thực hành tín ngưỡng Địa Mẫu tại Hà Nội: (1) Nhóm người hoạt động kinh doanh bất động sản; (2) Nhóm tín đồ thuần thành tôn thờ Mẹ Trái Đất và cầu nguyện cho xã hội; (3) Nhóm chủ điện muốn lập Địa Mẫu làm thần chủ riêng nhằm thu hút tín đồ.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp nguồn tư liệu thực địa và số liệu xã hội học có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu văn hóa học, tôn giáo học và nhân học.
  • Đưa ra cơ sở dữ liệu thực tiễn giúp các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa - tôn giáo (ngành Văn hóa, Ban Tôn giáo) nhận diện đúng bản chất hiện tượng, phân biệt tín ngưỡng dân gian lành mạnh với các biến tướng trục lợi tâm linh, từ đó có chính sách quản lý phù hợp đối với các cơ sở thờ tự công cộng và tư gia trong thời kỳ đổi mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nguồn tư liệu thư tịch lịch sử ghi chép về quá trình du nhập cụ thể của tín ngưỡng Địa Mẫu vào Việt Nam trong giai đoạn trước năm 1986 còn khan hiếm, dẫn tới việc phục dựng tiến trình lịch sử đầu thế kỷ XX chủ yếu dựa vào các văn bản kinh sách đơn lẻ.
    • Quá trình điều tra bảng hỏi xã hội học gặp trở ngại do sự bùng phát của đại dịch Covid-19 trong hai năm 2020 và 2021 khiến các cơ sở tôn giáo phải đóng cửa, đồng thời tâm lý e dè của người đi lễ khi cung cấp thông tin cá nhân cũng ảnh hưởng nhất định đến phạm vi thu thập dữ liệu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh liên vùng quy mô lớn giữa các cơ sở thờ Địa Mẫu ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ để làm rõ hơn bản đồ phân bố và các biến thể nghi lễ của tín ngưỡng này trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Tôn giáo học, Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học văn hóa khi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, các hiện tượng tôn giáo mới, và sự tiếp biến văn hóa.
  • Các nhà quản lý văn hóa và cán bộ hoạch định chính sách tôn giáo tại các địa phương nhằm nhận diện thực trạng biến đổi tín ngưỡng, quản lý không gian thờ tự tại đình, chùa, điện tư gia và xử lý các vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng ngoại lai.
  • Nội dung giá trị nhất: Khung tiêu chí phân biệt Địa Mẫu - Mẫu Địa (Chương 2) và bộ dữ liệu khảo sát thực địa 470 phiếu tại 3 không gian thờ tự ở Hà Nội (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Tín ngưỡng Địa Mẫu xuất hiện tại Hà Nội từ thời điểm nào?

Căn cứ vào bản Địa Mẫu chân kinh chữ Hán được in tại đền Ngọc Sơn (Hà Nội) năm 1923, tín ngưỡng Địa Mẫu đã xuất hiện tại Hà Nội từ đầu thế kỷ XX. Sau một thời gian bị gián đoạn, tín ngưỡng này phát triển trở lại tại các cơ sở thờ tự ở Hà Nội từ sau năm 1986 đến nay.

2. Hình tượng tạo hình và nghi thức thực hành đặc trưng của Địa Mẫu là gì?

Hình tượng Địa Mẫu phổ biến là một phụ nữ tóc búi cao, mặc áo đen (hoặc xanh đậm), đứng thẳng trên quả địa cầu; tay trước ngực bắt ấn cứu độ, tay kia cầm dải chài lưới tượng trưng cho việc cứu vớt chúng sinh. Nghi lễ cốt lõi là đọc kinh Địa Mẫu vào giờ Ngọ (11 giờ) các ngày Mậu âm lịch và tổ chức đại lễ vía vào ngày 18 tháng 10 âm lịch.

3. Điểm khác nhau cơ bản giữa Địa Mẫu và Mẫu Địa trong luận án là gì?

Địa Mẫu là tín ngưỡng ngoại lai có nguồn gốc từ Trung Quốc, gắn với biểu tượng quả địa cầu, kinh văn riêng (Địa Mẫu chân kinh) và thực hành ngày Mậu/vía 18/10. Ngược lại, Mẫu Địa (Mẫu Đệ Tứ) là vị Thánh Mẫu bản địa thuộc hệ thống Tứ phủ của người Việt, mặc hoàng bào màu vàng, ngự trên ngai và gắn liền với diễn xướng hầu đồng, hát văn truyền thống.

4. Tín ngưỡng Địa Mẫu dung hợp như thế nào tại ba điểm nghiên cứu ở Hà Nội?

Tại Đình Ứng Thiên, Địa Mẫu kết hợp với thần Hậu Thổ đóng vai trò như Thành hoàng bảo trợ làng xã; tại Chùa Vân Hồ, Địa Mẫu được Phật giáo hóa thành vị Phật/Bồ Tát cứu độ trong cấu trúc "tiền Phật hậu Mẫu"; tại Điện thờ họ Nguyễn, Địa Mẫu được nâng lên thành vị thần chủ tối cao cai quản toàn bộ cõi siêu nhiên.

5. Những nhóm đối tượng nào chủ yếu tham gia thờ phụng Địa Mẫu tại Hà Nội?

Luận án chỉ ra ba nhóm: nhóm người kinh doanh buôn bán bất động sản (cầu may mắn về đất đai); nhóm tín đồ sùng kính tôn thờ Địa Mẫu như người Mẹ Trái Đất để cầu bình an, giải tỏa bất an tinh thần; và nhóm chủ điện tư gia lập Địa Mẫu làm thần chủ nhằm thu hút con nhang đệ tử.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hiền là công trình nghiên cứu hệ thống về tín ngưỡng Địa Mẫu tại Hà Nội dưới góc độ Văn hóa học. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã thực địa, phân tích văn bản và điều tra xã hội học 470 phiếu tại ba điểm nghiên cứu điển hình, tác giả đã làm sáng tỏ nguồn gốc ngoại lai, đặc điểm hình tượng, kinh sách và sự khác biệt giữa Địa Mẫu với Mẫu Địa bản địa. Công trình luận giải sâu sắc cơ chế giao lưu tiếp biến văn hóa, chỉ ra sự dung hợp linh hoạt của Địa Mẫu trong các không gian đình, chùa, điện tư gia cũng như mối liên hệ giữa nhu cầu tâm linh với bối cảnh kinh tế thị trường đương đại. Luận án đóng góp nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn cho công tác nghiên cứu văn hóa dân gian và quản lý tôn giáo tín ngưỡng tại Việt Nam.