Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Một số công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung 1. Một số công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng của học giả nước ngoài Với quan niệm đa thần, tin vào sự tồn tại của linh hồn nên người xưa đã thờ rất nhiều thần linh, đặc biệt là những sự vật có liên quan đến nông nghiệp như trời, trăng, đất, rừng, sông, núi… để cầu mong được phù hộ, che chở.
Theo nghiên cứu của Leopold Cadiere, tâm thức của người Việt rất đa dạng. Họ có thể thờ, kiêng bất cứ điều gì mà họ tin rằng có thể phạm đến thần. Khi con người sống dựa vào thiên nhiên thì người ta phải cầu xin thần linh được mưa, xin vào rừng kiếm được nhiều cái ăn, xin chặt cây dựng nhà. Không chỉ có vậy mà khi một sinh linh ra đời họ làm lễ mong thần linh phù hộ, lấy vợ, lấy chồng, người ốm, người chết đều được làm lễ.
Ông đã nêu lên sự vất vả của người phụ nữ An Nam lúc bấy giờ với bao lo lắng, gánh nặng đổ lên vai khiến họ tin vào các hữu thể siêu nhiên nhiều hơn đàn ông. Trong cuộc sống bỗng nhiên có tiếng quạ kêu, chuột rúc, chim sa, cá nhảy. họ cũng nghĩ rằng có một điềm báo gì đấy [53, tr. Như vậy tâm thức của người Việt chịu nhiều tác động của thế giới siêu nhiên, lúc đói khổ họ cầu xin thần linh giúp họ may mắn thoát khổ, nhưng cuộc sống no đủ họ cũng nghĩ đến cám ơn thần linh đã phù hộ cho họ.
Trong thời gian sau này, khi nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam, một số học giả nước ngoài hướng việc tìm hiểu vào để giải mã/ nhận diện các tín ngưỡng bản địa cũng như đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người Việt thì họ quan tâm nhiều hơn đến những biến đổi trong đời sống văn hóa và nghi lễ của cộng đồng như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những hình thức tôn thờ các vị thần anh 10 hùng dân tộc, người có công với nước, thờ thổ công, thổ địa dưới tác động của những chính sách cải cách kinh tế và văn hóa của Nhà nước Việt Nam những năm sau đổi mới. Nhiều học giả cũng quan tâm đến những vấn đề cuộc sống tôn giáo trong truyền thống và gia đình. Toàn bộ hệ thống xã hội ở Việt Nam theo truyền thống là hiện thân của những nguyên tắc nhất thể. Gia đình truyền thống dựa theo mô hình nhà nước và nhà nước dựa vào mô hình gia đình.
Tín ngưỡng, tôn giáo là thứ xi măng gắn kết toàn bộ trật tự với nhau. Sự sùng bái thần thánh, gắn liền với Khổng giáo, là cách để khắc sâu những mối quan hệ đúng đắn trong các gia đình và giữa con người với nhau. Bên cạnh đó, các học giả nước ngoài và học giả trong nước viết bằng tiếng Anh cũng rất quan tâm nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những hình thức tôn thờ các vị thần anh hùng dân tộc, người có công với nước, thờ thổ công, thổ địa và những tác động của việc thờ cúng nay trong cuộc sống của người dân sau đổi mới. Những thực hành nghi lễ này trong thời kỳ đương đại biến đổi nhiều, mang dấu ấn của những thay đổi kinh tế, xã hội, đồng thời cũng tác động đến lối sống của họ [76].
Áp dụng từ góc độ an ninh con người, Oscar đánh giá những động cơ đa dạng và những mục tiêu bằng cách đặt thực hành Lên đồng trong bối cảnh hiện nay trong mối quan hệ với những lo lắng, bất ổn và sự bấp bênh của con người Việt Nam ngày nay, cũng như kết nối chúng với các chiều kích vật chất và nhân sinh của an ninh con người. Tác giả phân biệt bốn hình thức của sự bất an đòi hỏi sự giúp đỡ tâm linh: 1) bất an về sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần (cần được chạy chữa); 2) bất an về kinh tế và rủi ro thị trường (tìm kiếm sự may mắn); 3) những bấp bênh hiện sinh liên quan đến người chết, ví dụ như người thân mất trong chiến tranh (tìm và chôn cất hài cốt theo nghi lễ); 4) mạo hiểm có mục đích và quản lý mạo hiểm. Trong nghiên cứu, tác giả cũng khám phá một số vấn đề nêu trên trong những lát cắt về mối liên hệ giữa an ninh con 11 người, an định tôn giáo, và an toàn tinh thần; về chữa bệnh và sự an toàn; về an ninh kinh tế, về an tòan hiện sinh, về sự tự do, rủi ro và an toàn. Điều này sẽ được xem xét trong bốn minh hoạ dân tộc học minh chứng cho các nỗ lực tạo ra an tòan sức khoẻ, an toàn kinh tế, giảm rủi ro và bình ổn [76].
Endes phân tích về công năng của những thực hành gọi hồn, lên đồng, Chauvet về ý nghĩa của việc đi lễ xa của những ông đồng, bà đồng, như những người hành hương đi lễ và lên đồng ở những đền to phủ lớn, về sự năng động trong chuyển động của con người, hiện vật, v. Một số công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng của học giả trong nước Như chúng ta biết, tôn giáo, tín ngưỡng xuất hiện từ sớm, trước khi người ta nghiên cứu về nó. Và ở Việt Nam cũng vậy, tôn giáo, tín ngưỡng chỉ mới thực sự được nghiên cứu từ trên 100 năm nay. Trước thế kỷ XX, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian không phải là đối tượng nghiên cứu trực tiếp mà chỉ được biết đến thông qua những ghi chép, khảo cứu và sáng tác của giới trí thức nho học như Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh - Kiều Phú), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ).
Ngoài ra tôn giáo, tín ngưỡng còn được ghi chép qua những bộ sách sử như Đại Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Đại Việt thông sử (Lê Quí Đôn), Lịch triều tạp kỉ (Ngô Cao Lãng). và các sách dạng “chí” như Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn). Qua những công trình này, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được hình dung một cách khái quát nhất nhờ những thống kê đầy đủ và chi tiết đậm tính tư liệu về các đền, miếu, thần linh, lễ nghi, phong tục, thần tích. Chỉ đến đầu thế kỷ XX, tôn giáo, tín ngưỡng mới thực sự trở thành một đối tượng để các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học để tâm nghiên cứu, tìm hiểu 12 và giải mã.
Trước tiên phải kể đến những học giả người Pháp như P. và sau này, đội ngũ những nhà nghiên cứu Việt Nam cũng để tâm đến mảng đề tài này là những học giả như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Khoan. Đây là những học giả đã tiên phong trong việc tìm hiểu tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam thông qua các lễ nghi, phong tục và lễ hội. Giai đoạn tiếp theo, từ 1954 đến 1975, vấn đề nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng đã được các học giả Việt Nam quan tâm nhiều hơn, nhiều bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này dưới dạng miêu tả phong tục, lễ hội đã được công bố trên các tạp chí như Thánh địa lí Tả Ao của tác giả Đỗ Nam, Tôn giáo của người Chàm ở Việt Nam của tác giả Nghiêm Thẩm, Bói đầu năm của Hồ Hữu Tường, Tín ngưỡng và cổ tục tôn thờ thần linh biển cả tại Bình Thuận của Lê Hữu Lễ.
Tình hình nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam vẫn tiếp tục được duy trì một cách khá đều đặn trong những năm tiếp theo. Phải cho đến sau 1986 việc nghiên cứu này mới thực sự khởi sắc và có bước phát triển rõ rệt khi mà những bí ẩn của cõi tâm linh được chú ý nhiều. Từ những biểu hiện cụ thể của nghi lễ, của phong tục, của lễ hội diễn ra thường xuyên trong giai đoạn này, các nhà khoa học đã cố công tìm hiểu, nghiên cứu và giải mã niềm tin sâu xa mà con người gửi gắm trong tín ngưỡng để cho ra đời hàng loạt những công trình, những bài viết giá trị về tôn giáo, tín ngưỡng như: Thần, người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường, Tín ngưỡng làng xã Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh, Đạo Mẫu của Ngô Đức Thịnh chủ biên, Tín ngưỡng dân gian Huế của Trần Đại Vinh, Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay của Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Tín ngưỡng thờ Thành hoàng của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh chủ biên, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh chủ biên, Từ điển Việt 13 Nam văn hoá tín ngưỡng phong tục của Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo. Ở giai đoạn sau, một số công trình nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam ngày càng nhiều hơn.
Từ góc độ lý luận và dựa trên nền tảng lý thuyết, đặc điểm và vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam trong đời sống hiện nay, đặc biệt là biến đổi đời sống tín ngưỡng, tôn giáo khi đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa lần lượt được đề cập đến Ngô Đức Thịnh về Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam; Đặng Nghiêm Vạn với nghiên cứu Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam,…. Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung nghiên cứu tín ngưỡng, những truyền thống văn hoá bản địa chưa bị “thuộc địa hoá” hoàn toàn bởi văn hoá phương Tây, hay bị tác động mạnh mẽ bởi hội nhập toàn cầu. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc thờ cúng thần thánh, các nghi lễ ở đình làng, lên đồng và lễ hội, phản ánh một cơ sở văn hoá bản địa của người Việt Nam, cái đã tồn tại dai dẳng hàng ngàn năm trong cuộc sống tinh thần của người dân của tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Đức Lữ. Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nảy sinh hiện tượng “phú quý sinh lễ nghĩa,” số người hành hương lễ bái, cúng sao, cầu an, cầu duyên, bán khoán, gửi vong… càng gia tăng.
Việc đi lễ tại các cơ sở thờ tự, cúng sao giải hạn đầu năm mang lại cho con người niềm an ủi được giải thoát khỏi những tai ương, hoạn nạn trong năm.