Chương 1 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT 1. Khái quát chung về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nguồn gốc: Ở nước ta, từ bao đời nay suốt từ Bắc vào Nam, không một gia đình người Việt nào không đặt bàn thờ tổ tiên ở nơi trang trọng nhất trong nhà hoặc ở nhà từ đường thờ họ. Tuy vậy, một số dân tộc ít người cũng đã có tục thờ cúng tổ tiên nhưng còn lỏng lẻo và mờ nhạt chưa trở thành một thiết chế văn hóa như của người Việt.
* Nguồn gốc nhận thức: Trước hết, từ quan niệm người chết linh hồn vẫn tiếp tục sống ở nơi chín suối, thế giới bên kia, linh hồn người chết vẫn có “nhu cầu” như người sống vì thế mà người ta chôn theo người chết những đồ tùy táng, dần về sau người ta đốt vàng mã (ngày nay đốt tiền âm phủ và các thứ hình hài, đồ vật, nhà cửa…). Từ ý niệm trên đây cho ta thấy mối liên hệ giữa người sống và người chết được tiếp tục duy trì nhất là đối với ông bà, cha mẹ qua đời thì việc thờ cúng trở thành một tục lệ. Từ đó, mối quan hệ giữa những người sống và những người chết cùng chung huyết thống lại càng gắn bó hơn. Trong vòng hai, ba đời thì đó còn là những kỷ niệm rất cụ thể và sâu sắc.
Ông bà, cha mẹ dù qua đời nhưng vẫn luôn hiện diện trong tâm tưởng của con cháu, và con cháu luôn cảm thấy trách nhiệm cả về vật chất lẫn tinh thần đối với họ. Niềm tin vào cái chết thực chất là một cuộc trở về gặp tổ tiên, ông bà và tổ tiên sẽ dõi theo, phù hộ độ trì cho con cháu. Chính vì vậy nó đã là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. * Nguồn gốc về kinh tế - xã hội: Có thể nói rằng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng huyết thống thực sự ra đời và phát triển trong thời kỳ thị tộc phụ hệ.
Sự ra đời của thị tộc phụ hệ là kết quả của sự phân công lao động lần thứ hai giữa trồng trọt, chăn nuôi và thủ công. Trong chế độ phụ quyền, địa vị của người đàn ông được đặt lên hàng đầu, quyền thừa kế tài sản theo dòng họ cha và tiếp nối đến thế hệ sau đã củng cố vững chắc vị trí của Trang 4 người đàn ông trong xã hội. Điều này đúng như đánh giá của Trịnh Đình Bảy: “Những người này, bằng uy tín của mình đã củng cố và thiêng liêng hoá sự thờ cúng tổ tiên đã có manh nha trong thời kỳ thị tộc mẫu quyền” [2; tr 42]. Khi trình độ sản xuất phát triển, của cải xã hội làm ra ngày càng nhiều làm xuất hiện một tầng lớp tích luỹ được nhiều của cải và dẫn tới có quyền uy chi phối người khác và là mầm mống cho sự phân chia xã hội thành giai cấp.
Trong xã hội có gia cấp, vị trí của người đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội ngày càng được củng cố - cơ sở đích thực trong quá trình chuyển đổi từ việc thờ cúng tổ tiên tô - tem sang việc thờ cúng tổ tiên là con người thực cùng chung dòng máu. Nền kinh tế tiểu nông theo kiểu tự cung tự cấp đã tồn tại lâu dài trong xã hội Việt Nam cũng là một cơ sở cho sự hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Mỗi một gia đình là một cơ sở kinh tế độc lập, sản xuất và tiêu thụ. Các thành viên trong gia đình gắn bó chặt chẽ với nhau trong lao động sản xuất và trong đời sống lấy gia đình là trung tâm.
Nước ta là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển và diễn ra theo gia đình phụ quyền mà ta thấy phản ánh trong câu ca dao: “Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” Người nông dân an cư lạc nghiệp nhất là có nhà để gia đình cư trú, có ruộng để gia đình cày cấy. Dân ta vẫn lưu truyền câu nói: “Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển” đó không chỉ ở ý nghĩa thiêng liêng cha mẹ sinh thành dưỡng dục nên con cái, mà còn ở chỗ trong nền kinh tế nông nghiệp diễn trình theo gia đình phụ quyền, cha mẹ chưa lo xong cho người con trai ba việc lớn là nhà, ruộng đất và lấy vợ để chúng tự lập sinh sống gia đình phụ quyền tiếp theo, thì cha mẹ nhắm mắt chưa yên. Chính vì vậy mà dân gian lưu truyền câu ca: “Công Cha như núi Thái sơn Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ Mẹ kính Cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” Chính vì lý do về kinh tế và việc nối dõi tông đường mà người Việt đối với cha mẹ tôn kính khi sống và thờ cúng khi chết. Và cứ như thế, đời này qua đời khác cha mẹ đối với ông bà, con cái đối với cha mẹ kế tiếp nhau thành tục thờ cúng cha Trang 5 mẹ, ông bà cụ kị gọi chung là thờ cúng tổ tiên, hay cũng gọi là tiên tổ (tổ tông đời trước).
* Ngồn gốc về tôn giáo Nguồn gốc Tô - tem giáo: Tô-tem giáo là một tín ngưỡng của người nguyên thủy, hình thành trong bối cảnh xã hội còn hoang sơ. Vào thời kỳ này, loài người còn sơ khai, sự hiểu biết về thế giới khách quan chưa nhiều; con người chưa đủ tri thức để nhận biết sự khác biệt giữa mình với các loài động, thực vật khác trong thiên nhiên. Họ mưu sinh bằng những phương thức thô sơ như săn bắt thú rừng, nhặt hoặc hái quả trên cây để ăn. Sự non nớt trong nhận thức này đã đưa con người đến một khái niệm rất sai lầm về nguồn gốc của mình.
Người nguyên thủy nghĩ rằng mình có quan hệ huyết thống với một loài động, thực vật nào đó và họ xem chúng như tổ tiên của mình và thờ cúng động, thực vật ấy. Đây là hình thức thờ Vật tổ. Bắt nguồn từ nhận thức sai lầm trên, tôn giáo của xã hội thị tộc bộ lạc ra đời, đó là Tô - tem giáo. Mỗi thị tộc bộ lạc, tùy theo quan điểm riêng, thờ cúng một loại động, thực vật khác nhau.
Tuy rằng các đối tượng thờ cúng của mỗi thị tộc, bộ lạc đều khác biệt nhau, nhưng đều trong cùng một ý niệm thờ Vật tổ. Tô - tem giáo là hình thức điển hình cho tôn giáo nguyên thủy. Trong Tô - tem giáo, người ta tin rằng linh hồn người chết tồn tại trong một thế giới khác, vì thế người chết cũng cần dùng những vật dụng sinh hoạt như người sống. Do đó khi trong gia đình có người chết, những người sống phải thực hiện nghĩa vụ phân chia tài sản cho người chết.
Những đồ dùng cho sinh hoạt cá nhân của người chết và tài sản mang theo không chôn dưới đất mà được để cạnh mộ phần. Nguồn gốc Nho giáo: Dân tộc Việt hình thành trong một khu vực địa lý đặc biệt, nằm giữa miền Bắc Việt Nam và miền Nam Trung quốc. Do đó, người Việt từ xa xưa đã học chữ Trung Quốc, đọc sách Trung quốc và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo. Khổng Tử, một nhà hiền triết của Trung quốc, hệ thống hóa và phát huy học thuyết của Nho gia, lập ra những qui tắc để răn dạy người đời học biết cách sống phù hợp với luân thường đạo lý trong xã hội.
Triết lý về xử thế, giáo dục đạo đức con người được Khổng Tử xem như phần quan trọng nhất. Chữ “hiếu” trong đạo “nhân” của Trang 6 Khổng Tử được đặt làm nền móng cho Khổng giáo. Từ đó hình thành nên một tôn giáo gọi là Khổng giáo hay Nho giáo. Khổng Tử quan niệm: Đối với cha, mẹ và anh chị em, ta phải kính yêu, vì họ là những người gần gũi và thân thiết nhất của chúng ta.
Đối với tha nhân, chúng ta lấy lòng từ ái, khoan nhượng mà đối xử với nhau. Đạo làm người trong Khổng Giáo lấy việc hiếu thuận làm đầu và khởi sự với hai từ: “Yêu” và “kính”. Khởi đầu là kính yêu cha mẹ, kính nể huynh trưởng của mình. Một người được gọi là hiếu khi người ấy biết dưỡng nuôi song thân khi người cần đến.
Lúc cha mẹ còn sống, phải yêu và kính cha mẹ, không làm những việc gây tổn hại đến thanh danh của cha mẹ. Từ quan niệm hiếu trong Khổng giáo, người Việt tiếp nhận và thể hiện qua cái bàn thờ tổ tiên. Người Việt cô đơn, nhỏ bé trong vũ trụ bao la, khiếp sợ trước sức mạnh của thiên nhiên, nên tìm cầu một Đấng Thần linh để mong nhờ sự che chở bảo vệ. Nhưng vì tầm nhìn bị giới hạn trong thể xác vật lý, loài người lại còn đang trong giai đoạn sơ khai, trí óc chưa phát triển, mắt vật lý của loài người không thể nhìn thấy được những gì khác hơn ngoài khoảng không gian bao la vây phủ chung quanh mình.
Nhìn lên trên, chỉ thấy bầu trời cao vời vợi nhìn xuống chân, cũng chỉ thấy được mặt đất mênh mông. Lại chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, nên người Việt chọn cách gửi gắm tâm tư tình cảm và sự trông cậy của mình vào ông bà cha mẹ đã khuất và mong chờ ở họ sự phù hộ độ trì qua việc thờ cúng tổ tiên. Do ảnh hưởng của Khổng giáo, người Việt xem chữ “hiếu” như là một chuẩn mực đạo đức và là một nguyên tắc trong đạo lý làm người. Trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau, người Việt đã thể hiện việc hiếu đạo thành một tập tục gọi là thờ cúng tổ tiên.
Xã hội Việt Nam là một xã hội theo chế độ thị tộc phụ quyền, vai trò của người đàn ông chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong gia đình, điều này thể hiện rõ nét trong đại đa số các gia đình của người Việt. Mặc dù xã hội đã tiến bộ hơn trước rất nhiều, khẩu hiệu “nam nữ bình quyền” thường xuyên được nhắc đến. Nhưng trong thực tế tại Việt nam, trong gia đình, cũng như ngoài xã hội, người đàn ông vẫn chiếm giữ được nhiều ưu thế hơn người phụ nữ. Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn hiện hữu trong xã hội Việt Nam: đa số người Việt đều vẫn chuộng Trang 7 có con trai để nối dõi tông đường hơn là có con gái (vì quan điểm “nữ sinh ngoại tộc”).
Người con trai trưởng mang họ cha sẽ là người kế tục sự nghiệp của cha ông để lại, được thừa hưởng phần tài sản gọi là hương hỏa, kèm theo trách nhiệm duy trì và tiếp nối tập tục thờ cúng tổ tiên của dòng họ.