Tổng quan luận án
Công trình “Tái cân bằng ngân sách của chính phủ Mỹ: Thực trạng và những vấn đề đặt ra” được tác giả Lê Thị Vân Nga thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Cù Chí Lợi và GS.TS. Nguyễn Thiết Sơn. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế, mã số 62 31 01 06.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng thâm hụt ngân sách và nợ công gia tăng trên phạm vi toàn cầu sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Tại Mỹ, thâm hụt ngân sách chính phủ liên bang năm 2009 chạm ngưỡng xấp xỉ 10% GDP — mức thâm hụt chỉ từng xuất hiện trong ba giai đoạn đặc biệt của lịch sử nước Mỹ: cuộc Nội chiến (1865), Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918, 1919) và Chiến tranh thế giới thứ hai (1942–1945). Mặc dù các nỗ lực điều chỉnh tài khóa đã đưa mức thâm hụt giảm xuống còn 680 tỷ USD (tương đương 4,1% GDP) vào năm 2013, quy mô nợ công của Mỹ vẫn tiếp tục tăng cao. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới chỉ khai thác các khía cạnh đơn lẻ của chính sách tài khóa, chưa có công trình nào phân tích tổng thể và hệ thống về động lực tái cân bằng ngân sách của chính phủ Mỹ, đánh giá toàn diện kết quả các chính sách tài khóa dưới thời Tổng thống Barack Obama, đồng thời dự báo triển vọng dài hạn đến năm 2025 để rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là phân tích thực trạng quá trình tái cân bằng ngân sách của chính phủ Mỹ qua các thời kỳ, trọng tâm là giai đoạn Tổng thống Obama, xem xét các vấn đề đặt ra đối với kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, được đánh số như sau:
- Luận giải những vấn đề lý luận liên quan đến ngân sách của chính phủ và tái cân bằng ngân sách.
- Phân tích thực trạng ngân sách của Mỹ và rút ra những nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng ngân sách của chính phủ Mỹ từ sau khủng hoảng 2008 đến 2015.
- Phân tích và đánh giá các biện pháp chính sách tài khóa để chính phủ thực hiện mục tiêu cân bằng, tái cân bằng ngân sách trong một số giai đoạn lịch sử và dưới thời Tổng thống Obama.
- Đưa ra một số dự báo về triển vọng ngân sách Mỹ trong giai đoạn 2016–2025.
- Phân tích những vấn đề đặt ra từ xu hướng ngân sách của chính phủ Mỹ trong tương lai đối với nền kinh tế Mỹ và nền kinh tế thế giới, qua đó rút ra những hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm: ngân sách liên bang của chính phủ Mỹ, cân bằng ngân sách (mối quan hệ giữa thu và chi ngân sách) và các chính sách tái cân bằng ngân sách qua các thời kỳ, tập trung vào thời kỳ Tổng thống Obama sau khủng hoảng tài chính 2008.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính năm 2008 đến năm 2015. Luận án khảo sát thêm giai đoạn Tổng thống Bill Clinton (1993–2001) và Tổng thống George W. Bush (2002–2008) nhằm phục vụ so sánh lịch sử, đồng thời xây dựng dự báo triển vọng ngân sách đến năm 2025.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung vào cấp độ chính phủ liên bang Mỹ, có liên hệ so sánh với kinh nghiệm xử lý mất cân bằng ngân sách tại một số quốc gia Liên minh châu Âu (EU) và châu Á (Nhật Bản, Indonesia), hướng tới việc vận dụng cho chính phủ Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Bao hàm cơ sở lý luận về ngân sách và cân bằng ngân sách, thực trạng thâm hụt và các đạo luật tài khóa của Mỹ, dự báo triển vọng tài chính liên bang, các tác động lan tỏa kinh tế và hàm ý chính sách tài khóa cho Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo từng nhóm nội dung:
Về các yếu tố ảnh hưởng tới cân bằng ngân sách của chính phủ: Nouriel Roubini và Jeffrey D. Sachs (1989) phân tích các yếu tố quyết định thâm hụt ngân sách tại các nền dân chủ công nghiệp, chỉ ra sự suy thoái kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao sau năm 1973 và sự sụt giảm lãi suất thực tế sau năm 1979 là nguyên nhân đẩy nợ ròng tại Bỉ, Ireland, Italy vượt mức 100% GDP. M. Dothan, Mike Hand và Fred Thompson xây dựng mô hình kinh tế lượng về tăng trưởng chi tiêu công dựa trên tương tác cung - cầu hàng hóa dịch vụ công. Mika Tujula và Guido Wolswijk (2004) khảo sát 15 quốc gia châu Âu giai đoạn 1970–2002 theo Hiệp ước Maastricht, xác nhận cân đối tài khóa chịu sự chi phối của biến thiên tỷ lệ nợ/GDP, điều kiện vĩ mô, năm bầu cử và giá tài sản. Alan J. Auerbach (2008) đánh giá hiệu quả của các nguyên tắc tài khóa liên bang Mỹ trong việc kiềm chế thâm hụt.
Về thực trạng ngân sách và chính sách tài khóa qua các thời kỳ của Mỹ: Vũ Đăng Hinh (2002) phân tích các biện pháp kiềm chế chi tiêu và tăng thuế thông qua Đạo luật Tái lập Ngân sách tổng thể năm 1993 (OBRA93) dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Bùi Thị Mai Hoài (2007) hệ thống hóa kinh nghiệm chuyển từ bội chi sang thặng dư của Mỹ và các nước Đông Á. Veronique de Rugy (2009) cung cấp số liệu chi tiết chứng minh chính sách cắt giảm thuế và gia tăng chi tiêu dưới thời Tổng thống George W. Bush đã đẩy thâm hụt ngân sách liên bang từ 158 tỷ USD năm 2002 lên 459 tỷ USD năm 2008. Báo cáo của Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OMB, 2013) tổng hợp số liệu lịch sử về chu kỳ thâm hụt ngân sách và nợ công liên bang.
Về thực trạng và nguyên nhân mất cân bằng ngân sách thời Tổng thống Obama: Marc Labonte (2011) thuộc Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) dự báo chi tiêu an sinh xã hội sẽ tăng từ 4,8% GDP năm 2010 lên 6,1% GDP năm 2035 và chi tiêu y tế (Medicare, Medicaid) tăng từ 5,6% GDP lên 10,3% GDP năm 2035. Daniel L. Thornton (2012) lập luận rằng nợ công Mỹ vượt 100% GDP bắt nguồn từ quán tính mở rộng chi tiêu từ năm 1970 chứ không chỉ thuần túy do gói kích cầu hậu khủng hoảng 2008. Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ (2013) chỉ ra nhu cầu ngân sách quân sự 526 tỷ USD cho năm 2014 tạo ra áp lực tài khóa lớn. Về nguyên nhân, Jane G. Gravelle (2012), Blankenship (2012) và Trung tâm về Ngân sách và Các ưu tiên chính sách (CBPP) đều nhấn mạnh sự cộng hưởng của suy thoái kinh tế năm 2008, chi phí chiến tranh tại Iraq và Afghanistan, các gói cắt giảm thuế thời Bush và chi phí bùng nổ của các chương trình y tế.
Về chính sách tái cân bằng và triển vọng tài khóa: Alice M. Rivlin và Isabel Sawhill (2004) đề xuất các kịch bản kết hợp tăng thuế và cơ cấu lại chi tiêu. Báo cáo của Nhà Trắng (2011) đặt mục tiêu cắt giảm 4 nghìn tỷ USD thâm hụt trong vòng 12 năm. Báo cáo của OECD (2011) ghi nhận các sáng kiến đóng băng chi tiêu tùy nghi trong 3 năm và áp dụng quy tắc “mua tới đâu trả tới đó” (PAYGO). Đạo luật Cải cách Phố Wall và Bảo vệ Người tiêu dùng Dodd-Frank (2010) và nghiên cứu của Deutsche Bank Research (2010) đánh giá các quy chế kiểm soát tài chính. Nicholas C. Malokofsky (2012) phân tích mối quan hệ giữa nợ công và ngân sách quốc phòng. Tại Việt Nam, Cù Chí Lợi (2011), Nguyễn Mạnh Hùng (2011) và Lê Kim Sa (2013) đã phân tích khái quát các gói kích thích kinh tế và rào cản nợ công của Mỹ sau suy thoái. Về tác động kinh tế vĩ mô, Giancarlo Corsetti và Gernot J. Miller (2006), Erceg, Luca Guerrieri và Christopher Gust (2005), B. Douglas Bernheim (1988), Daniel Mitchell (2005), Warnock (2010) và The Heritage Foundation (2013) kiểm định giả thuyết thâm hụt kép và ảnh hưởng thoái lui đầu tư tư nhân khi nợ công vượt ngưỡng 90% GDP.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình quốc tế và trong nước đã đề cập nhiều khía cạnh của ngân sách Mỹ, hầu hết mới dừng lại ở từng lát cắt chính sách riêng lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập một hệ thống phân tích xuyên suốt từ cơ sở lý luận đến thực tiễn chu trình chuyển hóa từ cân bằng sang thâm hụt và tái cân bằng; bóc tách căn nguyên cấu trúc của thâm hụt ngân sách Mỹ dưới thời chính quyền Obama; tổng hợp và đánh giá kết quả thực thi các đạo luật tài khóa đến năm 2015; dự báo xu hướng ngân sách liên bang giai đoạn 2016–2025; từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm cụ thể đối với công tác điều hành ngân sách nhà nước tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận ngân sách chính phủ từ góc độ kinh tế học công cộng và tài chính quốc tế, kết hợp các định nghĩa của David Begg (1992), Giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ (Nguyễn Hữu Tài chủ biên), Luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam năm 2002 và Cẩm nang Thống kê Tài chính Chính phủ (GFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cùng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB).
Theo luận án, cân đối ngân sách chính phủ ($BB$) được xác định bằng công thức:
$$BB = Tx - G - Tr = (Tx - Tr) - G = T - G = tY - G$$
Trong đó: $Tx$ là tổng nguồn thu từ thuế; $Tr$ là chuyển giao thu nhập; $T$ là thuế ròng; $G$ là chi tiêu của chính phủ về hàng hóa và dịch vụ; $t$ là thuế suất; $Y$ là sản lượng nền kinh tế.
Luận án phân biệt rõ hai trạng thái cân đối:
- Cân đối ngân sách cơ bản (primary balance): Chênh lệch giữa thu và chi ngân sách trước khi thực hiện các khoản thanh toán lãi vay.
- Cân đối ngân sách cơ cấu (structural balance): Cân đối ngân sách đã được hiệu chỉnh nhằm loại trừ các biến động mang tính chu kỳ của GDP thực tế.
Mối quan hệ tích tụ nợ công qua thời gian được biểu diễn theo công thức:
$$D_t = (1 + r)D_{t-1} + G_t - T_t$$
Trong đó: $D_t$ là nợ công năm hiện tại; $D_{t-1}$ là nợ công năm trước; $r$ là lãi suất; $G_t - T_t$ là thâm hụt cơ cấu trong năm $t$.
Về phân loại chi tiêu, luận án sử dụng hệ thống phân loại của Kho bạc Mỹ gồm ba nhóm:
- Chi tiêu bắt buộc hay thường xuyên (mandatory spending): Chiếm khoảng 2/3 tổng chi ngân sách liên bang, gồm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe (Medicare, Medicaid) và các khoản trợ cấp luật định.
- Chi tiêu không thường xuyên hay tùy nghi (discretionary spending): Gồm chi tiêu quốc phòng và chi tiêu phi quốc phòng.
- Chi trả lãi vay ròng (net interest).
Bên cạnh đó, luật thuế liên bang Mỹ còn quy định các khoản giảm trừ thuế (tax expenditures), được xem như một hình thức chi ngân sách gián tiếp.
Dưới đây là cơ cấu thu và chi ngân sách chính phủ theo chuẩn mực GFS của ECB được luận án tổng hợp:
| Khoản mục thu ngân sách |
Khoản mục chi ngân sách |
1. Thuế trực thu - Thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế thu nhập cá nhân |
1. Chuyển giao vãng lai - Chi trả của xã hội (chi trả lương hưu, trợ cấp thất nghiệp) - Các khoản trợ cấp phải chi trả khác |
2. Thuế gián thu - Thuế doanh thu - Thuế tiêu thụ đặc biệt - Thuế giá trị gia tăng - Thuế xuất nhập khẩu - Thuế năng lượng |
2. Chi phí lãi vay |
3. Các khoản đóng góp xã hội - Đóng góp thực tế của doanh nghiệp - Đóng góp của người lao động |
3. Chi trả cho người lao động - Đóng góp xã hội của doanh nghiệp - Chi phí tiền lương |
4. Thu ngân sách khác - Lãi phải thu - Thu từ hoạt động kinh doanh |
4. Chi phí trung gian |
|
5. Chi đầu tư xây dựng cơ bản - Đầu tư hình thành tài sản - Chi phí tài sản phi tài chính khác |
Về mặt lý luận, luận án điểm luận các trường phái tư tưởng kinh tế:
- Trường phái Cổ điển (đại diện là Adam Smith): Yêu cầu ngân sách phải luôn cân bằng tuyệt đối giữa thu và chi hàng năm; xem thâm hụt là sự lãng phí nguồn lực và nhà nước chỉ nên giới hạn ở các chức năng quốc phòng, an ninh, tư pháp.
- Trường phái Keynes (đại diện là John Maynard Keynes): Khẳng định vai trò can thiệp của chính phủ; chấp nhận thâm hụt ngân sách và sử dụng chính sách tài khóa nghịch chu kỳ thông qua hiệu ứng số nhân để kích cầu trong thời kỳ suy thoái.
- Trường phái Trọng cung (Arthur Laffer, Jude Wanniski, Norman Ture, Paul Craig Roberts): Sử dụng đường cong Laffer để lập luận rằng việc giảm thuế suất sẽ khuyến khích đầu tư, tăng tổng cung và mở rộng cơ sở thu thuế trong dài hạn.
- Trường phái Kinh tế học hiện đại (Paul Samuelson): Khởi xướng mô hình kinh tế hỗn hợp, xem cân bằng ngân sách là cân bằng động theo chu kỳ kinh tế, cho phép thâm hụt trong suy thoái và thặng dư trong hưng thịnh để bù trừ lẫn nhau.
- Thuyết tương đương Ricardo (Ricardian Equivalence): Cho rằng việc tài trợ chi tiêu bằng nợ tương đương với việc tăng thuế trong tương lai. Tuy nhiên, luận án dẫn chứng thực tế nước Mỹ giai đoạn 1981–1985 đã phủ nhận lý thuyết này: sau khi chính phủ ban hành luật giảm thuế suất trong 3 năm (1982–1984), tỷ lệ tiết kiệm của các hộ gia đình Mỹ không tăng lên để chuẩn bị nộp thuế trong tương lai mà sụt giảm từ 7,5% (năm 1981) xuống mức bình quân 5,9% (giai đoạn 1982–1985).
Về ngưỡng an toàn tài khóa quốc tế, luận án đối chiếu quy định của Hiệp ước Maastricht tại EU (ngưỡng trần thâm hụt ngân sách là 3% GDP và nợ công là 60% GDP), quy định kiểm soát tài khóa tương tự của Indonesia (từ năm 1967 khống chế thâm hụt dưới 3% GDP và từ năm 2004 giới hạn nợ công dưới 60% GDP), cùng thông lệ quốc tế khuyến nghị tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP không nên vượt quá 5%.
Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê thứ cấp. Tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích chính sách tài khóa trong sự vận động kinh tế - chính trị. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các báo cáo tài chính vĩ mô và chỉ tiêu kinh tế.
- Phương pháp kế thừa dữ liệu thứ cấp: Khai thác số liệu thống kê chính thức từ CBO, OMB, Bộ Tài chính Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang, Bộ Tài chính Việt Nam, IMF, WB và ECB.
- Phương pháp so sánh: So sánh chuỗi thời gian giữa các giai đoạn cầm quyền của Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama; so sánh không gian giữa chính sách của Mỹ với các nước EU, Nhật Bản và Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): Phân tích các mô hình xử lý khủng hoảng ngân sách tại một số quốc gia EU và Nhật Bản để rút ra kinh nghiệm đối chiếu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn mảng chủ đề: các nhân tố tác động tới cán cân ngân sách; thực trạng và chính sách tài khóa qua các thời kỳ lịch sử của Mỹ; các phân tích về thâm hụt ngân sách dưới thời chính quyền Obama; các dự báo tài khóa cùng ảnh hưởng của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế. Tác giả đánh giá rằng các nghiên cứu trước đây đã làm rõ từng khía cạnh kỹ thuật riêng rẽ nhưng chưa có công trình nào đánh giá một cách tổng thể chu trình tái cân bằng ngân sách của chính phủ Mỹ từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đến năm 2015, cũng như chưa kết nối việc dự báo xu hướng tài khóa Mỹ giai đoạn 2016–2025 với bài toán điều hành ngân sách tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận và một số vấn đề thực tiễn về tái cân bằng ngân sách của chính phủ
Nội dung chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về ngân sách nhà nước, cân bằng ngân sách, thâm hụt cơ bản, thâm hụt cơ cấu và tái cân bằng ngân sách. Luận án phân tích sự phát triển tư tưởng tài khóa qua các trường phái: Cổ điển (cân bằng tuyệt đối), Keynes (kích cầu qua thâm hụt), Trọng cung (giảm thuế theo đường cong Laffer), và Hiện đại (cân bằng động theo chu kỳ). Luận án cũng phân tích ba kênh bù đắp thâm hụt theo Robert Gordon và David Begg: thu thuế, phát hành trái phiếu nợ và phát hành tiền. Về mặt thực tiễn, chương khảo sát kinh nghiệm áp đặt kỷ luật tài khóa của EU thông qua Hiệp ước Maastricht (trần 3% GDP cho thâm hụt và 60% GDP cho nợ công) cùng thực trạng thâm hụt ngân sách kéo dài của Nhật Bản giai đoạn 1990–2015, làm cơ sở thực tiễn để so sánh với chính sách của Mỹ.
Chương 3: Thực trạng tái cân bằng ngân sách của chính phủ Mỹ
Chương 3 là trọng tâm thực chứng của luận án. Tác giả chia quá trình phân tích thành hai giai đoạn lịch sử:
- Giai đoạn tiền Obama: Phân tích thời kỳ Tổng thống Bill Clinton (1993–2001) với chính sách tài khóa thắt chặt thông qua Đạo luật Tái lập Ngân sách tổng thể 1993 (OBRA93), kết hợp tăng thuế và kiềm chế chi tiêu giúp ngân sách Mỹ đạt thặng dư trong những năm cuối thập niên 1990. Ngược lại, dưới thời Tổng thống George W. Bush (2002–2008), các đợt cắt giảm thuế quy mô lớn cùng sự gia tăng chi phí cho các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan đã đảo ngược trạng thái thặng dư thành thâm hụt, đưa mức thiếu hụt từ 158 tỷ USD năm 2002 lên 459 tỷ USD năm 2008.
- Giai đoạn dưới thời Tổng thống Barack Obama (2008–2015): Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, chính phủ Mỹ triển khai Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư (ARRA) và Chương trình Giải cứu Tài sản xấu (TARP), khiến thâm hụt ngân sách năm 2009 tăng vọt lên mức kỷ lục xấp xỉ 10% GDP (khoảng 1.400 tỷ USD). Nhằm tái cân bằng ngân sách, chính quyền Obama đã áp dụng Đạo luật Kiểm soát Ngân sách năm 2011 (BCA) với cơ chế tự động cắt giảm chi tiêu (sequester), đóng băng chi tiêu tùy nghi trong 3 năm, khôi phục nguyên tắc PAYGO và nâng thuế đối với các nhóm có thu nhập cao. Nhờ các nỗ lực này, thâm hụt ngân sách giảm dần xuống còn 680 tỷ USD (4,1% GDP) vào năm 2013 và tiếp tục giảm trong các năm 2014–2015. Tuy nhiên, quy mô nợ công của Mỹ vẫn tăng vượt mức 100% GDP do chi phí bắt buộc cho hệ thống an sinh xã hội, y tế và chi phí trả lãi nợ công tiếp tục tích tụ.
Chương 4: Triển vọng ngân sách chính phủ Mỹ và những vấn đề đặt ra
Chương 4 tập trung vào các dự báo tài khóa và phân tích tác động chính sách:
- Triển vọng tài khóa Mỹ giai đoạn 2016–2025: Dựa trên các báo cáo của CBO và OMB, luận án chỉ ra rằng mức thâm hụt ước tính giảm xuống 426 tỷ USD năm 2015 và 414 tỷ USD năm 2016. Tuy nhiên, xu hướng giảm này chỉ mang tính ngắn hạn. Trong thập kỷ 2016–2025, dưới áp lực của thế hệ bùng nổ dân số (baby boom) bước vào độ tuổi nghỉ hưu, chi tiêu bắt buộc cho an sinh xã hội và chăm sóc y tế (Medicare, Medicaid) sẽ tăng mạnh, cùng với chi phí trả lãi nợ liên bang tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu, dự báo đẩy mức thâm hụt hàng năm quay trở lại mốc 1.000 tỷ USD vào năm 2025.
- Những vấn đề đặt ra: Luận án phân tích các hệ lụy đối với kinh tế Mỹ và thế giới: nguy cơ thoái lui đầu tư tư nhân do lãi suất chịu áp lực tăng; nguy cơ bất ổn tài chính toàn cầu bắt nguồn từ thị trường trái phiếu kho bạc Mỹ; và những mâu thuẫn trong việc phân bổ nguồn lực quốc gia khi ngân sách quốc phòng năm 2014 cần 526 tỷ USD nhưng bị giới hạn bởi trần ngân sách.
- Hàm ý chính sách cho Việt Nam: Phân tích số liệu quyết toán ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2008–2014, chỉ ra những áp lực bội chi và gia tăng nợ công tương đồng. Tác giả đề xuất các giải pháp: tăng cường kỷ luật tài khóa và xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn; tái cơ cấu chi tiêu ngân sách thông qua việc triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; mở rộng cơ sở thu thuế bền vững; và kiểm soát chặt chẽ trần nợ công cùng nghĩa vụ nợ dự phòng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các quan điểm kinh tế học về ngân sách và tái cân bằng ngân sách, làm rõ bản chất của tái cân bằng ngân sách không đơn thuần là việc cân đối số học giữa tổng thu và tổng chi trong một năm tài chính, mà là quá trình điều chỉnh mối quan hệ tương tác thu - chi nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội vĩ mô dài hạn.
- Cung cấp luận cứ kiểm định các lý thuyết kinh tế trong thực tiễn điều hành tài khóa tại Mỹ, đặc biệt là việc chỉ ra những điểm chưa phù hợp của Thuyết tương đương Ricardo thông qua diễn biến suy giảm tiết kiệm của các hộ gia đình Mỹ giai đoạn 1981–1985 sau các đợt cắt giảm thuế.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích có hệ thống thực trạng quá trình dịch chuyển ngân sách của chính phủ Mỹ từ thặng dư thời Tổng thống Bill Clinton sang thâm hụt sâu thời Tổng thống George W. Bush, và tiến trình tái cân bằng ngân sách dưới thời Tổng thống Barack Obama.
- Bóc tách các nguyên nhân căn bản dẫn đến mất cân bằng ngân sách kéo dài của Mỹ sau khủng hoảng 2008, chỉ rõ rằng sự sụt giảm thâm hụt về mức 680 tỷ USD năm 2013 chủ yếu nhờ các biện pháp cắt giảm chi tiêu tùy nghi ngắn hạn, trong khi áp lực chi tiêu bắt buộc (y tế, an sinh xã hội) và nợ công liên bang vẫn chưa được giải quyết triệt để.
- Tổng hợp các dự báo của CBO giai đoạn 2016–2025, cảnh báo nguy cơ thâm hụt ngân sách Mỹ vượt mốc 1.000 tỷ USD vào năm 2025 do yếu tố già hóa dân số và chi phí trả lãi nợ vay.
- Đề xuất bốn nhóm khuyến nghị chính sách tài khóa cho Việt Nam dựa trên phân tích số liệu quyết toán ngân sách 2008–2014: nâng cao kỷ luật tài khóa thông qua khuôn khổ ngân sách trung hạn; cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên; cải cách hệ thống thuế để nuôi dưỡng nguồn thu bền vững; và thiết lập cơ chế giám sát an toàn nợ công chặt chẽ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Nguồn số liệu thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng các chính sách tài khóa thời Tổng thống Obama chủ yếu dừng lại ở các báo cáo tài khóa được công bố đến năm 2014 và ước tính năm 2015.
- Các phân tích và dự báo cho giai đoạn 2016–2025 phụ thuộc chủ yếu vào kịch bản cơ sở của CBO và OMB, vốn dựa trên giả định khung pháp lý và các quy định luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu không có sự thay đổi lớn.
- Do tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính và so sánh lịch sử, luận án không xây dựng mô hình kinh tế lượng riêng để lượng hóa mức độ tác động trực tiếp của thâm hụt ngân sách Mỹ tới các chỉ tiêu vĩ mô cụ thể của Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục cập nhật và kiểm chứng số liệu thực tế về ngân sách và nợ công của chính phủ Mỹ sau khi kết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống Obama (từ năm 2016 trở đi).
- Đánh giá sự biến động của chính sách tài khóa Mỹ dưới các chính quyền kế nhiệm khi các đạo luật về thuế và trần nợ công được điều chỉnh.
- Ứng dụng các mô hình định lượng để đo lường định ngạch tác động lan tỏa từ sự thay đổi chính sách tài khóa và lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đối với tỷ giá, dòng vốn đầu tư và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội): Cung cấp kinh nghiệm thực tiễn về cơ chế kiểm soát chi tiêu tùy nghi, quy tắc tài khóa PAYGO, Đạo luật Kiểm soát Ngân sách (BCA) và bài học về xử lý áp lực chi tiêu an sinh xã hội trong bối cảnh dân số già hóa.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính công: Cung cấp tài liệu tham khảo có hệ thống về cơ chế vận hành ngân sách liên bang Mỹ, phương pháp phân loại thu chi theo chuẩn mực GFS/ECB và các khung lý thuyết tài khóa từ Cổ điển, Keynes đến Trọng cung.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Chương 3 (phân tích chi tiết các số liệu thu, chi, thâm hụt và nợ công của Mỹ giai đoạn 2008–2014) và Chương 4 (các dự báo định lượng của CBO đến năm 2025 cùng mục hàm ý chính sách tài khóa đối với Việt Nam).
Câu hỏi thường gặp
1. Thâm hụt ngân sách chính phủ Mỹ năm 2009 đạt tỷ lệ bao nhiêu phần trăm GDP và mức này từng xuất hiện vào các thời điểm nào trong lịch sử?
Năm 2009, thâm hụt ngân sách của chính phủ Mỹ đã chạm xấp xỉ mức 10% GDP. Trong lịch sử nước Mỹ trước đó, tỷ lệ thâm hụt ngân sách chạm mốc 10% GDP chỉ từng xảy ra trong ba giai đoạn: cuộc Nội chiến (1865), Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918, 1919) và Chiến tranh thế giới thứ hai (1942–1945).
2. Theo dự báo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), chi tiêu cho an sinh xã hội và chăm sóc y tế liên bang sẽ thay đổi như thế nào từ năm 2010 đến năm 2035?
Theo số liệu của CBO được trích dẫn trong bài viết của Marc Labonte (2011), chi tiêu cho các chương trình an sinh xã hội của Mỹ được dự báo sẽ tăng từ 4,8% GDP năm 2010 lên 6,1% GDP năm 2035. Đồng thời, chi tiêu cho y tế của chính phủ liên bang (chủ yếu là Medicare và Medicaid) được dự báo tăng từ 5,6% GDP năm 2010 lên mức 10,3% GDP vào năm 2035.
3. Đạo luật Tái lập Ngân sách tổng thể 1993 (OBRA93) dưới thời Tổng thống Bill Clinton đã thực hiện những biện pháp gì để tái cân bằng ngân sách?
Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, Đạo luật OBRA93 đã triển khai chương trình cắt giảm thâm hụt ngân sách kết hợp đồng thời hai biện pháp: tăng nguồn thu từ thuế và cắt giảm các khoản chi tiêu công. Chính sách kiềm chế chi tiêu được đặt làm ưu tiên hàng đầu trong điều tiết vĩ mô, từ đó giúp ngân sách liên bang Mỹ chuyển dịch từ trạng thái thâm hụt sang thặng dư vào những năm cuối thập niên 1990.
4. Xu hướng thâm hụt ngân sách của chính phủ Mỹ trong giai đoạn 2014–2025 được CBO dự báo ra sao?
Báo cáo của CBO dự báo thâm hụt ngân sách của Mỹ ước tính giảm từ mức của năm 2014 xuống còn 426 tỷ USD năm 2015 và tiếp tục giảm xuống 414 tỷ USD vào năm 2016. Tuy nhiên, sau năm 2016, thâm hụt sẽ có xu hướng tăng dần trở lại và ước tính đạt mức 1.000 tỷ USD vào năm 2025 do tốc độ tăng chi tiêu cho y tế, hưu trí và chi phí trả lãi nợ vay vượt quá tốc độ tăng thu ngân sách.
5. Thực tế kinh tế Mỹ giai đoạn 1981–1985 đã kiểm chứng Thuyết tương đương Ricardo như thế nào?
Sau khi Quốc hội và Tổng thống Mỹ ban hành luật giảm thuế suất thực hiện trong 3 năm (1982–1984), theo Thuyết tương đương Ricardo, người dân phải giữ ổn định tiêu dùng và tăng tỷ lệ tiết kiệm để bù đắp nghĩa vụ thuế gia tăng trong tương lai do nợ chính phủ tích tụ. Tuy nhiên, số liệu thực tế tại Mỹ cho thấy tỷ lệ tiết kiệm của các cá nhân và hộ gia đình đã sụt giảm từ mức 7,5% năm 1981 xuống còn trung bình 5,9% trong giai đoạn 1982–1985, đi ngược lại với dự đoán của thuyết này.
Kết luận
Luận án của tác giả Lê Thị Vân Nga đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước và phân tích toàn diện tiến trình tái cân bằng ngân sách của chính phủ liên bang Mỹ giai đoạn 2008–2015 dưới thời Tổng thống Barack Obama. Công trình làm rõ nguyên nhân căn bản dẫn tới mất cân bằng ngân sách Mỹ bắt nguồn từ sự gia tăng của các khoản chi tiêu bắt buộc (y tế, an sinh xã hội) và chi phí trả lãi nợ công, đồng thời dự báo áp lực thâm hụt sẽ tái diễn trong giai đoạn 2016–2025. Thông qua việc phân tích thực trạng ngân sách Mỹ và bài học quốc tế, luận án đã đề xuất các nhóm khuyến nghị thiết thực về quản trị tài khóa trung hạn, tái cơ cấu chi tiêu công và kiểm soát nợ công cho Việt Nam.