Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế "Phát triển kinh tế thị trường tại nước Cộng hoà Hồi giáo Iran từ năm 1989 đến 2019" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Anh Đức, thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9 31 01 06) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2022), dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Thị Thanh Bình và PGS. TS Trần Thị Lan Hương.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo tác giả luận án, các học thuyết kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã lý giải tương đối cụ thể về sự vận động của các nền kinh tế nhưng chưa giải thích thỏa đáng sự khác biệt về thành tựu kinh tế giữa các quốc gia. Trong khi đó, các nền kinh tế đang chuyển đổi ngày càng chú trọng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, dân chủ và bảo vệ môi trường, cũng như cơ chế kết hợp giữa sự điều tiết của nhà nước và thị trường tự do.
Đối với Việt Nam, quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế từ các mô hình đặc thù. Cộng hòa Hồi giáo Iran là một đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam tại khu vực Trung Đông, đồng thời là một quốc gia có thể chế chính trị - tôn giáo đặc thù (nền chính trị thần quyền) đang thực hiện cải cách kinh tế theo hướng thị trường sau giai đoạn chiến tranh tàn phá. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là:
- Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về kinh tế Iran chủ yếu mang tính khái quát, tổng quan hoặc chỉ tập trung vào một lĩnh vực, thời kỳ hẹp; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran giai đoạn 1989–2019 kết hợp lăng kính kinh tế, chính trị và thể chế.
- Chưa có công trình so sánh đối chiếu quá trình phát triển kinh tế thị trường giữa Iran và Việt Nam nhằm rút ra các hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích tổng quát của đề tài là cung cấp luận cứ khoa học nhằm lý giải và đánh giá tình hình phát triển kinh tế thị trường tại Iran, phân tích thành công, hạn chế và nguyên nhân; từ đó rút ra hàm ý cho Việt Nam.
Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Làm rõ cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn về thể chế kinh tế và phát triển kinh tế thị trường.
- Phân tích và đánh giá tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran.
- So sánh điểm tương đồng và khác biệt trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam và Iran, từ đó đưa ra một số hàm ý cho Việt Nam.
Ba câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra:
- Iran đi theo mô hình phát triển kinh tế thị trường nào?
- Tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran diễn ra thế nào?
- Điểm tương đồng và khác biệt trong phát triển kinh tế thị trường ở Iran và Việt Nam là gì? Việt Nam có thể rút ra hàm ý gì từ trường hợp của Iran?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran qua các thời kỳ, những biến đổi trong chính sách phát triển và các nội dung phát triển kinh tế thị trường tại Iran.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1989 (thời điểm Iran bắt đầu cải cách, chuyển đổi kinh tế theo hướng thị trường sau chiến tranh Iran - Iraq) đến năm 2019 (thời điểm kết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống Hassan Rouhani).
- Phạm vi không gian: Nước Cộng hòa Hồi giáo Iran và Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba trụ cột cải cách chính gồm tự do hóa kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành bốn nhóm chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
[Nhóm 1: Lý thuyết [Nhóm 2: Kinh nghiệm [Nhóm 3: Kinh tế [Nhóm 4: Kinh tế
thể chế & KTTT] chuyển đổi quốc tế] thị trường Iran] thị trường VN]
- Đinh Văn Ân & - Marie Lavigne (2002) - Trần Văn Tùng - Đỗ Thế Tùng
Võ Trí Thành - John Williamson (1997) (2011) (2020)
(2002) - Lê Hữu Tầng & Lưu - VCCI (2018) - Trần Thị Tuyết
- Đỗ Đức Định Nhạc Đàm (2002) - Trần Anh Đức Lan (2019)
(2004) - Kolodko (2006) (2019, 2021) - Trần Tiến Cường
- Võ Trí Thành - Nguyễn Kim Bảo (2004) - Thierry Coville (2015)
(2014) - Nguyễn Đình Hương (2005) (2020)
- J. Williamson - Bùi Thị Hoa (2007) - Mahdi Ghodsi (2018)
(1990) - Phạm Đức Chính (2007) - Jbili & cs (2003)
- Sachs & Warner - Nader Habibi (2015)
(1995) - Sedighikamal (2014)
- Acemoglu & - Mohammad Alipour
Robinson (2012) (2013)
1. Nhóm nghiên cứu về lý thuyết thể chế và phát triển kinh tế thị trường
- Đinh Văn Ân và Võ Trí Thành (2002) hệ thống hóa lý luận về cải cách thể chế và vai trò thể chế đối với kinh tế thị trường.
- Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (2003) phân tích quan điểm, quy trình cải cách kinh tế theo đặc thù từng quốc gia.
- Đỗ Đức Định (2004) khẳng định tính cần thiết của cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển giai đoạn 1940 đến đầu thập niên 2000.
- Võ Trí Thành (2014) chỉ ra ba nhóm cải cách cốt lõi trong chuyển đổi kinh tế: tự do hóa và ổn định kinh tế vĩ mô; tạo dựng thể chế hỗ trợ giao dịch thị trường và bảo hộ quyền sở hữu; thiết lập lưới an sinh xã hội.
- John Williamson (1990) công bố Chương trình cải cách 10 điểm (Đồng thuận Washington) được WB, IMF và Bộ Tài chính Mỹ áp dụng.
- Jeffrey D. Sachs và Andrew Warner (1995) phân tích mối liên hệ mật thiết giữa cải cách kinh tế, phát triển thị trường và hội nhập toàn cầu.
- Daron Acemoglu và James Robinson (2012, tác phẩm Why Nations Fail) giải thích sự thịnh vượng và suy tàn qua khái niệm "thể chế bao hàm" (bảo vệ quyền sở hữu, tạo sân chơi bình đẳng, khuyến khích đầu tư) và "thể chế tước đoạt" (dồn quyền lực và nguồn lực vào tay một nhóm nhỏ).
2. Nhóm nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trường tại một số quốc gia
- Marie Lavigne (2002) và John Williamson (1997) phân tích chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường tại Đông Âu, Liên Xô cũ và Mỹ Latinh.
- Kolodko (2006) khẳng định chuyển đổi kinh tế không chỉ là tự do hóa hay tư nhân hóa mà cốt lõi là xây dựng thể chế và cơ cấu pháp luật.
- Lê Hữu Tầng và Lưu Nhạc Đàm (2002), Nguyễn Kim Bảo (2004), Bùi Thị Hoa (2007), Phạm Đức Chính (2007), Nguyễn Đình Hương (2005) phân tích thực tiễn và mô hình chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc, Liên bang Nga và Việt Nam.
3. Nhóm nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trường tại Iran
- Trần Văn Tùng (2011) chỉ ra cơ cấu phụ thuộc quá mức vào dầu khí và thể chế chính trị thần quyền là rào cản lớn đối với kinh tế thị trường Iran.
- Trần Anh Đức (2019, 2021) phân tích lộ trình 9 mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại Iran và thực trạng khu vực tư nhân bị chèn ép bởi các thực thể kinh tế thân chính quyền, doanh nghiệp thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) và các quỹ tôn giáo (Bonyads).
- Thierry Coville (2020) nghiên cứu vai trò của doanh nghiệp gia đình và đóng góp của khu vực tư nhân trong việc tạo việc làm và thúc đẩy quyền lợi cho lao động nữ tại Iran.
- Bijan Khajehpour (2020) và Shayerah Ilias (2002) phân tích rào cản tư tưởng của tầng lớp giáo sĩ đối với khu vực tư nhân.
- Mahdi Ghodsi (2018) chỉ ra độ mở thương mại của Iran thấp (khoảng 40% GDP) do các lệnh trừng phạt quốc tế, dù GDP năm 2017 từng tăng 12,5% khi được nới lỏng trừng phạt theo thỏa thuận JCPOA.
- Abdelali Jbili, Vitali Kramarenko và José Bailén (2003 - công trình do IMF tài trợ) phân tích sự cứng nhắc của khu vực tài chính và hệ thống đa tỷ giá tại Iran.
- Sedighikamal (2014) và Mohammad Alipour (2013) sử dụng mô hình hồi quy và kiểm định Wilcoxon trên 35 DNNN niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tehran, chứng minh việc chuyển đổi sở hữu chưa làm tăng hiệu quả và lợi nhuận doanh nghiệp do thiếu các cải cách thể chế đồng bộ.
- Nhóm nghiên cứu của ba tổ chức quản trị doanh nghiệp tại Iran, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ phân tích chương trình cổ phần hóa hàng loạt (Justice Share Program) tại Iran; so sánh thấy Thổ Nhĩ Kỳ cải cách thành công hơn nhờ thể chế chính trị thế tục cởi mở.
- Nader Habibi (2015) phân tích chính sách cắt giảm trợ cấp năng lượng dưới thời Tổng thống Ahmadinejad và sự bành trướng kinh tế của IRGC.
- Anne Hagood (2015) so sánh nỗ lực cải cách kinh tế phi dầu mỏ giữa Saudi Arabia và Iran.
4. Nhóm nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam
- Đỗ Thế Tùng (2020) làm rõ bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hỗn hợp có sự quản lý của nhà nước.
- Trần Thị Tuyết Lan (2019) đánh giá thành tựu và thách thức về thể chế, chất lượng tăng trưởng sau hơn 30 năm đổi mới ở Việt Nam.
- Trần Tiến Cường (2015) tổng kết quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa DNNN tại Việt Nam (giảm từ hơn 12.000 DNNN đầu thập niên 1990 xuống còn 909 doanh nghiệp vào năm 2013).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Luận án kế thừa các khung lý thuyết thể chế và phát triển kinh tế thị trường để xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại Iran suốt 30 năm (1989–2019), đặt trong sự tương tác giữa kinh tế và chính trị thần quyền; đồng thời thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa Iran và Việt Nam để đề xuất các bài học thực tiễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm thị trường và cơ chế thị trường: Luận án tiếp cận khái niệm thị trường từ góc nhìn kinh tế học của Cournot (thị trường là bất cứ nơi nào người mua và người bán tự do giao dịch, giá cả hình thành qua cạnh tranh) và các quy luật kinh tế thị trường cơ bản (quy luật giá trị, quy luật giá trị thặng dư theo quan điểm của Karl Marx, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh).
- Khái niệm thể chế và thể chế kinh tế thị trường: Luận án kết hợp định nghĩa của Douglass C. North và Ngân hàng Thế giới (WB), xác định thể chế gồm ba bộ phận vận hành đồng bộ: bộ quy tắc (luật pháp, chuẩn mực, đạo đức xã hội); tổ chức tham gia (cơ quan quản lý, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức xã hội); và cơ chế thực thi (chính sách, chế tài).
- Kinh tế học thể chế mới: Sử dụng các luận điểm về chi phí giao dịch, cơ chế thực thi, tính phi đơn nhất của thể chế (mỗi quốc gia cần khung thể chế phù hợp với đặc thù chính trị - xã hội), và sự đồng biến giữa cải cách thể chế kinh tế với cải cách thể chế chính trị.
- Phân loại mô hình kinh tế thị trường: Mô hình kinh tế thị trường tự do (Anh, Mỹ, Úc); mô hình kinh tế thị trường xã hội (Đức - với các đại diện W. Müller-Armack, L. Erhard, các nước Bắc Âu); mô hình kinh tế thị trường nhà nước chi phối.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu định tính, kết hợp liên ngành kinh tế học và chính trị học:
- Phương pháp tư duy: Kết hợp diễn dịch (phân tích thực trạng chính sách, đánh giá thành công, hạn chế) và quy nạp (tổng quát hóa từ các trường hợp thực tiễn để củng cố lý luận).
- Phương pháp tiếp cận:
- Tiếp cận lịch sử và logic (xâu chuỗi các giai đoạn chuyển đổi qua các đời tổng thống Iran).
- Tiếp cận so sánh (so sánh trước và sau cải cách tại Iran; so sánh mô hình phát triển và cổ phần hóa giữa Iran với Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và Việt Nam).
- Tiếp cận phân tích và tổng hợp dữ liệu.
- Quy trình xử lý dữ liệu: Tiến hành qua 3 bước: Thu thập dữ liệu $\rightarrow$ Kiểm tra, đối chiếu tính xác thực $\rightarrow$ Phân tích, tổng hợp thông tin định tính và lượng hóa thứ cấp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu sử dụng hoàn toàn là nguồn dữ liệu thứ cấp có độ tin cậy cao:
- Dữ liệu quốc tế: Báo cáo, niên giám thống kê của WB, IMF, WTO, ITU, Liên Hợp Quốc, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Tổ chức Bertelsmann Stiftung (BTI).
- Dữ liệu từ Iran: Cục Thống kê Iran, Sở Giao dịch Chứng khoán Tehran, các báo cáo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản trị Doanh nghiệp Tehran.
- Dữ liệu tại Việt Nam: Văn kiện Đảng và Nhà nước, báo cáo của Bộ Công Thương (Vụ Thị trường Châu Á - Châu Phi), Bộ Ngoại giao (Vụ Tây Á - Châu Phi), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương trong văn bản luận án |
Trọng tâm nội dung và dữ kiện phân tích |
| Chương 1 |
Tổng quan nghiên cứu |
Tổng thuật 4 nhóm tài liệu (lý thuyết thể chế, kinh nghiệm quốc tế, kinh tế Iran, kinh tế Việt Nam); xác định khoảng trống nghiên cứu về mô hình phát triển kinh tế thị trường tại Iran và so sánh Iran - Việt Nam. |
| Chương 2 |
Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thị trường |
Làm rõ khái niệm thể chế, quy luật kinh tế, cấu trúc 5 thị trường, 5 nguồn lực; phân tích 3 mô hình kinh tế thị trường; đúc kết kinh nghiệm từ Hong Kong, Hàn Quốc, Đức. |
| Chương 3 |
Phát triển kinh tế thị trường tại Iran giai đoạn 1989-2019 |
Phân tích thực trạng 3 trụ cột (tự do hóa kinh tế, cổ phần hóa DNNN, phát triển kinh tế tư nhân) qua các đời tổng thống Iran; đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân từ thể chế thần quyền và trừng phạt quốc tế. |
| Chương 4 |
Một số hàm ý cho Việt Nam |
Khái quát chuyển đổi kinh tế Việt Nam (1986-2019); so sánh tương đồng và khác biệt giữa Iran và Việt Nam; đề xuất các hàm ý chính sách cho Việt Nam. |
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương này đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến bốn nhóm vấn đề: lý thuyết thể chế và phát triển kinh tế thị trường, kinh nghiệm phát triển của các nền kinh tế chuyển đổi (Nga, Trung Quốc, Đông Âu), thực trạng kinh tế Iran và thực tiễn phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng đa số nghiên cứu về Iran ở nước ngoài chỉ tập trung vào một chính sách riêng lẻ (như trừng phạt thương mại hoặc cổ phần hóa đơn thuần), trong khi tại Việt Nam còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống về mô hình kinh tế thị trường dưới thể chế thần quyền của Iran giai đoạn 1989–2019.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thị trường
Tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận cốt lõi:
- Hệ thống 5 loại thị trường cấu thành: Thị trường hàng hóa và dịch vụ; thị trường lao động; thị trường bất động sản; thị trường tài chính; thị trường khoa học và công nghệ. Trong đó, thị trường tài chính giữ vai trò huyết mạch phân bổ nguồn vốn.
- 5 nhóm nguồn lực phát triển: Nguồn lực con người; nguồn lực đất đai và tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực vốn tài chính (trong nước và ngoài nước); nguồn lực khoa học và công nghệ; nguồn lực phi vật thể (giá trị văn hóa).
- Các mô hình kinh tế thị trường điển hình: Mô hình tự do, mô hình xã hội và mô hình nhà nước chi phối. Luận án dẫn chứng trường hợp Hàn Quốc và Triều Tiên năm 2000 (thu nhập bình quân đầu người Hàn Quốc đạt 16.000 USD, gấp 16 lần mức 1.000 USD của Triều Tiên) để minh chứng vai trò quyết định của việc lựa chọn thể chế kinh tế.
- Kinh nghiệm quốc tế: Điểm lại quá trình phát triển kinh tế thị trường tại Hong Kong, Hàn Quốc và Đức.
Chương 3: Phát triển kinh tế thị trường tại Iran giai đoạn 1989-2019
Đây là chương trọng tâm của luận án, phân tích bối cảnh chuyển đổi của Iran sau năm 1989 (kết thúc chiến tranh Iran - Iraq và sự suy thoái của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung thời kỳ 1979–1988) qua ba trụ cột nội dung:
NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI IRAN (1989-2019)
[Tự do hóa kinh tế] [Cổ phần hóa DNNN] [Phát triển kinh tế tư nhân]
- Tự do hóa thương mại - Thực hiện 9 mục tiêu cải cách - Vai trò doanh nghiệp gia đình
- Cải cách hệ thống đa tỷ giá - Triển khai Justice Share - Hạn chế tiếp cận vốn/đất đai
- Thu hút FDI (Biểu 3.1) Program - Bị cạnh tranh bởi Bonyads &
- Xúc tiến thương mại ASEAN/ - Chuyển giao cổ phần sang doanh nghiệp thuộc IRGC
Trung Quốc (Bảng 3.1, 3.2) khu vực thân nhà nước - Đóng góp ngân sách (Bảng 3.3)
- Tự do hóa kinh tế: Quá trình cải cách ngoại thương, gỡ bỏ kiểm soát giá cả, thống nhất chính sách đa tỷ giá và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Luận án phản ánh sự chuyển dịch thương mại từ phương Tây sang các nước Châu Á thông qua số liệu xuất nhập khẩu giữa Iran với ASEAN và Trung Quốc giai đoạn 2002–2017 (Bảng 3.1 và Bảng 3.2), cũng như biến động dòng vốn FDI vào Iran giai đoạn 2002–2018 (Biểu 3.1).
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Iran đặt ra 9 mục tiêu khi thực hiện cổ phần hóa (tạo thị trường cạnh tranh, tăng năng suất và việc làm, thu hẹp ảnh hưởng của chính phủ, đa dạng hóa sản xuất, giảm phụ thuộc dầu mỏ, giảm trợ cấp, tối ưu phân bổ nguồn lực, tạo điều kiện phát triển, thu hút vốn và nhân lực). Tiến trình này được phản ánh qua tổng giá trị cổ phần hóa giai đoạn 3/2001 đến 3/2019 (Biểu 3.2 và Biểu 3.3). Tuy nhiên, chương trình cổ phần hóa thông qua mạng lưới cổ phiếu công lý (Justice Share Program) và các hợp tác xã cấp tỉnh đã dẫn đến hiện tượng phân phối lại tài sản cho các thực thể thân chính quyền, các quỹ tôn giáo (Bonyads) và các công ty trực thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), khiến bản chất độc quyền nhà nước chỉ chuyển thành độc quyền nhóm thân hữu.
- Phát triển kinh tế tư nhân: So sánh với thời kỳ vua Shah trước 1979 (khi kinh tế tư nhân đóng góp 75% sản xuất công nghiệp và 85% doanh nghiệp lớn thuộc 45 gia đình như Tập đoàn Behshar, Pars Electric, Kafsh Melli), khu vực tư nhân giai đoạn 1989–2019 gặp nhiều rào cản. Luận án phân tích sự biến động của tỷ trọng đóng góp ngân sách giữa khu vực tư nhân và nhà nước (Bảng 3.3). Rào cản lớn nhất đối với kinh tế tư nhân là sự định kiến tư tưởng của tầng lớp giáo sĩ, sự chèn ép của các tập đoàn quân đội và việc méo mó của hệ thống tín dụng ngân hàng.
- Đánh giá chung: Đánh giá thể chế kinh tế của Iran qua các cấu phần trụ cột thể chế trong Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu (Bảng 3.4), xếp hạng tiêu chí thể chế 2010–2019 (Bảng 4.2) và môi trường kinh doanh 2010–2020 (Bảng 4.3).
Chương 4: Một số hàm ý cho Việt Nam
- Khái quát phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam (1986–2019): Đánh giá ba nội dung tương ứng: tự do hóa kinh tế, cổ phần hóa DNNN và phát triển kinh tế tư nhân.
- So sánh đối chiếu:
- Điểm tương đồng: Đều xuất phát từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chịu hậu quả chiến tranh, tiến hành chuyển đổi sang kinh tế thị trường nhằm phục hồi kinh tế; cùng duy trì vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và thực hiện chương trình cổ phần hóa DNNN quy mô lớn.
- Điểm khác biệt: Thể chế chính trị (Iran duy trì thể chế thần quyền Hồi giáo tập trung quyền lực; Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa); cơ cấu kinh tế (Iran phụ thuộc sâu vào nguồn thu dầu mỏ và bị phương Tây bao vây cấm vận; Việt Nam mở cửa hội nhập sâu rộng, độ mở thương mại cao, kinh tế định hướng xuất khẩu đa dạng).
- Hàm ý chính sách cho Việt Nam: Nâng cao hiệu lực thực thi thể chế; thúc đẩy cổ phần hóa DNNN thực chất gắn liền với đổi mới quản trị doanh nghiệp thay vì chuyển giao hình thức; kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho kinh tế tư nhân, ngăn ngừa sự hình thành của các nhóm lợi ích thân hữu làm biến dạng thị trường tài chính và đất đai.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về thể chế và phát triển kinh tế thị trường, làm rõ sự tương tác giữa cải cách thể chế kinh tế và thể chế chính trị tại một quốc gia có mô hình chính trị - tôn giáo đặc thù như Cộng hòa Hồi giáo Iran.
- Luận giải nguyên nhân sâu xa dẫn đến các kết quả cải cách kinh tế của Iran giai đoạn 1989–2019: việc thiếu vắng cải cách thể chế chính trị đồng bộ đã làm suy giảm hiệu quả của các chính sách kinh tế thị trường (tự do hóa kinh tế, cổ phần hóa DNNN và phát triển kinh tế tư nhân).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Phân tích chi tiết quá trình cải cách kinh tế của Iran qua bốn thời kỳ tổng thống (Ali Akbar Hashemi Rafsanjani, Mohammad Khatami, Mahmoud Ahmadinejad và Hassan Rouhani); chỉ rõ thực trạng chuyển đổi sở hữu sang các thực thể bán công lập (Bonyads, IRGC) và tác động của các lệnh trừng phạt quốc tế đối với nền kinh tế Iran.
- Rút ra hệ thống bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cụ thể cho Việt Nam trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tái cơ cấu DNNN và phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung phân tích định tính trên nguồn dữ liệu thứ cấp được công bố chính thức; phạm vi thời gian dừng lại ở năm 2019 (kết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống Rouhani). Do điều kiện tiếp cận tư liệu tại Iran và rào cản ngôn ngữ chuyên ngành Hồi giáo, việc khảo sát thực địa trực tiếp doanh nghiệp tư nhân Iran chưa được triển khai.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu giai đoạn sau năm 2019, cập nhật tác động của các biến động địa chính trị mới tại khu vực Trung Đông, sự phục hồi hay đình trệ của thỏa thuận hạt nhân JCPOA và các điều chỉnh chính sách kinh tế dưới các nhiệm kỳ tổng thống kế tiếp của Iran.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Kinh tế học thể chế, Quan hệ quốc tế và Trung Đông học: tham khảo khung phân tích thể chế kinh tế trong bối cảnh nhà nước thần quyền, phương pháp phân tích chuyển đổi kinh tế.
- Các cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Ban Kinh tế Trung ương, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương): tham khảo các bài học thực tiễn về phòng tránh chuyển giao tài sản công thiếu minh bạch trong cổ phần hóa, bài học về kiểm soát nguy cơ kinh tế thân hữu và kinh nghiệm quản lý kinh tế đối ngoại trong điều kiện biến động quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao Iran bắt đầu chuyển đổi sang kinh tế thị trường từ năm 1989?
Năm 1989 đánh dấu thời điểm kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài gần 10 năm giữa Iran và Iraq. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung được thiết lập sau Cách mạng Hồi giáo 1979 đã bộc lộ những khuyết tật nghiêm trọng: nguồn lực phân bổ sai lệch, phụ thuộc vào dầu mỏ, khu vực phi dầu mỏ đình trệ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề. Do đó, chính quyền Iran buộc phải thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế theo hướng thị trường nhằm phục hồi sản xuất quốc gia.
2. Mô hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Iran gặp phải rào cản cốt lõi nào?
Rào cản cốt lõi là sự can thiệp của thể chế chính trị và lợi ích nhóm. Quá trình cổ phần hóa không thực sự chuyển giao quyền sở hữu và quản trị cho khu vực tư nhân độc lập mà phần lớn cổ phần được chuyển sang các công ty thân nhà nước, các quỹ tôn giáo (Bonyads) và các doanh nghiệp thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Do đó, cổ phần hóa chỉ làm thay đổi hình thức kiểm soát chứ không nâng cao hiệu quả hoạt động và năng suất lao động của doanh nghiệp.
3. Kinh tế tư nhân Iran trước năm 1979 và giai đoạn 1989–2019 khác nhau như thế nào?
Trước Cách mạng Hồi giáo 1979 (thời vua Shah), kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ theo cơ chế thị trường tự do phương Tây, đóng góp tới 75% sản lượng sản xuất công nghiệp, trong đó 85% doanh nghiệp lớn thuộc về 45 tập đoàn gia đình. Ngược lại, giai đoạn 1989–2019, mặc dù chính phủ có chủ trương mở rộng kinh tế tư nhân, khu vực này vẫn bị hạn chế không gian phát triển do sự chi phối độc quyền của các tập đoàn nhà nước, quỹ tôn giáo và doanh nghiệp quân đội.
4. Điểm khác biệt lớn nhất giữa bối cảnh phát triển kinh tế thị trường của Iran và Việt Nam là gì?
Khác biệt lớn nhất nằm ở thể chế chính trị và cơ cấu kinh tế đối ngoại: Iran vận hành kinh tế thị trường dưới thể chế chính trị thần quyền Hồi giáo tập quyền, cơ cấu phụ thuộc nặng vào dầu mỏ và chịu các lệnh cấm vận kinh tế nghiêm ngặt từ Mỹ và phương Tây; trong khi Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong môi trường chính trị ổn định, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và đa dạng hóa quan hệ thương mại toàn cầu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Anh Đức đã làm rõ tiến trình phát triển kinh tế thị trường tại nước Cộng hòa Hồi giáo Iran trong giai đoạn 1989–2019 trên ba nội dung trọng tâm: tự do hóa kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân. Công trình chứng minh rằng các cải cách kinh tế thị trường khó đạt được hiệu quả bền vững nếu thiếu sự đổi mới đồng bộ về thể chế chính trị và thể chế quản trị kinh tế vĩ mô. Những phân tích so sánh giữa Iran và Việt Nam trong luận án mang lại những luận cứ khoa học và hàm ý thực tiễn giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.