Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu tạo axít phenyllactic và ứng dụng trong bảo quản một số rau quả chế biến tối thiểu

Nghiên cứu tạo axít phenyllactic và ứng dụng trong bảo quản rau quả chế biến tối thiểu, giúp kéo dài thời gian sử dụng, đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Trường đại học

Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Tác giả

Bùi Kim Thúy

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2016

142
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về axít phenyllactic và ứng dụng trong bảo quản rau quả chế biến tối thiểu

Axít phenyllactic (PLA) là một hợp chất sinh học được tổng hợp bởi vi khuẩn lactic, có tiềm năng lớn trong việc bảo quản thực phẩm. PLA được chứng minh là an toàn và có khả năng ức chế vi khuẩn gram âm, gram dương, nấm men và nấm mốc. Đặc biệt, PLA có hiệu quả cao trong việc bảo quản rau quả chế biến tối thiểu (CBTT), một dạng sản phẩm đang được ưa chuộng do tính tiện dụng và độ tươi ngon. Tuy nhiên, CBTT thường có thời hạn sử dụng ngắn do dễ bị nhiễm vi sinh vật gây hại. Việc sử dụng axít phenyllactic như một chất bảo quản tự nhiên có thể giải quyết vấn đề này, đồng thời đáp ứng xu hướng tiêu dùng thực phẩm an toàn và ít hóa chất.

1.1. Đặc tính và cơ chế hoạt động của axít phenyllactic

Axít phenyllactic là một axít hữu cơ có khối lượng phân tử thấp, dễ hòa tan trong nước và có khả năng ức chế vi sinh vật rộng. Cơ chế hoạt động của PLA bao gồm việc làm thay đổi cấu trúc tế bào vi khuẩn, dẫn đến sự phá vỡ và tiêu diệt chúng. PLA cũng được chứng minh là an toàn với con người và động vật, thậm chí có mặt trong một số loại mật ong tự nhiên. Điều này làm cho PLA trở thành một lựa chọn lý tưởng cho việc bảo quản thực phẩm, đặc biệt là rau quả CBTT.

1.2. Vai trò của axít phenyllactic trong bảo quản rau quả chế biến tối thiểu

Rau quả chế biến tối thiểu thường bị giảm thời hạn sử dụng do quá trình xử lý cơ học làm mất lớp vỏ bảo vệ, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập. PLA có khả năng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây hại như Listeria monocytogenes, Salmonella typhiEscherichia coli, đồng thời ngăn chặn quá trình biến màu và thối hỏng. Việc sử dụng PLA như một chất bảo quản tự nhiên không chỉ kéo dài thời hạn sử dụng của sản phẩm mà còn đảm bảo tính an toàn và chất lượng.

II. Nghiên cứu tạo axít phenyllactic từ vi khuẩn lactic

Nghiên cứu này tập trung vào việc tạo axít phenyllactic từ vi khuẩn lactic, đặc biệt là chủng Lactobacillus plantarum. Quá trình lên men được thực hiện để tổng hợp PLA, với mục tiêu tạo ra một chất bảo quản tự nhiên hiệu quả. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men như thành phần môi trường, pH và thời gian lên men đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để tối ưu hóa hiệu suất sản xuất PLA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng phương pháp lên men gián đoạn với bổ sung dinh dưỡng đã đạt được hiệu suất cao, mở ra tiềm năng sản xuất PLA ở quy mô công nghiệp.

2.1. Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn lactic

Quá trình phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh axít phenyllactic cao là bước quan trọng đầu tiên. Hai chủng Lactobacillus plantarum C2 và C15 đã được tuyển chọn với khả năng sinh PLA đạt 1,2 g/l. Đây là hai chủng hoàn toàn mới so với các nghiên cứu trước đây, mở ra hướng đi mới trong việc khai thác tiềm năng của vi khuẩn lactic.

2.2. Quy trình lên men tạo axít phenyllactic

Quy trình lên men gián đoạn với bổ sung dinh dưỡng đã được xây dựng để tạo axít phenyllactic từ chủng Lactobacillus plantarum C2. Quy trình này đạt hiệu suất cao và có thể áp dụng ở quy mô lớn, với khả năng sản xuất 800 lít/mẻ. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển công nghệ sản xuất PLA ở quy mô công nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng trong bảo quản thực phẩm.

III. Ứng dụng axít phenyllactic trong bảo quản rau quả chế biến tối thiểu

Axít phenyllactic đã được ứng dụng thành công trong việc bảo quản một số loại rau quả chế biến tối thiểu như cà rốt, khoai tây, dứa, mít và vải. Kết quả nghiên cứu cho thấy, PLA không chỉ kéo dài thời hạn sử dụng của sản phẩm mà còn duy trì được độ tươi ngon, màu sắc và cấu trúc. Việc sử dụng PLA như một chất bảo quản tự nhiên đã đáp ứng được xu hướng tiêu dùng thực phẩm an toàn và ít hóa chất, đồng thời mở ra hướng đi mới trong công nghệ bảo quản thực phẩm.

3.1. Hiệu quả của axít phenyllactic trong bảo quản rau quả

PLA đã chứng minh hiệu quả cao trong việc ức chế vi sinh vật gây hại và ngăn chặn quá trình biến màu, thối hỏng ở rau quả CBTT. Các sản phẩm được bảo quản bằng PLA duy trì được độ tươi ngon và chất lượng trong thời gian dài hơn so với các phương pháp bảo quản truyền thống. Điều này khẳng định tiềm năng ứng dụng rộng rãi của PLA trong ngành công nghiệp thực phẩm.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp một giải pháp bảo quản tự nhiên hiệu quả mà còn góp phần đa dạng hóa các sản phẩm bảo quản sinh học an toàn. Việc ứng dụng axít phenyllactic trong bảo quản rau quả chế biến tối thiểu đã mở ra hướng đi mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về thực phẩm tươi ngon và an toàn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu tạo axít phenyllactic và ứng dụng trong bảo quản một số rau quả chế biến tối thiểu

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ lâu, vi khuẩn lactic là nhóm vi sinh vật được coi là an toàn (GRAS) và việc ứng dụng thành công nhóm vi khuẩn này hay những hợp chất kháng vi sinh vật mà chúng sản sinh ra trong bảo quản thực phẩm đã được đề cập nhiều. Một số loại chế phẩm sinh học đã được thử nghiệm và ứng dụng trong thực tiễn đem đến hiệu quả cao như bacterioxin và một số loại axít hữu cơ như axít lactic, axetic, xitric. Bacterioxin là các hợp chất có bản chất protein có khả năng ức chế vi sinh vật khá tốt được ứng dụng nhiều trong thực phẩm tuy phổ kháng vi sinh vật không rộng [35].

Trong khi đó, axít lactic, axít axetic và axít xitric lại có khả năng phòng trừ vi sinh vật tương đối yếu. Do vậy, những loại axít này thường được sử dụng kết hợp với những hợp chất khác để làm tăng hiệu quả. Gần đây, một hợp chất sinh học mới có tiềm năng ứng dụng như là chất bảo quản thực phẩm được sinh tổng hợp bởi nhóm vi khuẩn lactic được các nhà khoa học thế giới phát hiện có tên là axít phenyllactic. So với nhiều loại bacterioxin sản sinh bởi vi khuẩn lactic như nisin thì axít phenyllactic có khối lượng phân tử thấp, phổ kháng vi sinh vật rộng và tính bền cũng như độ hòa tan cao [109].

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng axít phenyllactic là một hợp chất an toàn, có khả năng ức chế cả vi khuẩn gram âm lẫn gram dương và nấm men, nấm mốc, đặc biệt là nhiều loài nấm sinh độc tố [54][100] [110]. Trước những lợi ích cũng như tiềm năng đã được kiểm chứng thì axít phenyllactic là sản phẩm rất phù hợp sử dụng cho những đối tượng nông sản, thực phẩm dễ bị lây nhiễm bởi vi sinh vật gây hại và đòi hỏi có tính an toàn cao khi sử dụng. Rau quả chế biến tối thiểu (CBTT) là một trong những đối tượng nông sản đang được người tiêu dùng hướng tới hiện nay với tiêu chí đảm bảo độ tươi, ngon, tiện dụng và an toàn ít sử dụng hóa chất bảo quản nhất. Hơn nữa, rau quả chế biến thối thiểu là một dạng sơ chế, là những sản phẩm rau quả tươi đã thay đổi hình dạng ban đầu bằng một số tác động nhưng không bị xử lý nhiệt hay hóa chất đến mức chúng bị thay đổi trạng thái tươi sống.

Rau quả tươi được chế biến tối thiểu thường phải qua các công đoạncơ bản mà không phải qua khâu nấu chín như xử lý cơ học (làm sạch, tách vỏ, cắt gọt, tạo hình,…), ổn định sản phẩm (xử lý hóa học) và bao gói[80]. Nhược điểm lớn nhất của chế biến tối thiểu là thời hạn sử dụng sản phẩm bị giảm do khả năng bảo quản bị kém đi so với bảo quản các sản phẩm nguyên vẹn. Do rau quả CBTT bị loại bỏ lớp vỏ bảo vệ bên ngoài, làm kích hoạt các enzyme hoạt động tạo môi trường thuận lợi cho sự xâm nhập và phát triển của các loài vi 7 sinh vật khác nhau nên đã làm thay đổi màu sắc, cấu trúc, mất trọng lượng dẫn tới tổn thất về cả số lượng và chất lượng trong quá trình bảo quản [78]. Vi sinh vật gây hại rau quả CBTT rất đa dạng về chủng loại và số lượng.

Trong các sản phẩm rau quả chế biến tối thiểu người ta tìm thấy một số vi sinh vật phát triển mạnh như vi khuẩn ưa ẩm, vi khuẩn lactic, coliform, nấm men, nấm mốc, trong đó có nhiều loài có khả năng sinh độc tố mycotoxin [21]. Ngoài ra, những sản phẩm rau quảsẵn sàng để sử dụng vẫn còn bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh sau quá trình CBTT là một vấn đề tồn tại trong đảm bảo an toàn thực phẩm. Trong số đó, đáng kể đến là Listeria monocytogenes, Salmonella typhivà Escherichia coli, đặc biệt là E. Hạn chế tới mức thấp nhất vi sinh vật gây hại và ngăn chặn quá trình làm biến màu sản phẩm là những vấn đề cần được quan tâm và giải quyết trong CBTT.

Những hợp chất hóa học thông thường được sử dụng cho mục đích này gồm clo, axít ascorbic, axít axetic, axít lactic và muối canxi (canxi lactat, canxi clorua) [45] [60]. Do khả năng ức chế vi sinh vật của những hợp chất này đối với rau quả cắt không cao nênmột số hợp chất hóa học khác được sử dụng kết hợp như 4- hexylresorcino, cysteine, benzoat natri, sorbat kali,… để đem lại hiệu quả tốt hơn trong việc ngăn chặn biến màu, giảm thối hỏng do vi sinh vật gây ra và đảm bảo được độ cứng của sản phẩm [38]. Việc sử dụng những chất hóa học này đang ngày càng bị hạn chế bởi mong muốn của người tiêu dùng đang ngày càng ưa chuộng sử dụng những sản phẩm thực phẩm tươi và tự nhiên có tính an toàn cao không sử dụng chất bảo quản hoá học. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm tìm ra những hợp chất tự nhiên hay những chế phẩm sinh học để thay thế những chất hóa học có khả năng phòng trừ vi sinh vật gây hại trên rau quả chế biến tối thiểu [38].

Xu hướng sử dụng thực phẩm tươi và thực phẩm ít chế biếncủa người tiêu dùng hiện nay ngày càng tăng, hình thành nên một dạng thực phẩm mới là các sản phẩm rau quả chế biến tối thiểu. Rau quả CBTT hiệnlà một trong những mặt hàng hóa sôi động nhất trong các cửa hàng rau quả thực phẩm ở Mỹ. Thị trường rau quả cắt ở các nước Châu Á đã phát triển từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90,đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc. Ở nhiều nước phát triển, việc sản xuất các sản phẩm rau quả tươi dạng CBTT đã trở thành một ngành công nghiệp có thị phần không nhỏ [47].

Tuy nhiên, ở Việt Nam, CBTT gần đây mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và thương mại. Dạng thực phẩm này tuy mới xuất hiện với số lượng hạn chế về chủng loại nhưng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ vì phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội và lối sống hiện đại. Một số kết quả nghiên cứu bước đầu 8 về công nghệ CBTTcủa Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạchđạt đượcmột số kết quả nhất định như đảm bảo được độ cứng, màu sắc của mít, dứa cắt mặc dù thời gian bảo quản còn ngắn (8-10 ngày) [2-4].Công nghệ CBTT ở Việt Nam hiện nay rất cần có hướng nghiên cứu sâu hơn, đa dạng hơn về chủng loại. Cho tới nay, những công trình nghiên cứu và ứng dụng axít phenyllactic trên thế giới mới dừng ở phạm vi tuyển chọn những chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh axít phenyllactic cao ứng dụng trực tiếp trong thực phẩm như bổ sung vào bột làm bánh hay bổ sung vào thức ăn chăn nuôi [99][105], chỉ có một vài nghiên cứu thử nghiệm sản xuất axít phenyllactic thông qua quá trình lên men ở quy mô nhỏ phòng thí nghiệm (3-10 lít) [69].

Do đó, việc “Nghiên cứu tạo axít phenyllactic và ứng dụng trong bảo quản một số rau quả chế biến tối thiểu”là thực sự cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tạoaxít phenyllactic từ vi khuẩn lactic và đánh giá được hiệu quả của axítphenyllactic trong việc duy trì chất lượng và đảm bảo an toàn thực phẩm đối với một số sản phẩm rau quả chế biến tối thiểu. Nội dung nghiên cứu - Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh axít phenyllactic cao; - Tạo axít phenyllactic từ vi khuẩn tuyển chọn được bằng phương pháp lên men; - Đánh giá chất lượng của axít phenyllactic thu được; - Đánh giá hiệu quả của axít phenyllactic trong sơ chế, bảo quản một số rau (cà rốt, khoai tây) quả (dứa, mít, vải)chế biến tối thiểu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4.

Ý nghĩa khoa học  Đã phân lập và tuyển chọn được bộ chủng giống vi khuẩn Lactobacillus plantarum có khả năng sinh axít phenyllactic cao.Kết quả này đã góp phần khai thác đa dạng vi sinh vật của Việt Nam cho ứng dụng trong công nghệ sinh học;  Là công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống tổng thể về quá trình tạo axít phenyllactic, giải quyết trọn vẹn vấn đề từ khâu chủng giống đến khâu tạochế phẩm và cuối cùng là ứng dụng sản phẩm trên một số đối tượng rau quả CBTT. Đây là nguồn tài liệu đáng tin cậy để các nhà khoa học quan tâm đến các vấn đề tương tự tham khảo. Ý nghĩa thực tiễn  Xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm axít phenyllactic để có thể chủ động sản xuất chế phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước, đa dạng hóa sản phẩm bảo quản sinh học an toàn;  Đối tượng lựa chọn để ứng dụng chế phẩm tạo ra là rau quả chế biến tối thiểu. Đây là những sản phẩm rau quả ‘sẵn sàng để ăn’ và ‘sẵn sàng để nấu’ với yêu cầu phải đảm bảo chất lượng tươi, ngon và chứa những thành phần tự nhiên.

Bởi vậy, việc ứng dụng chế phẩm PLA là chế phẩm bảo quản sinh học an toàn để bảo quản các sản phẩm CBTT có ý nghĩa thực tiễn cao;  Tạo ra cơ sở dữ liệu làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học từ vi sinh vật ứng dụng trong bảo quản thực phẩm. Điểm mới của luận án  Đã tuyển chọn được 02 chủng vi khuẩn Lactobacillus plantarumC2 và C15 có khả năng sinh axít phenyllactic cao (hàm lượng đạt 1,2 g/l) với trình tự gen rADN 16S tương đồng 99% với trình tự gen của chủng Lactobacillus plantarum NRIC 1767. Hai chủng vi khuẩn này là hai chủng hoàn toàn mới so với các công trình đã công bố trước đây trong và ngoài nước.  Đã xây dựng được quy trình tạo axít phenyllactic bởi chủng L.plantarum C2 bằng phương pháp lên men gián đoạn có bổ sung dinh dưỡng quy mô 800 lít/mẻ hoàn chỉnh, là tiền đề tiến tới sản xuất chế phẩm quy mô công nghiệp;  Đã tạo ra được chất bảo quản thực phẩm có nguồn gốc sinh học và ứng dụng trong bảo quản rau quả chế biến tối thiểu, đây là điểm mới so với các công trình nghiên cứu và ứng dụng axít phenyllactic khác trên thế giới; 6.

Cấu trúc của luận án Luận án được trình bày trong 155 trang gồm 3 phần với 35 bảng, 53 hình và đồ thị. Tổng quan; Phần 2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu; Phần 3. Kết quả và thảo luận; Phần 4.

Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo với 112 tài liệu tham khảo và Phần phụ lục.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về axít phenyllactic 1. Đặc tính và tác dụng của axít phenyllactic Axít phenyllactic (PLA) là một loại axít thơm, có công thức phân tử là C9H10O3, trong phân tử có chứa vòng thơm (thể hiện ở hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tạo axít phenyllactic và ứng dụng bảo quản rau quả chế biến tối thiểu là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc sản xuất axít phenyllactic, một hợp chất có tiềm năng lớn trong việc bảo quản rau quả chế biến tối thiểu. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ quy trình tạo ra hợp chất này mà còn khám phá các ứng dụng thực tiễn của nó trong việc kéo dài thời gian bảo quản và duy trì chất lượng sản phẩm. Điều này mang lại lợi ích đáng kể cho ngành công nghiệp thực phẩm, đặc biệt là trong bối cảnh nhu cầu về thực phẩm tươi và an toàn ngày càng tăng.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến hóa học và ứng dụng thực tiễn, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, một nghiên cứu sâu về các hợp chất hóa học và tác động của chúng đến sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi cũng cung cấp góc nhìn chi tiết về phân tích hóa học và ứng dụng trong đánh giá chất lượng môi trường. Để mở rộng kiến thức về các giải pháp nâng cao hiệu quả nghiên cứu, bạn có thể xem Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan và mở rộng hiểu biết của mình.