Tổng quan luận án

Công trình khoa học được nghiên cứu và trình bày là Luận án tiến sĩ Luật học với đề tài "Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay", thuộc ngành Luật Kinh tế (Mã số: 9.07), do nghiên cứu sinh Phan Thị Thu Thủy thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Thị Duyên Thủy.

Về tính cấp thiết, Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km và đường biên giới đất liền 4.510 km, đưa kinh tế biển trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội then chốt. Tuy nhiên, môi trường biển đang chịu áp lực nghiêm trọng từ các nguồn thải đất liền, trong đó nước thải công nghiệp (NTCN) chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn kỹ thuật (QCKT) môi trường là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Nguồn thải này chứa nhiều chất rắn lơ lửng, hợp chất hữu cơ, dầu mỡ, kim loại nặng độc hại khó phân hủy và vi nhựa, theo các lưu vực sông hoặc xả trực tiếp ra biển. Báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận hàng năm các con sông đổ ra biển khoảng 880 km³ nước và mang theo 270 - 300 triệu tấn phù sa cùng lượng lớn chất gây ô nhiễm.

Về khoảng trống nghiên cứu, hệ thống pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường (KSONMT) biển do NTCN tại Việt Nam bộc lộ nhiều điểm bất cập: phần lớn các QCKT quốc gia về chất thải và NTCN đã được ban hành trên 10 năm, nhiều thông số kỹ thuật lạc hậu so với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; thiếu vắng các quy định cụ thể về cơ chế phát hiện ô nhiễm môi trường (ONMT) biển; thiếu công cụ pháp lý chuẩn xác để lượng giá thiệt hại; chưa đánh giá đúng mức vai trò của cộng đồng, truyền thông và các tổ chức xã hội; các chế tài xử phạt hành chính và hình sự chưa đủ sức răn đe. Đặc biệt, việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2020 đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ pháp lý để giải quyết toàn diện vấn đề này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm ONMT biển do NTCN, KSONMT biển do NTCN và pháp luật KSONMT biển do NTCN.
  2. Làm rõ nội dung, vai trò, ý nghĩa và các yếu tố tác động đến việc ban hành pháp luật KSONMT biển do NTCN.
  3. Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN.
  4. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được xác lập như sau:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: KSONMT biển do NTCN theo pháp luật hiện hành bao gồm những nội dung cơ bản nào?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1: Pháp luật KSONMT biển do NTCN gồm những nội dung sau đây: Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng các quy định về KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  • Giả thuyết nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật KSONMT biển do NTCN còn có những bất cập, thiếu sót, chưa thống nhất; một số quy định đã được ban hành khá lâu nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó việc thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN chưa thực sự hiệu quả.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam hiện nay cần có những giải pháp cơ bản nào?
  • Giả thuyết nghiên cứu 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN phải đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật BVMT nói chung. Đồng thời, việc KSONMT biển do NTCN mang những đặc thù nhất định nên cần có những định hướng và giải pháp phù hợp.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam theo Luật BVMT năm 2020 và các văn bản liên quan, kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia có biển.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các biện pháp pháp lý nhằm đạt mục tiêu KSONMT biển do NTCN (bao gồm các quy phạm về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm), không nghiên cứu sâu các biện pháp kỹ thuật hay kinh tế thuần túy.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu các quy định và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam; các dữ liệu quốc tế được sử dụng nhằm mục đích so sánh.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các tài liệu, văn bản pháp luật, báo cáo và số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân chia thành 3 nhóm vấn đề chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu lý luận về KSONMT biển do NTCN và pháp luật KSONMT biển do NTCN.

  • Về khái niệm và nguồn gốc ONMT biển: Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982, Điều 1 Khoản 4) tiếp cận ô nhiễm từ hành vi đưa chất thải/năng lượng vào biển gây tác hại; định nghĩa của Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển (GESAMP); công trình của Judith S. ("Marine Pollution: What Everyone Needs to Know"); Nguyễn Hồng Thao (2003, "ONMT biển Việt Nam - Luật pháp và thực tiễn"); Ngô Kim Định và Bùi Đình Hoàn (2014, Giáo trình "Kiểm soát và quản lý ONMT biển"); Lưu Ngọc Tố Tâm (2012, Luận án tiến sĩ về KSONMT biển trong hoạt động hàng hải); Đặng Thanh Hà (2016, Luận án về thiệt hại do dầu từ tàu); bài viết của LightHouse ("Marine Pollution: Meaning, Causes, Effects, Control Measures"); nghiên cứu của Todd, Xueyuan Ong, Loke Ming Chou ("Impacts of pollution on marine life in Southeast Asia").
  • Về đặc điểm và tác hại của NTCN: Woodard & Curran, Inc. (2006, "Industrial Waste Treatment Handbook"); Giáo trình ONMT của Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (2010); Nguyễn Thế Chinh (2013, "Lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường"); Phạm Tuấn Hùng (chủ biên, "Quản lý chất thải và biến đổi khí hậu"); Nguyễn Đức Khiển, Phạm Văn Đức, Đồng Xuân Thụ, Nguyễn Minh Ngọc (2014, "Công nghệ xử lý NTCN"); Trần Đình Lân, Từ Thị Lan Hương, Tống Thị Hồng Minh (2011, "Đánh giá nhanh nguồn thải lục địa tác động đến môi trường biển"); Hoda Abd El-Azim (2012, nghiên cứu ô nhiễm tại Vịnh Suez); Eckenfelder, W. ("Industrial water pollution control"); Abdulrzzak Alturkmani ("Industrial Wastewater").
  • Về khái niệm KSONMT và pháp luật KSONMT: Schoderbek, Cosier và Aplin (1988); Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học Luật Hà Nội (2011, 2014, 2016); Bùi Đức Hiển (2016, Luận án KSONMT không khí; 2019, Đề tài khoa học cấp Bộ về pháp luật KSONMT); Lê Kim Nguyệt (2015, Luận án KSONMT làng nghề); Malgosia Fitzmaurice ("Contemporary Issues in International Environmental Law"); Nguyễn Kỳ Phùng (tiếp cận kiểm soát sinh thái và kiểm soát vật lý).

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN.

  • Các ấn phẩm tiêu biểu gồm: Sách chuyên khảo "Phân cấp quản lý BVMT ở Việt Nam hiện nay" (2011); Viện Khoa học Môi trường (2018, "Một số vấn đề về tội phạm môi trường"); Bùi Đức Hiển (2019); Vũ Thị Duyên Thủy (2005, "Hoàn thiện các tiêu chuẩn môi trường về NTCN ở Việt Nam"); Vũ Thanh Ca (2016, "BVMT biển trong luật pháp quốc tế và một số quốc gia trên thế giới"); Lê Hoàng Lan (2016, "Xây dựng và áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam trong kiểm soát nguồn thải"). Các công trình này chỉ ra sự lỏng lẻo trong quy chuẩn xả thải, sự thiếu hụt các quy định về sức chịu tải của nguồn tiếp nhận và bất cập trong tổ chức bộ máy phân cấp quản lý.

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu liên quan đến định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

  • Gồm các nghiên cứu của: Nguyễn Hồng Thao (2004, "Bảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp"); Giáo trình của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội; Nguyễn Thị Thơm, An Như Hải (2011, "Nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường"); Nguyễn Văn Cư ("Một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý tài nguyên biển"); Bùi Kim Hiếu (2016, "Trách nhiệm BTTH đối với hành vi làm ONMT ở Việt Nam hiện nay"); Đỗ Văn Sen (2012); Hà Văn Hòa (2015); Nguyễn Thị Tố Uyên (2017); Nguyễn Sơn Hà (2020); Lưu Văn Diệu (2011); Nguyễn Việt Anh (2015); Bùi Quốc Lập, Ngô Trà Mai, Nguyễn Thị Phương Lan (2019); tài liệu quốc tế của Edited ("International Marine Environmental Law"), A. (nghiên cứu vùng bờ Chennai), Jo S, Hwang Y, Kim S (nghiên cứu chính sách xả thải tại Hàn Quốc), Weixin Yang và Lingguang Li (nghiên cứu kiểm soát NTCN tại Trung Quốc).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đã đề cập đến bảo vệ môi trường biển, KSONMT không khí, làng nghề, hoạt động hàng hải hoặc xử lý nước thải nói chung, song chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý của KSONMT biển do NTCN. Ngoài ra, nhiều công trình trước đây xây dựng giải pháp dựa trên Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT năm 2014 hiện đã hết hiệu lực. Luận án đặt vị trí nghiên cứu giải quyết trực diện khoảng trống này trên nền tảng của Luật BVMT năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên 5 lý thuyết khoa học nền tảng:

  1. Lý thuyết về đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người: Xuất phát từ Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Tuyên bố Stockholm năm 1972, Tuyên bố Rio de Janeiro năm 1992 và Công ước Aarhus. Quyền có môi trường sống an toàn, trong lành là cơ sở định hình các nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước và doanh nghiệp trong việc kiểm soát chất thải.
  2. Lý thuyết về đảm bảo sự phát triển bền vững: Ghi nhận trong Tuyên bố Stockholm 1972, Tuyên bố Rio 1992 và Tuyên bố Johannesburg 2002; số liệu của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) ghi nhận khoảng 400 điều ước quốc tế về nước từ năm 1820 đến nay. Lý thuyết này yêu cầu phát triển kinh tế biển phải cân bằng với bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai.
  3. Lý thuyết về ưu tiên hoạt động phòng ngừa: Thừa nhận nguyên tắc hành động phòng ngừa sớm khi nguy cơ ô nhiễm hiện hữu, ngay cả khi chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học tuyệt đối, bởi chi phí phòng ngừa luôn thấp hơn rất nhiều so với chi phí khắc phục hậu quả ONMT biển.
  4. Lý thuyết kinh tế tuần hoàn: Do Pearce và Turner khởi xướng năm 1990 với nguyên lý "mọi thứ đều là đầu vào đối với thứ khác", tái sử dụng nước thải và chất thải làm nguyên liệu sản xuất nhằm tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm, đã được thể chế hóa tại Việt Nam từ Chỉ thị 36/1998/CT-TW của Bộ Chính trị và các văn bản luật hiện hành.
  5. Lý thuyết người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle - PPP): Do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khởi xướng từ đầu thập niên 1970, được khẳng định tại Nguyên tắc 16 Tuyên bố Rio 1992 và Nghị định thư Kyoto 1992, buộc chủ nguồn thải xả NTCN phải chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí xử lý, khắc phục và bồi thường thiệt hại môi trường.

Về phương pháp luận, luận án dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, chiến lược kinh tế biển, tăng trưởng xanh và hội nhập quốc tế.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp trình bày, phân tích: Áp dụng xuyên suốt các chương, mục để luận giải các khái niệm, quy định pháp luật và nhận định khoa học.
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 3 để thu thập, phân loại, xử lý các dữ liệu, tài liệu và số liệu thực tế về nguồn thải, trạm quan trắc và thực trạng xử lý nước thải.
  • Phương pháp phân tích, bình luận pháp luật, lịch sử, chứng minh và so sánh: Sử dụng chủ yếu ở Chương 3 và Chương 4 để đối chiếu các quy định pháp luật qua các thời kỳ, so sánh với pháp luật quốc tế và chứng minh các bất cập thực tế.
  • Phương pháp tổng hợp, quy nạp: Sử dụng tại phần mở đầu, tiểu kết các chương và kết luận của luận án nhằm khái quát hóa các kết quả nghiên cứu thành các luận điểm khoa học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật BVMT 2020, Luật Biển Việt Nam 2012, Bộ luật Hàng hải 2015, các QCVN liên quan); điều ước quốc tế (UNCLOS 1982, Marpol...); báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường; số liệu thống kê từ các cơ quan quản lý nhà nước và hồ sơ thực tiễn các vụ việc ô nhiễm điển hình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương này tập trung tổng kết các công trình khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo 3 cụm vấn đề lớn: lý luận pháp luật KSONMT biển; thực trạng quy định và thi hành pháp luật; các định hướng và giải pháp hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích khoảng trống nghiên cứu, chương làm rõ tính cấp thiết của việc xây dựng một hệ thống lý luận chuyên biệt cho KSONMT biển do NTCN theo khung pháp lý Luật BVMT năm 2020. Đồng thời, chương xác lập hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu gồm 5 lý thuyết: lý thuyết quyền con người được sống trong môi trường trong lành, lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết ưu tiên phòng ngừa, lý thuyết kinh tế tuần hoàn và lý thuyết người gây ô nhiễm phải trả tiền.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ:

  • Nước thải công nghiệp: Là nước thải phát sinh từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp hoặc từ hệ thống xử lý nước thải tập trung có đấu nối nước thải công nghiệp. NTCN có đặc thù đa dạng về thành phần độc hại (chứa kim loại nặng như Pb, Hg, Cd, Cr; hóa chất khó phân hủy như phenol; chất hữu cơ BOD, COD; chất rắn lơ lửng SS), áp dụng hệ thống QCKT phức tạp hơn nhiều so với nước thải sinh hoạt và có tính nguy hại cao. Luận án nhấn mạnh đại lượng PE (population equivalent) dùng để so sánh tương đối mức độ gây ô nhiễm giữa NTCN và nước thải đô thị.
  • Ô nhiễm môi trường biển do NTCN: Là sự biến đổi các thành phần nước biển theo chiều hướng xấu đi không phù hợp với QCKT môi trường do hành vi xả thải NTCN chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn vào môi trường biển một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, gây tổn hại đến con người, hệ sinh thái và kinh tế biển. Loại ô nhiễm này có đặc tính lan truyền nhanh, diện rộng, tính liên thông cao và khó phục hồi.
  • Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do NTCN: Là tổng thể các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ nguồn thải và các chủ thể liên quan trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm nhằm duy trì chất lượng môi trường biển.
  • Pháp luật KSONMT biển do NTCN: Là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ONMT biển do NTCN.

Chương cũng phân tích vai trò, nguyên tắc, các yếu tố tác động đến quá trình ban hành pháp luật và xác định cơ cấu 5 nội dung điều chỉnh trụ cột của pháp luật KSONMT biển do NTCN.

Chương 3: Thực trạng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng:

  • Thực trạng quy định: Phân tích nhóm QCKT môi trường đối với nước biển (QCVN 10-MT:2015/BTNMT) và nhóm QCKT đối với NTCN (QCVN 40:2011/BTNMT gồm 33 thông số); các công cụ phòng ngừa như đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giấy phép môi trường (GPMT); mạng lưới quan trắc môi trường (QTMT); quy định về phân vùng rủi ro ONMT biển dựa trên chỉ số $I_ô$; trách nhiệm pháp lý bao gồm chế tài hành chính, hình sự và bồi thường thiệt hại. Luận án chỉ rõ quy định về QCKT của Việt Nam mới chủ yếu căn cứ vào lưu lượng/dung tích nguồn tiếp nhận mà chưa tính toán đầy đủ sức chịu tải (khả năng tự làm sạch) của từng vùng biển, lưu vực.
  • Thực tiễn thi hành: Phản ánh các hạn chế về năng lực tổ chức bộ máy, sự chồng chéo giữa các bộ/ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương, chính quyền địa phương); ý thức chấp hành của doanh nghiệp còn thấp; nhiều khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) chưa vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn; trang thiết bị quan trắc thiếu đồng bộ.

Để chứng minh tính nguy hại và mức độ tàn phá của ô nhiễm NTCN đối với biển, luận án phân tích chi tiết dữ liệu thực tế từ sự cố môi trường Formosa Hà Tĩnh năm 2016 xảy ra tại 4 tỉnh miền Trung (từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên - Huế) được trích dẫn trong Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội:

Hạng mục thiệt hại Số liệu thống kê ghi nhận
Phạm vi không gian ảnh hưởng 4 tỉnh ven biển miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế)
Hải sản tự nhiên chết dạt vào bờ Trên 100 tấn (chủ yếu là các loài hải sản sống ở tầng đáy)
Tàu thuyền khai thác hải sản bị ảnh hưởng 17.682 tàu thuyền
Lao động bị tác động trực tiếp và phụ thuộc 40.966 người trực tiếp; 176.285 người phụ thuộc
Thiệt hại sản lượng khai thác hải sản Ước tính khoảng 1.600 tấn/tháng
Diện tích nuôi tôm bị chết hoàn toàn 5,7 ha (tương đương 9 triệu tôm giống và khoảng 7 tấn tôm thương phẩm)
Lồng nuôi cá bị chết 1.613 lồng nuôi (thể tích khoảng 30.000 m³, tương đương 140 tấn cá)
Diện tích và sản lượng nuôi ngao bị chết 6,7 ha diện tích nuôi ngao (tương đương khoảng 67 tấn ngao)
Diện tích nuôi cua bị chết Trên 10 ha diện tích nuôi cua
Tác động đến ngành du lịch địa phương Khách hủy tour khoảng 50%; công suất phòng giảm 40 - 50% (Hà Tĩnh giảm còn 10 - 20%)

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Định hướng hoàn thiện: Bám sát Nghị quyết của Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, bảo đảm sự tương thích với Luật BVMT năm 2020 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới hệ thống QCKT quốc gia về NTCN nói chung và NTCN đặc thù, tích hợp các thông số ô nhiễm mới (như vi nhựa, chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy) và tính toán theo sức chịu tải của từng vùng biển tiếp nhận.
    • Hoàn thiện các quy định về ĐTM, cấp GPMT và kiểm soát xả thải theo tổng lượng ô nhiễm.
    • Xây dựng cơ chế pháp lý rõ ràng về lượng giá thiệt hại môi trường biển và đơn giản hóa thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm gây ra.
    • Sửa đổi các quy định pháp luật xử lý vi phạm (hành chính, hình sự) nhằm tăng mức phạt tiền, bổ sung các chế tài nghiêm khắc để bảo đảm tính răn đe.
    • Quy định cụ thể thẩm quyền, cơ chế phân cấp và cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương và UBND các tỉnh ven biển.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
    • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đột xuất và ứng dụng công nghệ trong giám sát xả thải tự động, liên tục.
    • Đầu tư mạng lưới trạm quan trắc môi trường biển ven bờ và cửa sông.
    • Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ sạch, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn tái sử dụng nước thải.
    • Mở rộng cơ chế công khai thông tin, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và cơ quan báo chí.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 4 đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Tổng quan một cách hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 3 nhóm vấn đề: lý luận KSONMT biển do NTCN; thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành; định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật.
  2. Bổ sung và làm sâu sắc hơn hệ thống lý luận pháp lý về KSONMT biển do NTCN, bao gồm việc xây dựng các định nghĩa chuẩn xác về ONMT biển do NTCN, KSONMT biển do NTCN và pháp luật KSONMT biển do NTCN; luận giải các đặc điểm, nguyên tắc điều chỉnh và các yếu tố chi phối việc xây dựng pháp luật trong lĩnh vực này.
  3. Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật KSONMT biển do NTCN tại Việt Nam dựa trên nền tảng Luật BVMT năm 2020, chỉ ra các thành tựu, các điểm nghẽn về thể chế, quy chuẩn kỹ thuật và các bất cập trong quản lý xả thải thực tế.
  4. Xác định các định hướng khoa học và đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể, khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý đối với các biện pháp pháp lý KSONMT biển do NTCN (phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý vi phạm), không đi sâu nghiên cứu các giải pháp công nghệ kỹ thuật xử lý nước thải hay các công cụ kinh tế chuyên biệt. Dữ liệu thực tiễn và số liệu quan trắc, báo cáo được giới hạn khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2022.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu sau có thể mở rộng đánh giá hiệu quả áp dụng các quy định mới của Luật BVMT năm 2020 sau thời gian dài đi vào đời sống, hoặc nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát ô nhiễm biển xuyên biên giới và các công cụ tài chính môi trường phức hợp trong quản trị kinh tế biển.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh, hệ thống khái niệm chuẩn mực và nguồn tài liệu tổng quan phong phú. Phần cơ sở lý thuyết (Chương 1) và lý luận pháp lý (Chương 2) là nguồn trích dẫn chuyên khảo hữu ích.
  • Đối với giảng viên và các cơ sở đào tạo luật học: Cung cấp học liệu phục vụ giảng dạy các học phần Luật Môi trường, Luật Biển, Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm và Quản trị tài nguyên biển.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, UBND các tỉnh, thành phố ven biển): Cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn tại Chương 3 và hệ thống kiến nghị sửa đổi quy chuẩn, hoàn thiện quy định cấp phép, thanh tra và chế tài bồi thường thiệt hại tại Chương 4 để phục vụ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa như thế nào về ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp?

Ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp được luận án xác định là sự biến đổi thành phần nước biển theo chiều hướng xấu đi không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường do hành vi xả thải nước thải công nghiệp chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào môi trường biển, làm ảnh hưởng đến đời sống của con người, đến hệ sinh thái biển, tự nhiên và các hoạt động khác có liên quan đến biển.

2. Sự cố môi trường Formosa Hà Tĩnh năm 2016 gây ra những thiệt hại thực tế cụ thể nào được luận án trích dẫn?

Theo Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội được luận án dẫn dụng, sự cố Formosa gây thiệt hại tại 4 tỉnh miền Trung: trên 100 tấn hải sản tự nhiên chết dạt vào bờ; ảnh hưởng 17.682 tàu thuyền với 40.966 lao động trực tiếp và 176.285 người phụ thuộc; sản lượng khai thác ven bờ thiệt hại ước tính khoảng 1.600 tấn/tháng; làm chết 5,7 ha diện tích nuôi tôm (9 triệu tôm giống, 7 tấn tôm thương phẩm), 1.613 lồng nuôi cá (khoảng 140 tấn cá), 6,7 ha nuôi ngao (khoảng 67 tấn) và trên 10 ha nuôi cua; làm sụt giảm 50% lượng khách du lịch và giảm 40 - 50% công suất phòng khách sạn (tại Hà Tĩnh chỉ còn 10 - 20%).

3. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp điều chỉnh những nội dung trụ cột nào?

Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp điều chỉnh 5 nội dung cơ bản gồm: hoạt động phòng ngừa ô nhiễm; hoạt động phát hiện ô nhiễm; hoạt động ngăn chặn ô nhiễm; hoạt động khắc phục sự cố ô nhiễm; và hoạt động xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường.

4. Năm lý thuyết nghiên cứu nền tảng được tác giả sử dụng trong luận án gồm những lý thuyết nào?

Năm lý thuyết nghiên cứu được luận án áp dụng gồm: Lý thuyết về đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người; Lý thuyết về đảm bảo sự phát triển bền vững; Lý thuyết về ưu tiên hoạt động phòng ngừa; Lý thuyết kinh tế tuần hoàn; và Lý thuyết người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle).

5. Những bất cập chủ yếu của các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp hiện nay là gì?

Luận án chỉ ra rằng đa số quy chuẩn kỹ thuật về nước thải công nghiệp đã ban hành hơn 10 năm (như QCVN 40:2011/BTNMT) nên nhiều thông số đã lạc hậu; quy định hiện hành chỉ mới căn cứ vào lưu lượng hoặc dung tích nguồn tiếp nhận mà chưa tính toán đầy đủ đến tính chất, sức chịu tải và khả năng tự làm sạch của từng vùng biển, lưu vực; đồng thời thiếu vắng các quy định cụ thể về thời điểm xả thải và tổng lượng thải cho phép.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Thu Thủy là công trình nghiên cứu chuyên khảo pháp lý toàn diện về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh thực thi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Công trình đã làm sáng tỏ hệ thống lý luận khoa học, chỉ ra các bất cập lớn trong hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế giám sát nguồn thải và phân cấp quản lý nhà nước qua các dẫn chứng thực tiễn xác thực. Các nhóm giải pháp hoàn thiện lập pháp và nâng cao hiệu lực thi hành được đề xuất có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản lý nhà nước và phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.