Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Bùi Đức Hiển, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Hữu Nghị, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 62.07).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Môi trường không khí là thành phần thiết yếu duy trì sự sống và phát triển của con người cùng hệ sinh thái. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mở cửa và thu hút đầu tư tại Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đã thúc đẩy nhiều nhà máy, xí nghiệp hình thành nhưng sự phát triển thiếu quy hoạch đồng bộ trong thời gian dài đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Tác giả dẫn chứng báo cáo thường niên về môi trường do các trường đại học của Mỹ thực hiện và công bố tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos (Thụy Sĩ), xếp Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có chất lượng không khí ô nhiễm nhất thế giới. Thực trạng ô nhiễm tập trung nghiêm trọng tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, các khu công nghiệp và làng nghề.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là các quy định pháp luật hiện hành trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 còn mang tính chung chung, phân tán, thiếu tính hệ thống, chưa làm rõ nội hàm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; quy định đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với không khí còn kẽ hở; thiếu các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải; thiếu cơ chế xác định thiệt hại đối với môi trường không khí; hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí còn lạc hậu so với khu vực và chưa ban hành quy chuẩn riêng cho môi trường không khí trong nhà hay lĩnh vực nông nghiệp. Trước thời điểm nghiên cứu, tại Việt Nam chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Khu vực / Phạm vi Hiện trạng thông số ô nhiễm Dữ liệu và cảnh báo trong văn bản
Toàn quốc Mức độ ô nhiễm không khí tổng quát Nằm trong nhóm 10 quốc gia có không khí ô nhiễm nhất thế giới (theo công bố tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos)
TP. Hồ Chí Minh Ven đường giao thông Nồng độ khí CO tăng 1,44 lần; nồng độ bụi PM10 (kích thước < 10 μm) tăng 1,07 lần
Hà Nội Phát thải bụi lơ lửng Dự báo nếu không có biện pháp xử lý, nồng độ bụi có thể đạt 200 mg/m³ vào năm 2020, gấp 10 lần mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân và bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành.

Luận án xác lập 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích nhận thức lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí (khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò, mục đích, chủ thể, đối tượng, công cụ, nội dung và tiêu chí điều chỉnh pháp luật).
  2. Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam, chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
  3. Phân tích thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay.
  4. Đề xuất các kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam trong điều kiện mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; các quan điểm, học thuyết khoa học pháp lý về kiểm soát ô nhiễm môi trường; cùng các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Lãnh thổ Việt Nam, có liên hệ so sánh với các cam kết khu vực, điều ước quốc tế và quy định của một số quốc gia.
    • Thời gian: Tập trung vào giai đoạn hiện tại (thời điểm tác giả hoàn thành nghiên cứu năm 2016).
    • Nội dung: Tập trung vào quan hệ pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí, xem xét mối quan hệ với ứng phó biến đổi khí hậu như một nội dung cấu thành, không đi sâu vào toàn bộ hệ thống pháp luật về ứng phó biến đổi khí hậu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước thành 4 nhóm vấn đề chính:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nhóm nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung:
    • Các định nghĩa từ Từ điển Merriam-Webster, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Ngân hàng Thế giới (WB).
    • Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học Luật Hà Nội (các ấn bản năm 2007, 2011, 2014) xác định kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp hoạt động của Nhà nước, tổ chức, cá nhân nhằm loại trừ tác động xấu, phòng ngừa, khắc phục hậu quả.
    • Luận án tiến sĩ của Lưu Ngọc Tố Tâm về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải.
    • Dự án điều tra, khảo sát của Cục Kiểm soát ô nhiễm – Tổng cục Môi trường về bộ tiêu chí khoanh vùng ô nhiễm.
  2. Nhóm nghiên cứu lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí:
    • Về xuất xứ thuật ngữ: Khảo sát cho thấy thuật ngữ xuất hiện trên thế giới từ những năm 1960 của thế kỷ XX và được ghi nhận lần đầu tại Việt Nam trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
    • Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Duyên Thủy nghiên cứu khái niệm ô nhiễm không khí dựa trên sự biến đổi thành phần và vi phạm tiêu chuẩn môi trường.
    • Các tài liệu khí tượng quốc tế: Stepplan Keckes cảnh báo mực nước biển có thể dâng 1,5 – 3,5 m trong 30 năm nếu không ngăn hiệu ứng nhà kính; G.Plass đưa ra dự báo nhiệt độ trung bình Trái Đất tăng 3,6°C (mỗi thập kỷ tăng 0,3°C); tỷ lệ đóng góp gây hiệu ứng nhà kính gồm CO₂ (50%), CFCs (22%), CH₄ (13%), Nitơ (5%), hơi nước tầng bình lưu (3%).
    • Đề tài của Hà Thị Phương Ngọc và đề tài của Nguyễn Kim Thoa làm rõ đặc thù của môi trường không khí: không có biên giới phân chia, không thể xác lập quyền sở hữu riêng, tác động sức khỏe mang tính dài hạn.
  3. Nhóm nghiên cứu về thực trạng quy định pháp luật:
    • Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật: Nghị định số 21/2008/NĐ-CP chuyển đổi tiêu chuẩn bắt buộc thành quy chuẩn kỹ thuật theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006; đề tài của Trần Thị Thúy về khía cạnh pháp lý tiêu chuẩn không khí.
    • Đánh giá tác động môi trường (ĐTM): Đạo luật Chính sách Môi trường Quốc gia của Hoa Kỳ năm 1970; Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 của Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Võ Trung Tín (2005) về ĐTM.
    • Quản lý nhà nước và công cụ kinh tế: Công trình của Ban Khoa giáo Trung ương và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2001); công trình của Chu Hoa về công cụ kinh tế; công trình của Phạm Ngọc Đăng về quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp.
    • Trách nhiệm pháp lý: Công trình của Bùi Kim Hiếu (trách nhiệm bồi thường thiệt hại); PGS. Phạm Văn Lợi (tội phạm môi trường theo Bộ luật Hình sự sửa đổi 2009); PGS. Phạm Hữu Nghị (xử lý cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng qua các vụ việc Vedan, Thạch Sơn; tranh luận về việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân).
  4. Nhóm nghiên cứu về hạn ngạch khí thải và kiểm soát ô nhiễm tầm xa:
    • Báo cáo Climate Change in Asia: Viet Nam country report (ADB, 1994); các nghiên cứu quốc tế của Christine Kaufmann, Rolf H. Weber, Scott Lyness (2010), Richard Hildreth, Alison Torbitt (2010), Jean-Charles Bancal, Julia Kalfon (2009) về cơ chế CDM và Đạo luật Không khí sạch (Clean Air Act); Philippe Sands (1995) về kỹ thuật kiểm soát ô nhiễm không khí.
    • Tại Việt Nam: Bài viết của Nguyễn Phúc Thủy Hiền (2001) về kiểm soát ô nhiễm tầm xa; Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Hảo (2012) về CDM; Đề tài của TS. Phạm Văn Võ (2013) về xu hướng biến đổi khí hậu.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả xác định 9 khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết:

  1. Thiếu một quan niệm đầy đủ về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tiếp cận từ nội hàm chuyên sâu của thuật ngữ.
  2. Chưa có công trình phân tích nguồn gốc lịch sử sự ra đời của thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
  3. Chưa phân biệt rạch ròi giữa thuật ngữ "kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí" và "bảo vệ môi trường không khí".
  4. Chưa xác định hệ thống tiêu chí để đánh giá và định hướng điều chỉnh pháp luật đối với môi trường không khí.
  5. Các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào công cụ hành chính mệnh lệnh, chưa đi sâu vào công cụ kinh tế, thị trường và xã hội.
  6. Một số nghiên cứu trước đã lạc hậu so với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và pháp luật thực định mới.
  7. Chưa giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa chế tài hành chính, dân sự, hình sự và tranh luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với hành vi làm ô nhiễm không khí.
  8. Thiếu các nghiên cứu so sánh pháp luật chuyên sâu với các đạo luật không khí sạch trên thế giới để định hướng cho Việt Nam.
  9. Chưa có công trình nào đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp mang tính đồng bộ, toàn diện hướng tới việc xây dựng một đạo luật riêng về không khí sạch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống lý thuyết nền tảng

Luận án vận dụng 4 lý thuyết nghiên cứu chính:

  • Lý thuyết kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí dựa trên coi trọng phòng ngừa là chính: Nhấn mạnh việc xử lý ngay tại nguồn phát thải trước khi chất ô nhiễm phát tán vào khí quyển.
  • Lý thuyết kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí để bảo đảm phát triển bền vững quốc gia: Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và duy trì chất lượng môi trường sống.
  • Lý thuyết kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu: Kiểm soát các nguồn xả thải khí nhà kính và các chất làm suy giảm tầng ozon.
  • Lý thuyết kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nhằm bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành: Tiếp cận từ quyền con người cơ bản đã được hiến định.

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Quan niệm về môi trường không khí, ô nhiễm không khí và các công cụ kiểm soát chưa toàn diện, chưa rõ ràng.
  2. Cơ sở lý luận của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam chưa đầy đủ.
  3. Các quy định pháp luật hiện hành còn bất cập, thiếu sót, tản mạn và thiếu tính hệ thống.
  4. Thực tiễn áp dụng và thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí còn nhiều vướng mắc, hiệu quả thấp.
  5. Chưa có phương hướng dài hạn và thiếu các giải pháp mang tính đặc thù để kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường không khí.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu

Luận án xây dựng 10 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Môi trường không khí, ô nhiễm môi trường không khí là gì, tác hại ra sao và kiểm soát bằng công cụ gì?
  2. Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là gì (nội hàm, chủ thể, đối tượng, phương tiện, mục đích)?
  3. Đặc điểm đặc thù của kiểm soát ô nhiễm không khí phân biệt với môi trường đất, nước là gì?
  4. Xuất xứ thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí từ khi nào, khác gì với bảo vệ môi trường không khí?
  5. Lý thuyết điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí gồm những gì?
  6. Tiêu chí nào dùng để đánh giá sự điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí?
  7. Pháp luật quốc tế và một số nước quy định như thế nào về kiểm soát ô nhiễm không khí?
  8. Thực trạng các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam ra sao?
  9. Thực tiễn áp dụng và thực hiện các quy định pháp luật ở Việt Nam như thế nào?
  10. Quan điểm, yêu cầu và giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí?

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế, hành vi xả thải của con người với sự suy thoái môi trường không khí và biến đổi khí hậu.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ văn bản quy phạm pháp luật, các quan điểm lý luận và số liệu thực tế.
    • Phương pháp so sánh pháp luật: Áp dụng trong Chương 1, Chương 2 và Chương 3 để so sánh các khái niệm, quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và các nước.
    • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Dùng để khái quát hóa các nhận định lý luận từ thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật.
    • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia, tọa đàm: Áp dụng tại Chương 2 và Chương 4 nhằm xác định tiêu chí điều chỉnh pháp luật và định hướng giải pháp hoàn thiện.
    • Phương pháp thống kê, điều tra: Dùng trong Chương 3 để thu thập, đánh giá số liệu thực trạng ô nhiễm từ các báo cáo chính thức.
  • Nguồn tư liệu/dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp 1980, Luật Bảo vệ môi trường 1993, 2005, 2014, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 2006, các nghị định và thông tư liên quan); các điều ước quốc tế (Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu - UNFCCC, Nghị định thư Kyoto, Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozon); báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường, số liệu quan trắc tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

Chương này tập trung tổng quan hệ thống các tài liệu học thuật theo 4 nhóm chủ đề; chỉ ra những kết quả đã đạt được làm nền tảng kế thừa, đồng thời xác định 9 khoảng trống nghiên cứu mà các công trình trước đó chưa làm rõ. Trên cơ sở đó, tác giả luận giải và thiết lập khung lý thuyết gồm 10 câu hỏi nghiên cứu, 4 lý thuyết tiếp cận và 5 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường không khí và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

Chương 2 xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và sự điều chỉnh của pháp luật:

  • Khái niệm: Tác giả định nghĩa Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải và các chủ thể khác trong phòng ngừa, dự báo; theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện những tác động đến môi trường không khí, hiện trạng môi trường không khí, sự biến đổi của môi trường không khí so với quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí; ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm, cải tạo phục hồi hiện trạng môi trường không khí; xử lý các hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí nhằm đảm bảo cho môi trường không khí được trong lành, sạch đẹp.
  • Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí: Là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động phòng ngừa, dự báo, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm không khí của các chủ thể.
  • 6 đặc điểm đặc thù của kiểm soát ô nhiễm không khí:
    1. Phải kiểm soát ngay tại nguồn: Do không khí có tính khuếch tán và phát tán nhanh, việc kiểm soát phát thải trước khi thoát ra môi trường là yêu cầu mang tính quyết định.
    2. Đòi hỏi tính liên kết, hợp tác liên vùng và quốc tế: Môi trường không khí không có biên giới hành chính, ô nhiễm khí quyển và biến đổi khí hậu tác động trên quy mô toàn cầu.
    3. Khẳng định trách nhiệm hàng đầu của Nhà nước và chủ nguồn thải: Không khí thuộc sở hữu chung của toàn xã hội, không thuộc sở hữu riêng của cá nhân nào, dễ dẫn đến hiện tượng vô trách nhiệm ("cha chung không ai khóc").
    4. Nhấn mạnh giá trị sức khỏe và sinh tồn: Giá trị kinh tế của không khí không biểu hiện trực tiếp như đất, nước nên kiểm soát phải dựa trên giá trị duy trì sự sống lâu dài.
    5. Tính chủ quan, bị động trong nhận thức: Ô nhiễm không khí ngấm dần và tác động tích tụ lâu dài, ít gây ra hậu quả cấp tính tức thì nên dễ bị coi nhẹ.
    6. Yêu cầu bắt buộc về ứng dụng khoa học công nghệ: Không thể kiểm tra không khí bằng mắt thường hoặc lấy mẫu tĩnh đơn thuần mà phải thông qua hệ thống trạm quan trắc tự động và thiết bị đo đạc chuyên dụng.
Tiêu chí so sánh Bảo vệ môi trường không khí Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
Khái niệm chung Hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu; ứng phó sự cố; khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên. Quá trình phòng ngừa, dự báo, theo dõi, giám sát, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm so với quy chuẩn kỹ thuật.
Nội hàm Rộng hơn; bao gồm phòng ngừa, cải thiện chất lượng, bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững tài nguyên. Chuyên sâu, chặt chẽ hơn; tập trung xoay quanh quy trình kiểm soát các nguồn phát thải và phục hồi hiện trạng.
Chủ thể tham gia Trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hội, mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Nhấn mạnh trực tiếp vào trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ nguồn thải.
Biện pháp thực hiện Áp dụng tổng hợp: chính trị, tuyên truyền, giáo dục, kinh tế, khoa học công nghệ và pháp lý. Sử dụng chủ yếu biện pháp pháp lý mang tính cưỡng chế, kết hợp các công cụ kinh tế và yếu tố thị trường.
Cơ sở pháp lý Dựa trên hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về môi trường, đa dạng sinh học và tài nguyên. Dựa trực tiếp vào hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí làm thước đo xác định vi phạm.
Hướng tiếp cận Vừa phòng ngừa, vừa thúc đẩy phát triển, tái tạo và nâng cao chất lượng môi trường. Tập trung trọng tâm vào việc giữ gìn hiện trạng không để vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật cho phép.
  • Phân tích các công cụ kiểm soát: Tuyên truyền giáo dục chỉ tác động ý thức nhưng khó ngăn cản hành vi chạy theo lợi nhuận; khoa học công nghệ đòi hỏi chi phí đầu tư lớn; công cụ kinh tế (thuế, phí, hạn ngạch phát thải, chứng chỉ ISO 14001, cơ chế CDM) dùng lợi ích vật chất để định hướng hành vi nhưng phải được luật hóa; do đó công cụ pháp lý giữ vai trò then chốt vì có tính bắt buộc, xác lập thẩm quyền, nghĩa vụ và quy định chế tài xử lý nghiêm minh.
  • 5 nguyên tắc điều chỉnh pháp luật: Bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành; bảo đảm phát triển bền vững; xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường; người gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm pháp lý; tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực.
  • 5 tiêu chí điều chỉnh pháp luật: Tính dự báo và cảnh báo; tính phòng ngừa rủi ro; tính nhanh chóng và kịp thời; tính cộng đồng trách nhiệm; tính liên kết vùng, quốc gia và quốc tế.
  • Tổng quan công ước quốc tế: Phân tích cam kết của Việt Nam trong UNFCCC, Nghị định thư Kyoto và Công ước bảo vệ tầng ozon.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay

Chương này đánh giá toàn diện hệ thống quy định thực định và thực tiễn thi hành:

  • Thực trạng quy chuẩn kỹ thuật: Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí phân định giữa quy chuẩn chất lượng không khí xung quanh và quy chuẩn khí thải công nghiệp/giao thông; chỉ ra sự thiếu hụt quy chuẩn không khí trong nhà và quy chuẩn khí thải trong hoạt động nông nghiệp.
  • Thực trạng quy định phòng ngừa, dự báo: Phân tích quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) và đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Tác giả chỉ ra các kẽ hở pháp lý khiến nhiều cơ sở sản xuất lách luật để không phải lập báo cáo ĐTM hoặc việc tham vấn cộng đồng dân cư còn mang tính hình thức.
  • Thực trạng quy định phát hiện ô nhiễm: Đánh giá mạng lưới quan trắc chất lượng không khí, hoạt động kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và cơ chế công khai thông tin môi trường không khí còn thiếu đồng bộ, hạn chế về nguồn lực.
  • Thực trạng quy định ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm: Phân tích nghĩa vụ ứng phó sự cố môi trường không khí, quy trình xử lý khẩn cấp và các biện pháp phục hồi hiện trạng môi trường khi xảy ra sự cố.
  • Thực trạng quy định về xử lý hành vi vi phạm: Đánh giá việc áp dụng 4 loại chế tài: hành chính, hình sự, dân sự (bồi thường thiệt hại) và kỷ luật. Phân tích thực tiễn các vụ việc ô nhiễm nghiêm trọng (như vụ Vedan, ô nhiễm tại Thạch Sơn) để chỉ ra khó khăn trong việc xác định hành vi vi phạm, chứng minh mối quan hệ nhân quả và định lượng thiệt hại do ô nhiễm không khí; phân tích sự bất cập khi chưa truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân tại thời điểm nghiên cứu.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Nhu cầu và quan điểm hoàn thiện: Đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do (ASEAN, WTO, TPP, Liên minh kinh tế Á - Âu).
  • Các nhóm giải pháp lập pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí: Cập nhật các thông số tiệm cận chuẩn quốc tế, ban hành quy chuẩn không khí trong nhà và nông nghiệp.
    2. Bổ sung các công cụ kinh tế: Luật hóa quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải công nghiệp và phương tiện giao thông; xây dựng cơ chế phân bổ và trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
    3. Hoàn thiện quy định về ĐTM và kiểm soát nguồn thải: Nâng cao chất lượng thẩm định ĐTM, quy định chặt chẽ việc kiểm soát cả nguồn thải tĩnh (nhà máy, khu công nghiệp) và nguồn thải động (phương tiện giao thông).
    4. Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm: Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính, hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại môi trường không khí, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội về môi trường.
    5. Định hướng dài hạn: Chuẩn bị các luận cứ khoa học để xây dựng một đạo luật chuyên ngành độc lập – Luật Không khí sạch (hoặc Luật Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí) tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  • Xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí dựa trên nội hàm của thuật ngữ "kiểm soát" mang tính chủ động (phòng ngừa, dự báo, giám sát, ngăn chặn, xử lý).
  • Làm sáng tỏ nguồn gốc lịch sử của thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm không khí; thiết lập hệ thống 6 tiêu chí phân biệt rạch ròi giữa "kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí" và "bảo vệ môi trường không khí".
  • Xác lập 5 nguyên tắc điều chỉnh và 5 tiêu chí pháp lý đặc thù cho pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí.
  • Luận giải cơ sở lý luận về việc kết hợp giữa công cụ mệnh lệnh - kiểm soát với các công cụ kinh tế, thị trường và trách nhiệm xã hội.

Đóng góp mới về thực tiễn và chính sách

  • Đánh giá toàn diện các bất cập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: khoảng trống về phí khí thải, hạn chế trong quy chuẩn kỹ thuật, kẽ hở trong quy trình lập và thẩm định ĐTM.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, bao gồm việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và đề xuất lộ trình xây dựng Luật Không khí sạch ở Việt Nam.
  • Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân có hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phân tích hệ thống pháp luật thực định tại thời điểm nghiên cứu (khung khổ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014); do tính chất phức tạp của lĩnh vực khí hậu, luận án chỉ tiếp cận mối liên hệ giữa kiểm soát ô nhiễm không khí với biến đổi khí hậu ở góc độ nguồn phát thải khí nhà kính mà không mở rộng sang toàn bộ chính sách thích ứng và tài chính khí hậu; việc phân tích pháp luật quốc tế chủ yếu mang tính so sánh chọn lọc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Đi sâu nghiên cứu thiết kế khung pháp lý chi tiết cho thị trường trao đổi hạn ngạch phát thải khí thải (carbon market) tại Việt Nam; nghiên cứu cơ cấu điều khoản và soạn thảo dự thảo khung cho Luật Không khí sạch tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo cho Quốc hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan hữu quan trong việc rà soát, sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, xây dựng nghị định về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải, ban hành hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và hoạch định dự án xây dựng Luật Không khí sạch.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là nguồn tài liệu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường tại các cơ sở đào tạo luật.
  • Đối với cơ quan thực thi pháp luật và giải quyết tranh chấp: Cung cấp cơ sở phân tích phục vụ lực lượng thanh tra môi trường, cảnh sát môi trường, tòa án trong việc xác định dấu hiệu vi phạm, áp dụng chế tài và giải quyết các vụ việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí?
Luận án xác định đây là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải và các chủ thể khác trong việc phòng ngừa, dự báo; theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện những tác động và sự biến đổi của không khí so với quy chuẩn kỹ thuật; ngăn chặn, khắc phục, cải tạo phục hồi hiện trạng và xử lý các hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí nhằm bảo đảm môi trường không khí trong lành, sạch đẹp.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và bảo vệ môi trường không khí là gì?
Bảo vệ môi trường không khí có nội hàm rộng hơn, là sự nghiệp của toàn xã hội, áp dụng tổng thể các biện pháp (chính trị, tuyên truyền, giáo dục, pháp lý) nhằm cả mục tiêu bảo tồn và cải thiện môi trường. Trong khi đó, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí có nội hàm chuyên sâu, nhấn mạnh trực tiếp vào trách nhiệm của Nhà nước và nghĩa vụ của chủ nguồn thải, sử dụng chủ yếu biện pháp pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật để kiểm soát các tác nhân gây ô nhiễm ngay tại nguồn.

3. Luận án đề xuất những tiêu chí nào để đánh giá sự điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí?
Tác giả đề xuất 5 tiêu chí: (1) Tính dự báo, cảnh báo; (2) Tính phòng ngừa rủi ro phát sinh; (3) Tính nhanh chóng, kịp thời; (4) Tính cộng đồng trách nhiệm; (5) Tính liên kết hợp tác vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế.

4. Vì sao công cụ pháp lý được coi là giữ vai trò then chốt trong kiểm soát ô nhiễm không khí?
Vì công cụ tuyên truyền chỉ tác động nhận thức nhưng không ngăn được hành vi vi phạm vì lợi nhuận; công cụ công nghệ đòi hỏi chi phí lớn; công cụ kinh tế muốn vận hành được đều phải được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật. Pháp luật quy định rõ thẩm quyền, nghĩa vụ bắt buộc và đi kèm các chế tài cưỡng chế nhà nước (hành chính, hình sự, dân sự) để bảo đảm thực thi.

5. Luận án chỉ ra những thiếu sót lớn nào trong quy định pháp luật Việt Nam thời điểm nghiên cứu?
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 còn quy định chung chung; thiếu quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải; thiếu cơ chế cụ thể để xác định thiệt hại đối với môi trường không khí; quy trình ĐTM còn kẽ hở; hệ thống quy chuẩn kỹ thuật thiếu quy chuẩn cho môi trường không khí trong nhà và nông nghiệp.


Kết luận

Luận án "Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam" của tác giả Bùi Đức Hiển là công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, giải quyết toàn diện các vấn đề từ lý luận đến thực tiễn lập pháp và thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí. Tác giả đã chuẩn hóa hệ thống khái niệm, xác định đặc thù, nguyên tắc và tiêu chí điều chỉnh pháp luật dựa trên tính chất khuếch tán không biên giới của môi trường không khí. Các phân tích thực trạng đã chỉ rõ những kẽ hở của hệ thống pháp luật thực định, làm căn cứ đề xuất các giải pháp lập pháp đồng bộ, trong đó trọng tâm là hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật, bổ sung công cụ kinh tế và hướng tới xây dựng Luật Không khí sạch tại Việt Nam.