Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Anh Đào thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Hữu Nghị, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 62.01), bảo vệ năm 2013.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức môi trường nghiêm trọng. Nhằm kiểm soát ô nhiễm, Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật với nhiều biện pháp, trong đó biện pháp hành chính theo phương thức "Mệnh lệnh - kiểm soát" (Command and Control - CAC) đóng vai trò chủ yếu. Tuy nhiên, phương thức này mang tính mệnh lệnh đơn phương từ cơ quan công quyền, thiếu linh hoạt, chưa tạo động lực kinh tế để các chủ thể sản xuất kinh doanh tự giác lựa chọn phương án giảm thiểu ô nhiễm tối ưu, đồng thời khiến hoạt động bảo vệ môi trường bị nhìn nhận như công việc riêng của Nhà nước thay vì toàn xã hội.

Trong bối cảnh chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường, các công cụ kinh tế (Economic Instruments - CCKT) vận hành dựa trên cơ chế giá cả và đòn bẩy lợi ích vật chất, giúp điều chỉnh hành vi xả thải một cách mềm dẻo, tiết kiệm chi phí xã hội và tạo lập nguồn thu để tái đầu tư cho môi trường. Mặc dù đường lối của Đảng (Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013) và Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia (Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg) đã xác định chủ trương đẩy mạnh công cụ kinh tế, các công trình khoa học trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế học, tài chính môi trường hoặc phân tích các công cụ đơn lẻ (như thuế môi trường, phí nước thải, ký quỹ khai thác khoáng sản). Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là thiếu vắng một công trình khoa học chuyên sâu, có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ phân tích toàn diện cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quy phạm và cơ chế thực thi của hệ thống pháp luật về công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực thi các công cụ này ở Việt Nam; từ đó đề xuất quan điểm, yêu cầu và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
    1. Làm rõ khái niệm công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường và khái niệm pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường.
    2. Xác định các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ phù hợp và các yêu cầu đặt ra đối với hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này.
    3. Phân tích nội dung quy định pháp luật và thực trạng thực thi đối với 4 nhóm công cụ: nhóm chính sách tài trợ (Ngân sách nhà nước, Quỹ bảo vệ môi trường); nhóm kích thích lợi ích kinh tế (thuế, phí bảo vệ môi trường); nhóm nâng cao trách nhiệm xã hội (ký quỹ phục hồi môi trường, đặt cọc - hoàn trả, nhãn sinh thái); và nhóm chế tài xử phạt hành chính gắn với tài chính.
    4. Đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu và các nhóm giải pháp (chung và cụ thể) nhằm hoàn thiện pháp luật về công cụ kinh tế bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập 3 nhóm câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu chính:

  1. Về lý luận: Công cụ kinh tế và pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là gì, có đặc điểm, vai trò, nguyên tắc và tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp như thế nào? Giả thuyết cho rằng nhận thức lý luận và nội hàm pháp lý về các công cụ kinh tế còn thiếu đồng bộ, đòi hỏi phải được hệ thống hóa chuẩn xác.
  2. Về thực định: Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và kết quả thực thi các nhóm công cụ kinh tế tại Việt Nam đang bộc lộ những hạn chế, bất cập nào và nguyên nhân do đâu? Giả thuyết xác định hệ thống quy phạm còn phân tán, mức thu chưa bảo đảm tính bù đắp và răn đe, cơ chế phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm còn nhiều điểm nghẽn.
  3. Về giải pháp: Cần xác lập những quan điểm, yêu cầu và giải pháp nào để sửa đổi, hoàn thiện pháp luật? Giả thuyết hướng tới việc xây dựng khung pháp lý toàn diện, đồng bộ, minh bạch, phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và định hướng phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan niệm lý luận về công cụ kinh tế và pháp luật sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; các học thuyết và nguyên tắc pháp lý môi trường (nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" - PPP, nguyên tắc "Người hưởng thụ phải trả tiền" - BPP); các quy định pháp luật thực định của Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh các công cụ kinh tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (thuế, phí, quỹ môi trường, ký quỹ, chế tài xử phạt) và thực tiễn thi hành.
    • Về không gian: Khảo sát trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, đặt trong sự so sánh, tham chiếu có chọn lọc với kinh nghiệm pháp luật của các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và một số nước đang phát triển.
    • Về thời gian: Phân tích hệ thống văn bản pháp luật và dữ liệu thực thi chủ yếu từ khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đến thời điểm năm 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả đã điểm luận các công trình nghiên cứu quốc tế xoay quanh việc ứng dụng công cụ kinh tế và nguyên tắc PPP/BPP:

  • Jean-Philippe Barde (1994) với công trình "Economic instrument in Environmental policy: Lessons from OECD, experience and relevance to Economies in transition" (OECD) phân tích thực tiễn triển khai hơn 150 loại công cụ kinh tế tại các nước OECD, khẳng định xu hướng chuyển dịch từ phương pháp quản lý thuần túy sang sử dụng đòn bẩy thị trường.
  • Dragoljub Todic (2005) với công trình "Economic instruments in environmental policy and law with a short review of Serbia and Montenegro" tiếp cận chi phí ô nhiễm như một cấu phần của chi phí sản xuất và phân tích hạn chế áp dụng công cụ kinh tế tại các nền kinh tế đang chuyển đổi do rào cản công nghệ.
  • Firuz Demir Yasamis (2011) trong bài viết "Economic instruments of environmental management" làm rõ sự tương phản giữa cơ chế phát tín hiệu gián tiếp của công cụ kinh tế và mệnh lệnh trực tiếp của công cụ CAC, chứng minh lợi thế tiết kiệm chi phí quản lý khi áp dụng công cụ kinh tế.
  • Agnieszka Laskowska và Frank Scrimgeour trong nghiên cứu "Environmental taxation: The European experience" tổng kết kinh nghiệm áp dụng thuế năng lượng, thuế nhiên liệu, thuế vận tải và thuế sinh thái tại Tây Âu và Đông Âu.
  • Các công trình chuyên khảo khác của David Pearce & R. Kerry Turner, Patrik Söderholm, Garrod G. (1999), Mullan K. & Swanson T. (2009), Sterner T. (2003), và Randall A. Bluffstone về định giá kinh tế tài nguyên, thị trường hạn ngạch phát thải và cải cách thuế môi trường.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Tình hình nghiên cứu trong nước được luận án phân thành ba nhóm công trình:

  1. Nhóm nghiên cứu chung về kinh tế hóa môi trường: Cuốn sách "Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (NXB Tư pháp, 2011) do PGS. Phạm Văn Lợi chủ biên; công trình của GS.TS Lâm Minh Triết, ThS. Nguyễn Thanh Hùng, ThS. Nguyễn Thị Thanh My về kinh tế môi trường tại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; luận văn của Phan Thụy Tường Vi về xu thế thương mại hóa môi trường.
  2. Nhóm nghiên cứu về từng công cụ kinh tế cụ thể: Sách "Thuế môi trường" (2006) do TS. Bùi Đường Nghiêu chủ biên; nghiên cứu của TS. Benoit Laplante và luận văn của Nguyễn Thanh Tú về phí nước thải; bài viết của Jung Gun Young về hệ thống phí theo khối lượng rác thải tại Hàn Quốc; các bài viết của ThS. Nguyễn Văn Phương về ký quỹ, TS. Vũ Thu Hạnh về chế tài tài chính, KS. Đặng Dương Bình về phí môi trường, Nguyễn Nam Phương về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Lý về nhãn sinh thái, ThS. Nguyễn Văn Cương về côta phát thải tại Hoa Kỳ, TS. Võ Đình Toàn và NCS Nguyễn Quang Tuấn - ThS. Lê Thị Thảo về Luật Thuế bảo vệ môi trường.
  3. Nhóm nghiên cứu tổng quan về áp dụng công cụ kinh tế: Sách của Trần Thanh Lâm (2006, 2009) về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế; sách "Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam" (2011) do TS. Đỗ Nam Thắng chủ biên; các bài viết của ThS. Dương Thanh An, CN. Nguyễn Hưng Thịnh, ThS. Vũ Đình Nam (2007), ThS. Lê Thị Thảo và ThS. Nguyễn Quang Tuấn (2011).
Nhóm nghiên cứu Trọng tâm nội dung đã thực hiện Hạn chế / Điểm còn thiếu
Nghiên cứu quốc tế Khung lý thuyết kinh tế thị trường, kinh nghiệm vận hành thuế, phí, hạn ngạch tại OECD. Chưa gắn với đặc thù thể chế pháp lý và trình độ phát triển của Việt Nam.
Kinh tế môi trường trong nước Bản chất kinh tế, phân tích chi phí - lợi ích (CBA), đánh giá diễn biến môi trường. Ít đi sâu vào cấu trúc quy phạm, thẩm quyền, thủ tục và cơ chế xử lý vi phạm pháp luật.
Từng công cụ kinh tế đơn lẻ Đánh giá thực trạng một loại thuế, phí nước thải hoặc ký quỹ khoáng sản cụ thể. Mang tính cục bộ, chưa đặt trong chỉnh thể hệ thống pháp luật điều chỉnh công cụ kinh tế.

Khoảng trống luận án giải quyết

Từ tổng quan trên, tác giả nhận định các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở mô tả quy định hoặc tiếp cận dưới giác độ kinh tế học. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về mặt pháp lý cho việc sử dụng các công cụ kinh tế; khảo cứu toàn diện hệ thống quy phạm từ chính sách tài trợ, công cụ tạo nguồn thu, công cụ trách nhiệm đến chế tài xử phạt; chỉ rõ các xung đột, bất cập pháp lý và đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp, hành pháp đồng bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các nguyên tắc nền tảng

Luận án dựa trên nền tảng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013, Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg), cùng các nguyên tắc và lý thuyết pháp lý - kinh tế môi trường:

  • Nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" (PPP): Được OECD thông qua năm 1972, xác định môi trường là một loại hàng hóa công có giới hạn; chi phí sử dụng tài nguyên và xử lý ô nhiễm phải được nội hóa đầy đủ vào giá thành sản phẩm và dịch vụ của chủ thể xả thải.
  • Nguyên tắc "Người hưởng thụ phải trả tiền" (BPP): Chủ thể hưởng lợi từ môi trường trong lành hoặc từ các công trình cải tạo chất lượng môi trường có trách nhiệm đóng góp tài chính để duy trì, tái tạo các giá trị đó.
  • Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế: Sử dụng các biện pháp tài chính (ưu đãi, miễn giảm, hỗ trợ vay vốn hoặc tăng chi phí xả thải) để biến việc tuân thủ pháp luật môi trường thành hành vi tự giác, đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho doanh nghiệp.
  • Nguyên tắc sử dụng nguồn tài chính tập trung: Quy định việc quản lý, phân bổ nguồn thu từ ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp môi trường (Điều 110 Luật Bảo vệ môi trường 2005, Điều 31 Luật Ngân sách nhà nước 2002) và Quỹ Bảo vệ môi trường theo đúng chế độ kế toán, tài chính công.

Tiêu chí xác định mức độ phù hợp của pháp luật

Luận án xây dựng 4 tiêu chí cơ bản để đánh giá tính hiệu quả và mức độ phù hợp của pháp luật về công cụ kinh tế:

  1. Tính toàn diện: Bao quát đầy đủ các quan hệ phát sinh từ hoạt động tài trợ, điều tiết lợi ích, nâng cao trách nhiệm xã hội và chế tài xử phạt.
  2. Tính đồng bộ: Không có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa pháp luật môi trường với pháp luật về thuế, phí, ngân sách, khoáng sản và xử lý vi phạm hành chính.
  3. Tính phù hợp: Phù hợp với năng lực tài chính, trình độ công nghệ của doanh nghiệp và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
  4. Kỹ thuật pháp lý cao: Ngôn ngữ pháp lý chuẩn xác, rõ ràng, minh bạch, dễ tiếp cận và khả thi trong thực thi.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp luật thực định và định tính:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Sử dụng xuyên suốt trong Chương 2 và Chương 3 để giải mã cấu trúc quy phạm, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng để phân tích các khía cạnh lý luận, tổng kết thực tiễn và xây dựng các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp luật học so sánh: So sánh kinh nghiệm xây dựng chính sách tài trợ, thuế môi trường và cơ chế ký quỹ của các nước OECD (Pháp, Đức, Ý, Hoa Kỳ) và các nước châu Á để rút ra bài học cho Việt Nam.
  • Phương pháp hệ thống: Đánh giá hệ thống công cụ kinh tế như một chỉnh thể hữu cơ gồm nhiều nhóm công cụ bổ trợ lẫn nhau.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn: Tổng hợp các số liệu thực tế về thu nộp phí nước thải, phí chất thải rắn, ký quỹ phục hồi môi trường và công tác thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Khảo sát quá trình chuyển dịch của pháp luật môi trường qua các thời kỳ từ Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đến thời điểm năm 2013.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án bao gồm:

  • Điều ước quốc tế: Công ước Basel (1995), MARPOL (1991), RAMSAR (1971, 1988), Công ước Đa dạng sinh học (1994), Công ước khung về Biến đổi khí hậu (1994), Nghị định thư Montreal (1987), Công ước Viên (1985), v.v.
  • Văn bản quy phạm pháp luật quốc gia: Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và 2005; Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010; Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999 (sửa đổi 2009); Luật Khoáng sản; các Nghị định số 67/2003/NĐ-CP, Nghị định số 04/2007/NĐ-CP, Nghị định số 26/2010/NĐ-CP, Nghị định số 25/2012/NĐ-CP (về phí nước thải); Nghị định số 174/2007/NĐ-CP (về phí chất thải rắn); Nghị định số 74/2011/NĐ-CP (về phí khoáng sản); Nghị định số 117/2009/NĐ-CP và Nghị định số 179/2013/NĐ-CP (về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường); Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg và Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT (về ký quỹ phục hồi môi trường).
  • Báo cáo tổng kết, số liệu thống kê thực tế từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường và Bộ Tài chính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các công trình nghiên cứu về công cụ kinh tế trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng sau Hội nghị Môi trường con người tại Stockholm (1972) và Hội nghị thượng đỉnh Rio (1992), các quốc gia OECD đã dần thay thế mô hình CAC cứng nhắc bằng các công cụ kích thích thị trường dựa trên nguyên tắc PPP.

Tại Việt Nam, từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 ghi nhận trách nhiệm tài chính của tổ chức, cá nhân tại Điều 7 và Chương XI Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định về nguồn lực bảo vệ môi trường, việc áp dụng công cụ kinh tế đã có bước chuyển biến. Tuy nhiên, các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận theo phân ngành kinh tế hoặc xem xét từng công cụ riêng rẽ. Trên cơ sở đó, Chương 1 xác lập tính độc lập, không trùng lặp của đề tài, thiết lập khung lý thuyết gồm các nguyên tắc PPP, BPP, nguyên tắc đòn bẩy kinh tế và hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Chương 2 tập trung phân tích bản chất lý luận của công cụ kinh tế và pháp luật điều chỉnh công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường:

  • Định nghĩa pháp lý: Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là những công cụ chính sách do pháp luật quy định, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới chi phí và lợi ích của hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng nhằm định hướng hành vi của các chủ thể theo hướng thân thiện với môi trường.
  • Đặc điểm cơ bản: (1) Tính linh hoạt, mềm dẻo, trao quyền lựa chọn phương án kinh tế tối ưu cho chủ thể; (2) Tính hiệu quả về kinh tế và môi trường thông qua cơ chế nội hóa chi phí ngoại ứng vào giá thành; (3) Tính công bằng xã hội; (4) Tính kích thích lợi ích vật chất; (5) Gắn kết trực tiếp nghĩa vụ môi trường với toàn bộ chu trình sản xuất, kinh doanh.
  • Nội hàm pháp luật điều chỉnh: Bao gồm 4 nhóm quan hệ: (1) Pháp luật về chính sách tài trợ (Ngân sách nhà nước, Quỹ bảo vệ môi trường); (2) Pháp luật về công cụ kích thích lợi ích kinh tế (thuế, phí môi trường); (3) Pháp luật về công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội (ký quỹ, đặt cọc - hoàn trả, nhãn sinh thái); (4) Pháp luật về thiết chế thực thi và chế tài xử phạt hành chính gắn liền với yếu tố tài chính.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích 3 hình thức trợ cấp chính tại các nước OECD (trợ cấp không hoàn lại, cho vay lãi suất thấp, ưu đãi thuế) tại Pháp, Đức, Ý, Hoa Kỳ; thực tiễn áp dụng thị trường quyền phát thải (Cap and Trade) và phí phân loại rác tại Hàn Quốc. Từ đó rút ra 3 bài học cho Việt Nam: cần hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ; định giá công cụ kinh tế đủ mức bù đắp chi phí xã hội; kết hợp chặt chẽ công cụ kinh tế với các biện pháp hành chính và truyền thông.
Hệ thống công cụ kinh tế trong BVMT theo Luận án

Chương 3: Thực trạng pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Chương 3 khảo sát, phân tích chuyên sâu thực trạng quy phạm và thực tiễn thực thi 4 nhóm công cụ kinh tế tại Việt Nam:

Thực trạng 4 nhóm công cụ kinh tế tại Việt Nam (Chương 3)
  • Pháp luật về chính sách tài trợ: Nhà nước đã bố trí ngân sách thường xuyên cho sự nghiệp môi trường (bảo đảm tốc độ tăng chi cao hơn tốc độ tăng chi chung của NSNN) và thành lập Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn vốn điều lệ của quỹ còn hạn chế, thủ tục giải ngân vay vốn ưu đãi còn phức tạp, cơ chế tài trợ chưa bao phủ được nhiều dự án xử lý chất thải quy mô vừa và nhỏ.
  • Pháp luật về thuế và phí môi trường:
    • Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 đã tạo cơ sở điều tiết hành vi tiêu dùng đối với túi ni lông, xăng dầu, thuốc bảo vệ thực vật thuộc loại hạn chế sử dụng. Tuy nhiên, danh mục đối tượng chịu thuế chưa bao quát hết các nguồn gây ô nhiễm công nghiệp.
    • Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (Nghị định 67/2003/NĐ-CP, Nghị định 04/2007/NĐ-CP, Nghị định 25/2012/NĐ-CP), phí chất thải rắn (Nghị định 174/2007/NĐ-CP) và phí khai thác khoáng sản (Nghị định 74/2011/NĐ-CP) bước đầu tạo nguồn thu bù đắp chi phí xử lý ô nhiễm. Mặc dù vậy, mức thu phí còn thấp so với chi phí vận hành hệ thống xử lý chất thải thực tế, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp chấp nhận nộp phí thay vì đầu tư công nghệ giảm phát thải; công tác đo đạc, kê khai khối lượng và nồng độ chất thải (BOD, COD) còn gặp nhiều khó khăn về trang thiết bị giám sát.
  • Pháp luật về nâng cao trách nhiệm xã hội: Cơ chế ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản (Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg, Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT) đã ràng buộc trách nhiệm tài chính của tổ chức khai thác trước khi đóng cửa mỏ. Tuy nhiên, việc dự toán chi phí phục hồi mỏ còn thiếu thực tế, tình trạng chậm nộp tiền ký quỹ còn diễn ra. Các công cụ như đặt cọc - hoàn trả và chứng nhận nhãn sinh thái mới dừng ở mức thí điểm, thiếu chế tài pháp lý bắt buộc.
  • Pháp luật về chế tài xử phạt: Khảo sát các quy định xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 117/2009/NĐ-CP, thay thế bằng Nghị định số 179/2013/NĐ-CP) và các tội phạm về môi trường trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi 2009) cho thấy công tác thanh tra, kiểm tra còn mỏng; mức xử phạt tiền tối đa qua nhiều thời kỳ chưa đủ sức răn đe nếu so với lợi nhuận thu được từ việc xả thải trái phép; thẩm quyền xử phạt còn phân tán giữa nhiều lực lượng thanh tra chuyên ngành và chính quyền địa phương.

Chương 4: Quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Quan điểm hoàn thiện: Thể chế hóa đầy đủ đường lối của Đảng (Nghị quyết số 24-NQ/TW); kết hợp hài hòa công cụ kinh tế với công cụ hành chính; bảo đảm tính thị trường, khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường; chủ động hội nhập quốc tế.
  • Mục tiêu và yêu cầu: Hướng tới xây dựng khung pháp lý toàn diện, đồng bộ, minh bạch, khả thi, tạo lập nguồn lực tài chính bền vững cho môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh xanh của nền kinh tế.
  • Hệ thống giải pháp:
    1. Nhóm giải pháp chung: Đổi mới tư duy lập pháp môi trường từ cơ chế can thiệp thuần túy sang định hướng điều tiết thị trường; nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý và thanh tra môi trường; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ tài chính môi trường của doanh nghiệp.
    2. Nhóm giải pháp cụ thể:
      • Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường (dành một chương riêng quy định chi tiết về hệ thống công cụ kinh tế).
      • Hoàn thiện Luật Thuế bảo vệ môi trường: mở rộng đối tượng chịu thuế đối với các hóa chất công nghiệp độc hại, phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; điều chỉnh khung thuế suất bảo đảm tính bù đắp chi phí môi trường.
      • Sửa đổi các nghị định về phí bảo vệ môi trường: tăng mức thu phí nước thải và chất thải rắn tương đương với chi phí vận hành xử lý thực tế; phân định rõ phí môi trường và giá dịch vụ xử lý chất thải.
      • Hoàn thiện cơ chế hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường: mở rộng nguồn vốn, đơn giản hóa quy trình cấp tín dụng ưu đãi cho dự án chuyển đổi công nghệ sạch.
      • Hoàn thiện quy chế ký quỹ môi trường: chuẩn hóa phương pháp tính toán dự toán kinh phí cải tạo mỏ, mở rộng ký quỹ sang các ngành nghề có rủi ro ô nhiễm cao (như chôn lấp chất thải nguy hại, hóa chất).
      • Nghiên cứu thiết lập khung pháp lý cho việc thí điểm thị trường mua bán hạn ngạch phát thải (Emission Trading Scheme/Côta phát thải) và cơ chế đặt cọc - hoàn trả đối với bao bì, sản phẩm sau sử dụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm và vai trò của các công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường dưới góc độ khoa học luật học.
  • Luận giải sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa các nguyên tắc pháp lý quốc tế (PPP, BPP) với nguyên tắc kích thích lợi ích vật chất và nguyên tắc quản lý tài chính tập trung trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các công cụ kinh tế.
  • Xác lập 4 tiêu chí khoa học đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật về công cụ kinh tế (tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý cao), tạo cơ sở lý luận cho công tác rà soát, đánh giá và lập pháp môi trường.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phân loại và đánh giá có hệ thống thực trạng văn bản quy phạm pháp luật và kết quả thực thi đối với 4 nhóm công cụ kinh tế tại Việt Nam giai đoạn từ 1993 đến 2013.
  • Chỉ rõ những lỗ hổng, xung đột và bất cập trong các quy định về mức thu thuế, phí môi trường, cơ chế giải ngân của Quỹ Bảo vệ môi trường, quy trình ký quỹ khoáng sản và chế tài tài chính trong xử lý vi phạm hành chính.
  • Xây dựng hệ thống quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, yêu cầu và các đề xuất giải pháp lập pháp, hành pháp cụ thể, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường và các luật chuyên ngành liên quan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Luận án khảo sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành chủ yếu dựa trên khung khổ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các nghị định hướng dẫn thi hành có hiệu lực đến năm 2013.
  • Do phạm vi đề tài nghiên cứu luật học, các phân tích về mức thu thuế, phí và chi phí ngoại ứng chủ yếu tiếp cận theo khía cạnh chuẩn tắc pháp lý và hiệu lực quản lý nhà nước, chưa xây dựng các mô hình định lượng kinh tế lượng để đo lường độ co giãn của hành vi xả thải khi mức phí thay đổi.
  • Một số công cụ kinh tế thị trường mới nổi như hạn ngạch phát thải (Cap and Trade) hay chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) mới chỉ được phân tích ở mức độ kinh nghiệm quốc tế và đề xuất định hướng, chưa có điều kiện khảo sát thực chứng sâu rộng tại thị trường Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Nghiên cứu theo dõi sự phát triển của hệ thống công cụ kinh tế trong các giai đoạn tiếp theo của Luật Bảo vệ môi trường, đặc biệt là sự chuyển dịch sang định giá carbon và thị trường hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
  • Nghiên cứu chuyên sâu cơ chế pháp lý kết hợp giữa công cụ kinh tế với trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR) và tài chính xanh (tín dụng xanh, trái phiếu xanh).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Luật Tài chính - Ngân sách; có thể khai thác khung lý thuyết, hệ thống khái niệm và phương pháp luận phân tích quy phạm pháp luật tại Chương 2.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy học phần Luật Môi trường, Quản lý môi trường và Chính sách công.
  • Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cán bộ công tác tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội có thể tham khảo các lập luận và kiến nghị cụ thể tại Chương 3 và Chương 4 để hoàn thiện các đạo luật về thuế, phí và quản lý chất thải.
  • Doanh nghiệp và tổ chức tư vấn pháp lý: Nắm bắt nghĩa vụ tài chính môi trường, quy trình ký quỹ và các chính sách ưu đãi tài trợ của Nhà nước để xây dựng phương án kinh doanh phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường dưới góc độ pháp lý như thế nào?

Dưới góc độ pháp lý, luận án định nghĩa công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là những công cụ chính sách do pháp luật quy định, được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thường xuyên tác động tới môi trường, nhằm thay đổi hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường.

2. Bốn nguyên tắc cơ bản chi phối việc áp dụng pháp luật về công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là gì?

Bốn nguyên tắc được luận án phân tích gồm:

  1. Nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" (PPP): Buộc người gây ô nhiễm phải gánh chịu chi phí xử lý và bồi hoàn môi trường.
  2. Nguyên tắc "Người hưởng thụ phải trả tiền" (BPP): Buộc người hưởng lợi từ môi trường cải thiện phải đóng góp chi phí duy trì.
  3. Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế: Dùng lợi ích vật chất làm đòn bẩy thúc đẩy chủ thể tự giác thực hiện hành vi bảo vệ môi trường.
  4. Nguyên tắc sử dụng nguồn tài chính tập trung: Bảo đảm việc phân bổ, sử dụng Ngân sách nhà nước và Quỹ bảo vệ môi trường tuân thủ nghiêm ngặt chế độ quản lý tài chính công.

3. Luận án phân loại thực trạng pháp luật về công cụ kinh tế ở Việt Nam thành những nhóm nào?

Luận án phân chia thành 4 nhóm quy định và thiết chế:

  1. Pháp luật về chính sách tài trợ (Ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp môi trường và Quỹ Bảo vệ môi trường).
  2. Pháp luật về nhóm công cụ kích thích lợi ích kinh tế (thuế bảo vệ môi trường và các loại phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn, khai thác khoáng sản).
  3. Pháp luật về nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội (ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, đặt cọc - hoàn trả, nhãn sinh thái).
  4. Pháp luật về chế tài xử phạt hành chính và tài chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường.

4. Những tiêu chí cơ bản nào được luận án xác lập để đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật về công cụ kinh tế?

Luận án xác lập 4 tiêu chí cốt lõi:

  1. Tính toàn diện (bao quát đầy đủ các quan hệ điều chỉnh và các bộ phận cấu thành).
  2. Tính đồng bộ (thống nhất nội tại và không xung đột với các ngành luật khác).
  3. Tính phù hợp (tương thích với trình độ phát triển kinh tế và năng lực của doanh nghiệp).
  4. Trình độ kỹ thuật pháp lý cao (ngôn ngữ chuẩn xác, cấu trúc logic, bảo đảm tính minh bạch và khả thi).

5. Những giải pháp lập pháp cụ thể nào được luận án đề xuất tại Chương 4?

Luận án đề xuất: sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường (bổ sung chương riêng về công cụ kinh tế); hoàn thiện Luật Thuế bảo vệ môi trường (mở rộng danh mục chịu thuế đối với chất gây ô nhiễm công nghiệp); nâng mức thu phí nước thải và chất thải rắn sát với chi phí xử lý thực tế; chuẩn hóa quy trình dự toán ký quỹ phục hồi môi trường mỏ khoáng sản; kiện toàn cơ chế hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường; và nghiên cứu xây dựng khung pháp lý cho việc thí điểm thị trường hạn ngạch phát thải.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về pháp luật sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, nội hàm pháp lý và các nguyên tắc nền tảng của công cụ kinh tế, đồng thời phân tích toàn diện thực trạng quy phạm pháp luật và cơ chế thực thi qua 4 nhóm công cụ cụ thể. Những đánh giá về hạn chế thực tiễn và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và đóng góp thiết thực cho công tác xây dựng, thực thi pháp luật môi trường tại Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.