Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên đại học sư phạm ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết khám phá vai trò giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

237
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của giáo dục giá trị văn hóa truyền thống

Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là những gì đã được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Sinh viên sư phạm ngoại ngữ, với vai trò là những người giáo dục tương lai, cần được trang bị những giá trị này để có thể truyền đạt và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Theo nghiên cứu, giáo dục giá trị văn hóa truyền thống không chỉ giúp sinh viên phát triển nhân cách mà còn tạo ra những tác động tích cực đến cộng đồng và xã hội.

1.1. Khái niệm giá trị văn hóa

Giá trị văn hóa là những tiêu chuẩn, nguyên tắc và niềm tin mà một cộng đồng hay xã hội coi trọng. Chúng bao gồm các giá trị như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, và sự tôn trọng lẫn nhau. Những giá trị này không chỉ định hình nhân cách của mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cách mà họ tương tác với xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Sinh viên sư phạm ngoại ngữ cần hiểu rõ về giá trị văn hóa của dân tộc để có thể truyền đạt cho thế hệ sau, từ đó góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa trong thời đại toàn cầu hóa.

1.2. Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống

Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ không chỉ là việc truyền đạt kiến thức mà còn là quá trình hình thành nhân cách và thái độ tích cực đối với văn hóa dân tộc. Các phương pháp giáo dục cần được đa dạng hóa, từ việc tích hợp vào chương trình học đến việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Việc này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa mà còn tạo cơ hội cho họ thực hành và trải nghiệm. Theo các chuyên gia, giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cần được thực hiện một cách đồng bộ và liên tục để đạt được hiệu quả cao nhất.

II. Cơ sở thực tiễn của giáo dục giá trị văn hóa truyền thống

Thực tiễn giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ các cơ sở giáo dục, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt được như mong đợi. Một trong những nguyên nhân chính là sự thiếu hụt trong việc tích hợp giáo dục giá trị văn hóa vào chương trình học. Nhiều sinh viên vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục giá trị văn hóa cho sinh viên. Các hoạt động ngoại khóa, chương trình giao lưu văn hóa cũng cần được đẩy mạnh để sinh viên có cơ hội trải nghiệm thực tế.

2.1. Kinh nghiệm giáo dục giá trị văn hóa từ các nước

Nhiều quốc gia trên thế giới đã có những mô hình giáo dục giá trị văn hóa truyền thống rất hiệu quả. Họ thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật để sinh viên có thể tham gia và trải nghiệm. Những hoạt động này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về văn hóa của đất nước mình mà còn tạo cơ hội để họ giao lưu, học hỏi từ các nền văn hóa khác. Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm này để xây dựng một chương trình giáo dục giá trị văn hóa truyền thống phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế.

2.2. Thực trạng giáo dục giá trị văn hóa truyền thống

Thực trạng giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Nhiều sinh viên vẫn chưa có ý thức giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Việc giáo dục giá trị văn hóa thường bị xem nhẹ trong chương trình học, dẫn đến tình trạng sinh viên thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết. Để cải thiện tình hình này, cần có những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

III. Mô hình và biện pháp giáo dục giá trị văn hóa truyền thống

Để nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ, cần xây dựng một mô hình giáo dục toàn diện. Mô hình này cần bao gồm các yếu tố như tích hợp nội dung giáo dục vào chương trình học, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, và xây dựng môi trường học tập thân thiện. Các biện pháp cụ thể như tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm về giá trị văn hóa truyền thống cũng cần được thực hiện. Việc này không chỉ giúp sinh viên nâng cao nhận thức mà còn tạo cơ hội cho họ thực hành và trải nghiệm giá trị văn hóa trong cuộc sống hàng ngày.

3.1. Nguyên tắc đề xuất mô hình giáo dục

Mô hình giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc như tính liên kết, tính thực tiễn và tính bền vững. Tính liên kết đảm bảo rằng các hoạt động giáo dục phải được kết nối chặt chẽ với nhau, từ chương trình học đến các hoạt động ngoại khóa. Tính thực tiễn giúp sinh viên có thể áp dụng những gì đã học vào thực tế, trong khi tính bền vững đảm bảo rằng giá trị văn hóa truyền thống sẽ được duy trì và phát huy trong tương lai. Việc áp dụng các nguyên tắc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ.

3.2. Biện pháp giáo dục giá trị văn hóa truyền thống

Các biện pháp giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ cần được đa dạng hóa. Việc tích hợp nội dung giáo dục vào các môn học khoa học xã hội là một trong những biện pháp quan trọng. Ngoài ra, cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa như lễ hội văn hóa, chương trình giao lưu văn hóa để sinh viên có cơ hội trải nghiệm và thực hành. Các hoạt động này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa truyền thống mà còn tạo cơ hội cho họ giao lưu, học hỏi từ bạn bè và cộng đồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên đại học sư phạm ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGOẠI NGỮ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục giá trị văn hóa truyền thống Vấn đề GT, GD GT, văn hóa, GTVH, GTVH TT và giáo dục GTVH và GTVH TT cho thế hệ trẻ đã nhận được sự quan tâm lớn các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng như các nhà nghiên cứu nói chung và các nhà nghiên cứu về văn hóa, GD nói riêng ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về giá trị và giáo dục giá trị Có rất nhiều công trình nghiên cứu về giá trị và giáo dục giá trị. Trên thế giới, nghiên cứu về GT, có thể kể đến các nhà khoa học và các công trình tiêu biểu như sau: I.H Fitcher với quan niệm về GT: “Tất cả những gì có lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với một con người hoặc nhóm người đều có một GT” được đưa ra năm 1973 trong cuốn “Xã hội học” [89], hay M.

Khảo sát về GT trên phạm vi châu lục và thế giới có các công trình của F. Inglehart - Giám đốc chương trình điều tra GT thế giới với tên gọi của chương trình đầu tiên “Nghiên cứu GT Châu Âu” [98] năm 1981 và 6 chương trình tiếp theo từ năm 2011- 2014 nghiên cứu GT toàn cầu; hay công trình “Giá trị châu Âu và giá trị Mỹ xung đột với nhau như thế nào” [96] của D. Ở Việt Nam, nghiên cứu về khái niệm trị GT phải kể đóng góp to lớn của Trần Trọng Thủy (1993) với nghiên cứu “Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách” [70]; của nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc và Mạc Văn Trang (1995) với đề tài “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” [79], của Ngô Đức Thịnh (2010) với cuốn sách “Làm giàu, bảo tồn và phát huy các GTVH TT Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” [66], và gần đây là Trần Ngọc Thêm (2016) với cuốn sách “Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai” [18]. Trong các công trình này, theo quan niệm của các nhà nghiên cứu quốc tế và Việt Nam, GT chỉ hàm nghĩa những gì tích cực, còn những GT tiêu cực thì được coi là những phản GT hay phi GT, khác với cách hiểu của triết học cho rằng có GT tích cực và GT tiêu cực.

Nghiên cứu về giáo dục giá trị rất được quan tâm bởi các nhà khoa học hay tổ chức nước ngoài. Điển hình phải kể đến Linda Bennett (1998), người đã thiết lập ra trang web Citizen Education (GD công dân) của Nhật, đã chỉ ra 8 GT quan trọng cần có của thế hệ trẻ Nhật Bản, đó là: có kỉ luật, kiên trì theo đuổi mục tiêu, nhân ái, mạnh mẽ và khỏe mạnh, chăm học, thông cảm và đồng cảm, nhận thức về xã hội, hợp tác- hòa hợp [85]; hay chính phủ Úc với việc ban hành Khung Quốc Gia về GD GT cho các trường học (National Framework for Values Education in Australian schools) năm 2016 với 9 GT cốt lõi cần GD cho học sinh trong nhà trường: Sự nỗ lực hết sức mình, 8 đối xử công bằng, tự do, trung thực và đáng tin cậy, hòa nhập, trách nhiệm, thấu hiểu, khoan dung và hội nhập [105]. Ngoài ra còn có nghiên cứu của Maina Faith (2003) với tiêu đề: “Tích hợp giáo dục giá trị văn hóa vào chương trình của các trường Kenya” (“Integrating cultural Education in Curriculum for Kenya School”) [104], nghiên cứu của Young-Ran Roh (2004) về GD trị ở Hàn Quốc và Singapore trong thời đại thông tin và toàn cầu hóa (“Values Education in Global and Information Age in South Korea and Singapore” [108]), hay nghiên cứu về “Giá trị văn hóa và công việc của người giáo viên: từ quan điểm dạy học chất lượng” [103] (Values education and teachers’ work: a quality teaching perspective), của Terence Lovat (2005), thuộc truờng ĐH Newscastle, Úc. Giáo dục giá trị trong những năm qua cũng đã nhận được sự quan tâm lớn ở Việt Nam.

Các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu tổng kết các quan niệm về GT, hệ GT, một số công trình đề xuất bảng GT hay hệ GT Việt Nam. Công trình tiêu biểu gần đây phải kể đến là: “Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế: Góp thêm một vài ý kiến nhỏ” [29] của Lương Đình Hải (2015) hay “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [63] của Trần Ngọc Thêm (2017). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, rất nhiều tác giả Việt Nam đã trăn trở về vấn đề định hướng GT của con người Việt Nam nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng. Nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc và Mạc Văn Trang (1995) có công trình “Giá trị – định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” [79], Đỗ Long (2006) với bài viết “Định hướng giá trị và sự phát triển của thế hệ trẻ” [41], Thái Duy Tuyên, Phan Minh Tiến (2008) có ấn phẩm "Định hướng GT con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa” [77].

Phạm Hồng Tung (2010) có ấn phẩm “Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [76], Phạm Minh Hạc (2015) có công trình “Định hướng giá trị con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập” [28]. Các đề tài trên đã bàn về việc xây dựng nguyên tắc cho cách tiếp cận đối với chủ đề về văn hóa và góp phần nhận diện xu hướng biến đổi GT con người Việt Nam nói chung và thanh niên nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, giá trị văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống Vấn đề văn hóa, GTVH và GTVH TT cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Khái niệm văn hóa đã được Taylor trình bày trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy” [112] từ năm 1871 và được hoàn thiện bởi UNESCO, Tổ chức GD, Khoa học và Văn hóa thế giới trong một dịp lễ phát động thập kỉ thế giới phát triển của văn hóa năm 1994 [116].

Trong một nghiên cứu khác về GT của H. Schwartz (2012), dựa trên cơ sở dữ liệu của giáo viên, SV từ 65 quốc gia, H. Schwartz đã xác định được tám vùng văn hóa dựa theo bảy chiều kích: Sự hài hòa (Harmony); Sự gắn kết (Embeddeeness); Tính tôn ti, trật tự (Hierarchy); Tính quyền lực (Mastery); Năng lực tự chủ về tình cảm (Affective Autonomy); Năng lực tự chủ về tri thức (Intellectual Autonomy); Chủ nghĩa công bằng (Egalitarianism) [110] 9 Dưới đây là sơ đồ tám vùng văn hóa dựa theo 7 chiều kích của S. Tám vùng văn hóa dựa theo 7 chiều kích Nguồn: https://www.net/figure/Cultural-map-of-world regions_fig2_274567696 Theo sơ đồ này thì Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á (south east Asian) nên rất gần với hai GT Sự gắn kết (Embeddeeness) và Tính tôn ti, trật tự (Hierarchy) và rất xa hai GT là Năng lực tự chủ về tri thức (Intellectual Autonomy) và Chủ nghĩa công bằng (Egalitarianism).

Tuy nhiên, nghiên cứu trên mới tập trung vào chủ thể là giáo viên và SV, nên chưa thể khái quát hóa cho GTVH chung của các quốc gia được nghiên cứu. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh [45], Ngô Đức Thịnh (trong công trình “Hệ giá trị văn hóa Việt Nam” [67]), Đào Duy Anh (trong cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” [1]), Trần Ngọc Thêm (trong công trình “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [63]) cũng đã đưa ra các quan niệm riêng về văn hóa. Đặt GTVH trong mối tương quan với GT con người, Hồ Sĩ Quý (2018) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn nhất về văn hóa “văn hóa là tổng hòa các GT người” [57]. Phạm Minh Hạc (2001) trong công trình: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [25] lại cho rằng văn hóa là hệ thống GT vật chất và tinh thần, do con người, cộng đồng, dân tộc, loài người sáng tạo ra.

Khi luận bàn về GTVH, Ngô Đức Thịnh (2019) cho rằng: “GTVH là do xã hội sáng tạo ra trong thời đại lịch sử, nhưng một khi hệ GTVH đã hình thành thì nó có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong xã hội ấy” [67, tr. Còn khi luận bàn về GTVH TT, các nhà nghiên cứu có những phát biểu khác nhau. Theo Phan Huy Lê (1994), TT là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác [40]. Theo Trần Văn Giàu (1987) GT TT hay GTVH TT là “những nguyên lí đạo đức lớn mà con người trong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử dựa vào 10 để phân biệt phải trái, nhận định nên chăng, nhằm xây dựng độc lập, tự do và tiến bộ của dân tộc đó.” [24] Xét từ góc độ thời đại, Ngô Đức Thịnh (2010) cho rằng, văn hoá TT hay GT văn hoá TT được hiểu như là văn hoá và GT gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hoá, GT văn hoá thời đại công nghiệp hoá.

[66] Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến hệ GTVH Việt Nam truyền thống. Một trong những công trình công phu đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” [24] của Trần Văn Giàu từ những năm 1980. Ngoài ra còn có Nguyễn Hồng Phong (1999) với nghiên cứu “Văn hóa phát triển” [54], Phan Ngọc (1999) trong cuốn “Bản sắc văn hóa Việt Nam” [49], hay Nguyễn Quang Ngọc (2007) với công trình “Tiến trình lịch sử Việt Nam” [50]. Qua các công trình này các tác giả đã đưa ra những hệ GTVH TT Việt Nam khác nhau nhưng có những GT chung được lặp lại như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, lòng nhân ái, đức cần cù, tính sáng tạo, … Đặc biệt, lòng yêu nước là GT được nhiều tác giả quan tâm nhấn mạnh và cho là GTVH TT nổi bật của dân tộc Việt Nam.

Các công trình nghiên cứu về giáo dục giá trị văn hóa và giáo dục giá trị văn hóa truyền thống trong các trường đại học Trên thế giới, nhiều quốc gia đã quan tâm đến việc giáo dục GTVHTT trong các trường ĐH. Điển hình phải kể đến Nhật Bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên sư phạm ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế" đề cập đến tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên ngành sư phạm ngoại ngữ, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Tài liệu nhấn mạnh rằng việc kết hợp giữa giáo dục văn hóa truyền thống và kiến thức ngoại ngữ không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa dân tộc mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để giao tiếp và làm việc hiệu quả trong môi trường quốc tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng anh về những trở ngại khi thuyết trình trong giờ học tiếng anh pháp luật tại đại học luật hà nội, nơi khám phá những thách thức mà sinh viên tiếng Anh gặp phải trong quá trình học tập. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ giai pháp thu hút giảng viên trình độ cao tại trường đại học hải dương cũng có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong các trường đại học. Cuối cùng, tài liệu Developing discussion skills for efl second year students luận án thạc sĩ sẽ giúp bạn tìm hiểu thêm về việc phát triển kỹ năng thảo luận cho sinh viên, một yếu tố quan trọng trong việc giao tiếp hiệu quả trong môi trường học tập đa văn hóa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và nâng cao kỹ năng trong lĩnh vực giáo dục và văn hóa.