CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐIỂM DU LỊCH 1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về các khía cạnh của hoạt động quản lý điểm du lịch 1. Các nghiên cứu về xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển điểm du lịch Việc xây dựng và thực thi đồng bộ giữa quy hoạch du lịch với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của Lào đóng vai trò quan trọng. Nội dung quy hoạch du lịch được xây dựng dựa trên ý kiến đóng góp của những cá nhân, tổ chức hoạt động trong ngành thì sẽ mang lại hiệu quả thiết thực hơn.
Có thể nói, việc mở rộng quy mô các hoạt động du lịch đóng vai trò thiết yếu tới sự phát triển ngành du lịch. Lượng khách du lịch ngày càng đông đòi hỏi sự đầu tư mở rộng các điểm tham quan du lịch, các hệ thống nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ,.để đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí của du khách một cách nhanh chóng nhất. Cũng cần lưu ý rằng, việc mở rộng quy mô nên được thực hiện một cách tổng thể, thống nhất, tránh tình trạng mở rộng ồ ạt mạnh ai nấy làm gây ra sự lộn xộn, mất mỹ quan tại địa điểm du lịch. Các tác giả John Ward, Phil Higson và William Campbell (1994) trong nghiên cứu Leisure and Tourism, đã nghiên cứu về ngành công nghiệp du lịch và giải trí thông qua việc phân tích các hình mẫu và xu hướng, các sản phẩm và dịch vụ trong ngành du lịch và giải trí cũng như các tác động của nó đến kinh tế, xã hội, văn hóa hay môi trường [59].
Công trình Tourism in Developing Countries, các tác giả tập trung bàn về sự phát triển du lịch ở các nước đã và đang phát triển. Bên cạnh đó, công trình này còn đề cập đến mối liên hệ giữa chính phủ và du lịch, các mô hình phân tích phát triển du lịch, các phương pháp đo lường phát triển du lịch quốc tế, sự phát triển các điểm đến du lịch như khu nghỉ mát ven đồi hay ven biển, các khu du lịch vùng ngoại ô. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả S. 5 Trong công trình Tourism Economics and Policy, các tác giả tập trung chỉ ra nhu cầu du lịch và dự báo, nguồn cung cấp du lịch và giá, đo lường tác động và lợi ích của những thay đổi trong nhu cầu du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch và thuế du lịch, hàng không, du lịch và môi trường (bao gồm cả biến đổi khí hậu) và năng lực cạnh tranh điểm đến.
Từ đó cung cấp cơ sở để hiểu được sự liên quan của phân tích kinh tế và các giải pháp cho vấn đề du lịch trong thực tế cuộc sống, cũng như hoạch định chính sách du lịch [74]. Bueno cho rằng "khi việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được quyết định bởi các kỹ năng, nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để đạt được lợi thế cạnh tranh" [51]. Do vậy, điểm đến du lịch cần có chính sách, chiến lược chú trọng phát triển nguồn nhân lực phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Luận án Những giải pháp phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thế hội nhập [17], tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm về du lịch, DLST, yêu cầu và nội dung phát triển DLST trong điều kiện đẩy mạnh HNQT.
Luận án ở một chừng mực nhất định cũng đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến quản tài nguyên môi trường và hệ sinh thái tại các điểm du lịch. Luận án Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch Bắc Bộ của Việt Nam, trên cơ sở phân tích tiềm năng, thế mạnh và thực trạng phát triển bền vững kinh doanh lưu trú du lịch ở vùng du lịch Bắc Bộ của Việt Nam, tác giả đề xuất các giải pháp thúc đẩy kinh tế cho các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch và các chủ thể QLNN tại vùng du lịch Bắc Bộ tham khảo; tạo môi trường thuận lợi cho phát triển bền vững kinh doanh lưu trú tại vùng du lịch Bắc Bộ. Tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2010) trong công trình Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam, đã phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam; chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và áp lực đối với ngành du lịch Việt Nam cũng như nguyên nhân của hạn chế về năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam. Tác giả đề xuất bốn quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam, trong đó đề xuất: ngành du lịch phải được phát triển theo hướng chất lượng, hiệu quả, bền vững [9].
Trong luận án tiến sĩ kinh tế của Phutsady Phanyasith chỉ ra nguyên nhân hạn chế trong QLNN bằng pháp luật đối với HĐDL ở Lào. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp: Tăng cường công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về du 6 lịch; đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp luật về du lịch; tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra trong xử lý vi phạm hoạt động QLNN bằng pháp luật đối với HĐDL; tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất trong lĩnh vực du lịch; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với QLNN bằng pháp luật đối với lĩnh vực HĐDL [37]. Luận án tiến sĩ kinh tế của Sa Năn siphaphômmachăn, “Quản lý du lịch theo hướng hội nhập với các nước láng giềng ở tỉnh Chăm Pa Sắc”, [39] đã làm rõ công tác quản lý du lịch, bao gồm quản lý hệ thống các điểm du lịch theo hướng hội nhập với các nước láng giềng ở tỉnh Chăm Pa Sắc. Luận án còn đưa ra kinh nghiệm của nước ngoài về quản lý du lịch theo hướng hội nhập với các nước láng giềng, trong đó có kinh nghiệm của Việt Nam, luận án đã nghiên cứu sâu vào phương pháp chủ yếu để giải quyết những mặt còn hạn chế và những cấn đề đặt ra và đẩy mạnh hoạt động quản lý du lịch theo hướng hội nhập với các nước láng giềng ở tỉnh Chăm Pa Sắc đạt hiệu quả cao hơn.
Các nghiên cứu về xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá các điểm du lịch Mục đích của hoạt động tuyên truyền, quảng bá các điểm du lịch nhằm cung cấp thông tin chính xác về các sản phẩm du lịch, các địa điểm du vui chơi, di tích lịch sử - văn hóa,…từ đó thu hút du khách nhiều du khách hơn đến các địa điểm đó. Nhận thức được tầm quan trọng của việc quảng bá, tuyên truyền nhà nước đã có những chính sách nhằm đẩy mạnh loại hình dịch vụ này. Susan (1996) khi phân tích nguồn gốc của ngành thương mại giải trí và du lịch, đã miêu tả về ngành thương mại giải trí và du lịch; miêu tả sứ mệnh của ngành này; giải thích sự khác biệt giữa sản phẩm và dịch vụ; giới thiệu những địa điểm mà thương mại giải trí và du lịch có thể diễn ra; giới thiệu các cơ hội nghề nghiệp cho các ứng viên tốt nghiệp ngành này. Trên cơ sở đó, tác giả làm rõ vấn đề quản lý và tổ chức sự kiện, lưu trú, thực phẩm và đồ uống, nghề nghiệp [73] Công trình: “Marketing du lịch” của Robert Lanquar và Robert Hollier, Nxb Thế giới, năm 1992.
Nội dung công trình đề cập đến những mốc 10 lịch sử của 7 marketing du lịch, các định nghĩa và quan niệm về marketing du lịch; phân tích cung, cầu du lịch và các nhu cầu khác về thị trường du lịch. Về lịch sử ra đời của marketing du lịch, tác giả cho rằng: marketing ra đời từ sự phát triển của nền văn minh công nghiệp. Nigel Morgan and Annette Pritchard với nghiên cứu “Tourism Promotion and Power—Creating Images, Creating Identities” [68] đã chỉ ra rằng hình ảnh du lịch là một yếu tố có ý nghĩa quan trọng tác động đến sự lựa chọn điểm du lịch của du khách. Du khách được mời làm người tham gia tích cực trong quá trình tìm hiểu tầm quan trọng và chức năng của hình ảnh du lịch trong vai trò văn hóa xã hội rộng lớn hơn.
Nghiên cứu đã giải thích, đánh giá và đối chiếu các cách tiếp để phân tích hình ảnh du lịch cũng như hiệu quả của việc tạo hình ảnh du lịch tại điểm du lịch. Các chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch được Chính phủ Lào chú trọng đẩy mạnh những năm qua đã tạo ra những thành tựu đáng kể cho nền du lịch nước Lào.Viêng Chăn phát động Năm Du lịch quốc gia 2018, một hoạt động quan trọng nhằm thúc đẩy du lịch và bảo tồn các giá trị văn hóa và phong tục tập quán tốt đẹp của người dân Lào. Khitphavanh Viengkhamkong (2017) [33], Phát triển du lịch của thành phố Viêng Chăn – Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đếnsự phát triển du lịch tại Viêng Chăn cụ thể là việc tổ chức quản lý và quy hoạch du lịch, cơ chế chính sách, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, xúc tiến và quảng bá du lịch, sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc khai thác sản phẩm du lịch, tôn tạo và bảo vệ môi trường sinh thái. Một trong những kết luận mà luận văn đã chỉ ra được là hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch tại Viêng Chăn hiện nay đang là vấn đề thiết yếu và quan trọng đối với sự phát triển du lịch toàn diện tại thủ đô Viêng Chăn.
Trong Năm Du lịch quốc gia 2018, Lào triển khai nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như phát triển du lịch thiên nhiên, văn hóa và lịch sử; nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và tầm quan trọng của du lịch; lấy khuyến khích du lịch làm chìa khóa tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị của các quốc gia, giúp thúc đẩy kết nối giữa Lào với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngoài ra, phát triển sản phẩm du lịch một quận một sản phẩm trên cả nước và tạo thuận lợi cho khách du lịch tại các điểm du lịch của các tỉnh cho có thể cung cấp dịch vụ. 8 Tạp chí Du lịch Mương Lào, “Pháp Luật về du lịch có sự quan trọng nhất đối với việc phát triển và khuyến khích du lịch của Lào”.