Luận án tiến sĩ biến đổi thực hành lễ chùa ở hà nội trong bối cảnh đại dịch covid 19 qua nghiên cứu trường hợp tại chùa phúc khánh chùa hà và chùa thầy

Luận án tiến sĩ khảo sát biến đổi thực hành lễ chùa tại Hà Nội trong đại dịch COVID-19, qua nghiên cứu chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy.

Trường đại học

Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

224
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Biến đổi thực hành lễ chùa

Luận án tập trung phân tích sự biến đổi thực hành lễ chùa tại Hà Nội trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đại dịch đã tác động mạnh mẽ đến các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có thực hành lễ chùa. Các biến đổi này thể hiện qua không gian, thời gian, tần suất, hình thức đi lễ, lễ vật, và trình tự nghi lễ. Đặc biệt, sự xuất hiện của hình thức lễ chùa trực tuyến (online) đã mở ra một hướng tiếp cận mới trong thực hành tôn giáo.

1.1. Không gian và thời gian thực hành lễ chùa

Đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi không gian và thời gian thực hành lễ chùa. Các chùa như chùa Phúc Khánh, chùa Hà, và chùa Thầy đã phải điều chỉnh giờ mở cửa và hạn chế số lượng người tham gia để đảm bảo giãn cách xã hội. Không gian lễ chùa truyền thống bị thu hẹp, thay vào đó là sự mở rộng của không gian ảo thông qua các buổi lễ trực tuyến.

1.2. Tần suất và hình thức đi lễ chùa

Tần suất đi lễ chùa giảm đáng kể do các quy định giãn cách. Nhiều người dân chuyển sang hình thức lễ chùa online để duy trì thói quen tâm linh. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong thực hành tôn giáo, đồng thời phản ánh xu hướng thay đổi tập tục dưới tác động của đại dịch.

II. Tác động của COVID 19 đến thực hành lễ chùa

Đại dịch COVID-19 không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội mà còn tác động sâu sắc đến đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tác động của COVID-19 đã làm thay đổi cách thức thực hành lễ chùa, từ việc chuẩn bị lễ vật đến trình tự nghi lễ. Các chùa đã phải thích nghi với tình hình mới bằng cách đẩy mạnh các hoạt động trực tuyến và hạn chế tiếp xúc trực tiếp.

2.1. Biến đổi lễ vật và công đức

Lễ vật và hình thức công đức cũng có sự thay đổi. Nhiều người dân chuyển sang sử dụng tiền mặt hoặc chuyển khoản thay vì mang lễ vật truyền thống. Điều này phản ánh sự thực dụng hóa trong thực hành lễ chùa, đồng thời cho thấy sự thích nghi của người dân trước những hạn chế do đại dịch gây ra.

2.2. Nghi lễ dâng hương trong đại dịch

Nghi lễ dâng hương cũng có sự điều chỉnh. Các chùa đã hạn chế việc thắp hương tập trung, thay vào đó là việc thắp hương cá nhân hoặc thông qua hình thức trực tuyến. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong việc duy trì các nghi lễ tôn giáo trong bối cảnh dịch bệnh.

III. Xu hướng biến đổi thực hành lễ chùa

Nghiên cứu chỉ ra rằng, thực hành lễ chùa đang có xu hướng song hành online và offline. Trong khi hình thức truyền thống vẫn được duy trì, hình thức trực tuyến đang ngày càng phổ biến. Điều này phản ánh sự thích nghi của người dân và các cơ sở tôn giáo trước những thách thức của đại dịch. Xu hướng này cũng cho thấy sự đơn giản hóa trong thực hành lễ chùa, với việc giảm bớt các nghi thức phức tạp.

3.1. Xu hướng thực dụng hóa

Xu hướng thực dụng hóa trong thực hành lễ chùa ngày càng rõ nét. Nhiều người dân chuyển sang sử dụng tiền mặt hoặc chuyển khoản thay vì mang lễ vật truyền thống. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cách thức thực hành tôn giáo, đồng thời cho thấy sự thích nghi của người dân trước những hạn chế do đại dịch gây ra.

3.2. Xu hướng đơn giản hóa

Xu hướng đơn giản hóa trong thực hành lễ chùa cũng được ghi nhận. Các nghi thức truyền thống được rút gọn, thay vào đó là các hình thức lễ chùa trực tuyến hoặc cá nhân hóa. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong việc duy trì các nghi lễ tôn giáo trong bối cảnh dịch bệnh.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Luận án không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về sự biến đổi thực hành lễ chùa trong đại dịch COVID-19 mà còn đưa ra những gợi ý quan trọng cho việc duy trì và phát triển các hoạt động tôn giáo trong tương lai. Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong việc hỗ trợ các cơ sở tôn giáo thích nghi với những thay đổi của xã hội hiện đại.

4.1. Giá trị văn hóa và tâm linh

Nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của thực hành lễ chùa trong đời sống tâm linh của người dân. Dù có sự biến đổi, hoạt động này vẫn giữ được giá trị văn hóa và tâm linh, góp phần nâng đỡ đời sống tinh thần của người dân trong bối cảnh khó khăn.

4.2. Ứng dụng trong quản lý tôn giáo

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Các cơ sở tôn giáo có thể tham khảo để điều chỉnh hoạt động phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh và chuyển đổi số.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ biến đổi thực hành lễ chùa ở hà nội trong bối cảnh đại dịch covid 19 qua nghiên cứu trường hợp tại chùa phúc khánh chùa hà và chùa thầy

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình liên quan đến biến đổi tôn giáo tín ngưỡng 1. Các công trình nghiên cứu thế giới về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng Thực hành sinh hoạt tôn giáo nhất là thực hành nghi lễ tôn giáo là một phần quan trọng không thể thiếu của bất kì tôn giáo nào.

Qua dòng chảy của thời gian, chịu những tác động của hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… sự biến đổi của thực hành tôn giáo tín ngưỡng là một tất yếu. Đi sâu vào những nghiên cứu về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng nói chung và biến đổi thực hành tôn giáo tín ngưỡng nói riêng trong giai đoạn gần đây, trên thế giới xuất hiện hai xu hướng nghiên cứu biến đổi tôn giáo tín ngưỡng Thứ nhất, xu hướng nghiên cứu biến đổi tôn giáo tín ngưỡng do ảnh hưởng của sự phát triển công nghệ thông tin và Internet Trong Religion and the Internet (Tôn giáo và mạng Internet) (2006), tác giả Heide Campbell đã chỉ ra sự biến đổi của tôn giáo manh nha vào những năm 1995, 1996 [99, tr. 3] khi có sự xuất hiện và phát triển của Internet. Tác giả khẳng định dưới tác động của Internet đã tạo nên các hình thức tôn giáo trực tuyến qua các trang web, phòng trò chuyện và các nhóm thảo luận qua email.

Không gian thờ phụng mới cũng được thiết lập và bước đầu ở dạng các trang web. Song hành với đó, nghi lễ mạng và cách thức thực hành tôn giáo qua không gian mạng được cấu thành. Trong các diễn đàn trực tuyến, các buổi cầu nguyện được tập hợp hàng tuần vào một thời điểm cụ thể. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã góp phần hình thành “cộng đồng tôn giáo trực tuyến” (cộng đồng ảo) bên cạnh các cộng đồng tôn giáo truyền thống tại các địa phương.

15 Ở bài viết “Religion and the Internet: A microcosm for studying Internet trends and implications” (Tôn giáo và Internet: Một mô hình thu nhỏ (để) nghiên cứu các xu hướng và tác động của Internet) (2013) [102], Heide Campbell tiếp tục khẳng định những kết nối trực tuyến - ngoại tuyến, cộng đồng và quyền lực trực tuyến đều liên quan đến thực tiễn xã hội. Cùng chung nội dung này, tác giả chi tiết hóa bằng bài viết “Rethinking the online-offline connection in the study of religion online” (Suy nghĩ lại về kết nối trực tuyến – ngoại tuyến trong việc nghiên cứu tôn giáo trực tuyến) [100] để bàn về mối quan hệ giữa sinh hoạt trực tuyến và ngoại tuyến của tôn giáo qua khảo sát mạng xã hội. Trong đó, tác giả phân tích và chỉ ra việc sử dụng và lựa chọn công nghệ trực tuyến không tách khỏi bối cảnh ngoại tuyến. Hay nói một cách khác, thực hành ngoại tuyến hướng dẫn niềm tin và hành vi trực tuyến.

Trong cuốn sách Creating Church Online: Ritual, Community and New Media (Sáng tạo Nhà thờ Trực tuyến: Nghi lễ, Cộng đồng và Phương tiện mới) (2017) [105], tác giả Tim Hutching phản ánh sự tồn tại nhà thờ trực tuyến của cộng đồng Cơ đốc dựa trên nền tảng Internet bắt đầu từ những năm 1990 đến nay. Khi internet đã trở thành nền tảng chính cho tin tức, kinh doanh, giáo dục… thì nhiều nhà thờ cũng đã chuyển sang không gian mạng như một lĩnh vực truyền giáo, nơi mọi người có thể tìm thấy đức tin bằng cách tham gia cầu nguyện, tham dự các buổi lễ… Tác giả khẳng định hàng trăm nghìn người hiện đang tham gia vào các hội nhóm trực tuyến đã tạo ra các loại nghi thức, hình thức quản lí, cộng đồng và mạng lưới ảnh hưởng toàn cầu mới. Điểm nổi bật trong nghiên cứu của Hutchings là nhiều người tham gia nhà thờ trực tuyến trong khi vẫn kết nối với các Hội thánh địa phương. Điều này trái ngược so với các thăm dò dư luận Cơ đốc giáo trước đó khi dự đoán các nhà thờ trực tuyến sĩ dần thay thế các Hội thánh địa phương.

Có thể thấy, các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra trong bối cảnh 16 Internet, “thực hành” tôn giáo trên Internet đang tăng lên. Hệ quả là có sự hình thành các cộng đồng tôn giáo online (cộng đồng ảo) ở khắp các nền tảng, nghi lễ online, không gian tôn giáo online đa dạng…và mối quan hệ mật thiết giữa sinh hoạt tôn giáo trực tuyến và sinh hoạt tôn giáo trực tiếp. Thứ hai, xu hướng nghiên cứu biến đổi tôn giáo tín ngưỡng do đại dịch Covid-19 Đại dịch Covid-19 xuất hiện trên thế giới từ cuối năm 2019 cho đến nay. Trước nguy hiểm của đại dịch Covid-19, vấn đề về cách ứng phó và những thay đổi của tôn giáo, trong đó có Phật giáo cũng nóng lên trên toàn cầu.

Bởi lẽ, tôn giáo trước nay luôn gắn với sinh hoạt cộng đồng mà trong bối cảnh đại dịch, đặc biệt trong giai đoạn đầu virut Corona “càn quét” ở châu Á, thế giới chưa sản xuất được vacxin phòng bệnh thì giãn cách, không tập trung là nguyên tắc hàng đầu để ứng phó với đại dịch. Từ thực tiễn này, thúc đẩy sự ra đời của các nghiên cứu trên thế giới xoay quanh biến đổi của tôn giáo để nhằm ứng phó với đại dịch. Bài viết “On Face Masks as Buddhist Merit: Buddhist Responses to Covid-19. A Case study of Tibetan Buddhism in Shanghai” (Những phản ứng của Phật giáo đối với Covid-19.

Một nghiên cứu điển hình về Phật giáo Tây Tạng ở Thượng Hải) (2020) [104] của tác giả Kai Shmushko phản ánh thực trạng các cơ sở hoạt động tôn giáo Phật giáo ứng phó với đại dịch, xem xét tác động của đại dịch đối với nhóm tín đồ Phật tử tại gia ở Thượng Hải. Kết quả nổi bật là trong bối cảnh đại dịch, nhóm tín đồ đã hoãn các cuộc hành hương; trong vài tháng đầu của đại dịch, nhóm đã hủy bỏ các buổi tụng kinh và học tập tập trung. Thay vào đó, mỗi cá nhân tín đồ thực hiện lễ nghi, tụng kinh riêng tại phòng. Trong bối cảnh đại dịch, với tình trạng khẩu trang còn thiếu nguồn cung, nhóm đã triển khai sản xuất khẩu trang để kinh doanh (được tác giả gọi là dạng kinh tế lễ nghi).

17 Trong bài viết “Covid-19 and Korean Buddhism: Assessing the Impact of South Korea’s Coronavirus Epidemic on the Future of Its Buddhist Community” (Covid-19 và Phật giáo Hàn Quốc: Đánh giá tác động của đại dịch Coronavirut đối với tương lai của cộng đồng Phật giáo Hàn Quốc) (2021) [96], tác giả Cheonghwan Park và Kyungrae Kim đã phản ánh thực trạng ba tôn giáo của đất nước là Công giáo, Phật giáo và Tin lành đối mặt với thách thức bị giảm thu nhập và hạn chế phạm vi mở rộng, phát triển. Trước những thách thức của đại dịch, nhóm tác giả đề xuất khuyến nghị: Thiết lập hệ thống giáo dục Phật giáo trực tuyến, thu hút những người ủng hộ qua các nền tảng truyền thông xã hội khác nhau, phát triển chương trình học tập ảo, các lớp thiền ảo cho những người trong tình trạng cách li xã hội. Như vậy, để ứng phó với “khủng hoảng xã hội” là một đại dịch nguy hiểm, tôn giáo tín ngưỡng trên thế giới đã thích ứng dựa trên nguyên tắc giảm nhẹ tối đa thiệt hại của đại dịch Covid-19. Tôn giáo tín ngưỡng ứng phó với đại dịch thông qua sự biến đổi về thực hành sinh hoạt tôn giáo và biến đổi về cộng đồng tôn giáo.

Trong đó, xét riêng về hoạt động thực hành sinh hoạt tôn giáo, bản chất thay đổi trong bối cảnh đại dịch chính là xu hướng thiết lập, gia tăng và đa dạng các hoạt động trực tuyến. Vậy, liệu rằng ở Việt Nam, dưới tác động của đại dịch Covid-19, thực hành tôn giáo có biến đổi giống với xu hướng của thế giới hay không? 1. Các công trình nghiên cứu trong nước về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng và biến đổi thực hành tôn giáo tín ngưỡng Trong những năm gần đây, các công trình liên quan đến biến đổi tôn giáo tín ngưỡng khá phong phú và có chiều hướng gia tăng về số lượng. Nhìn chung, các công trình đều khẳng định thực trạng phát triển của sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam.

Điển hình như các công trình luận án tiến sĩ Văn hóa học: Biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa 18 của Lê Thị Thu Hiền (2017) [31], Tín ngưỡng của cư dân xã đảo Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa của Nguyễn Thị Trúc Quỳnh (2019) [73]; Hành hương Phật giáo chùa Hương hiện nay của Nguyễn Thị Thanh Loan (2019) [45]… Cùng với đó là các bài viết, tiêu biểu như bài tạp chí “Những biến đổi trong đời sống lễ nghi ở làng nghề La Phù, Hoài Đức, Hà Tây” của Nguyễn Thị Thanh Bình (2006) [12]; “Những biến đổi trong hành lễ của một bà đồng gọi hồn ở vùng cao phía Bắc Việt Nam” của tác giả Phan Đăng Nhật và Oscar Salemink (2003) [61]; Bài viết “Câu chuyện “Cô Đa Đai”: Thực hành tôn giáo tại một ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Hiền [32]; Bài viết “Sự biến đổi tâm thức tôn giáo truyền thống của người Tây Nguyên hiện nay” (2014) của tác giả Phạm Quỳnh Phương [71], “Biến đổi đời sống tôn giáo - Một yếu tố cần tính đến trong việc hoàn thiện chính sách tôn giáo” của tác giả Đỗ Quang Hưng trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo (2018) [35]… Đa phần, các tác giả đều khẳng định biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng là tất yếu của quy luật vận động tự nhiên, xã hội, lịch sử. Ở mỗi công trình dựa trên bối cảnh nông thôn mới hoặc đô thị mới; ảnh hưởng và tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, biến đổi tôn giáo tín ngưỡng ở mỗi địa phương, khu vực sẽ có những diện mạo ít nhiều khác nhau theo cả 2 xu hướng: (1). Gia tăng một số hoạt động tôn giáo tín ngưỡng trong bối cảnh mới và (2). Xu hướng đơn giản hóa một số thực hành tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống.

Trong bài viết “Sự biến đổi của tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo (2015) tác giả Chu Văn Tuấn [84] cung cấp tổng quan về 3 khía cạnh biến đổi tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế: (1). Xu hướng biến đổi niềm tin tôn giáo (2) Xu hướng biến đổi về thực hành tôn giáo (3). Xu hướng biến đổi về cộng đồng thực hành tôn giáo 19 Tác giả khẳng định: Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cùng với những yếu tố khác nhau như sự phát triển của khoa học công nghệ, các lĩnh vực thông tin truyền thông đã khiến cho đời sống tôn giáo có nhiều sự biến đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Biến đổi thực hành lễ chùa ở Hà Nội trong đại dịch COVID-19 - Nghiên cứu tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy là một nghiên cứu chuyên sâu về sự thay đổi trong các hoạt động tôn giáo và văn hóa tại các ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Tài liệu này không chỉ phân tích cách thức các nghi lễ truyền thống được điều chỉnh để phù hợp với các quy định phòng dịch mà còn làm rõ tác động của những thay đổi này đến đời sống tâm linh và văn hóa của người dân. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến sự biến đổi văn hóa trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã hương sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội trong bối cảnh phát triển du lịch, nghiên cứu về sự thay đổi trong sinh kế và văn hóa của cộng đồng địa phương dưới tác động của du lịch. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh bắc ninh cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự biến đổi văn hóa trong các làng nghề truyền thống. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ lễ hội của người thái ở miền tây nghệ an truyền thống và biến đổi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự thay đổi trong các lễ hội truyền thống dưới tác động của thời đại mới. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của biến đổi văn hóa.