Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62310640) với đề tài "Biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển du lịch" được nghiên cứu sinh Đỗ Hải Yến thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Thị Vân Chi và TS. Nguyễn Văn Lưu, bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí của điểm du lịch văn hóa, tâm linh Hương Sơn (huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội). Quần thể danh lam thắng cảnh Hương Sơn gắn liền với lễ hội chùa Hương – lễ hội dài nhất Việt Nam – và được định hướng là khu du lịch quốc gia theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Kể từ sau năm 1990, hoạt động du lịch tại Hương Sơn phát triển mạnh mẽ, mang lại doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội địa phương. Tuy nhiên, sự chuyển đổi phương thức mưu sinh từ nông nghiệp, lâm nghiệp truyền thống sang kinh tế dịch vụ du lịch nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đặt ra nguy cơ đối với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và tính bền vững của văn hóa mưu sinh bản địa.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù các vấn đề về biến đổi sinh kế và văn hóa làng xã đã được tiếp cận dưới góc độ kinh tế học, nhân học hoặc xã hội học ở nhiều địa bàn, nhưng chưa có công trình khoa học nào tiếp cận chuyên sâu dưới góc nhìn Văn hóa học để phân tích toàn diện thực trạng, phương thức, quy luật và xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng, phương thức, các yếu tố tác động và xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn; lý giải nguyên nhân chuyển đổi phương thức mưu sinh; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách phát triển bền vững. Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa khái niệm và vấn đề lý luận về biến đổi văn hóa nói chung, văn hóa mưu sinh và biến đổi văn hóa mưu sinh trong bối cảnh phát triển du lịch;
  2. Làm rõ thực trạng biến đổi văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân xã Hương Sơn, Hà Nội trước năm 1990 và trong bối cảnh phát triển du lịch;
  3. Đánh giá phương thức, nội dung, xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân tại đây; bàn luận và xác định các yếu tố tác động, nguyên nhân của các biến đổi.

Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân xã Hương Sơn, Hà Nội đang biến đổi như thế nào trong bối cảnh phát triển du lịch?
  2. Những vấn đề gì đang đặt ra từ những biến đổi văn hóa mưu sinh tại xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch?
  3. Có những vấn đề gì cần bàn luận để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của văn hóa mưu sinh tại xã Hương Sơn, Hà Nội trong bối cảnh phát triển du lịch?

Đối tượng nghiên cứu là những biến đổi văn hóa mưu sinh trong bối cảnh du lịch phát triển của cộng đồng cư dân xã Hương Sơn. Phạm vi nghiên cứu được xác lập:

  • Không gian: Xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (tập trung vào 6 thôn: Đục Khê, Yến Vĩ, Hội Xá, Phú Yên, Tiên Mai, Hạ Đoạn).
  • Thời gian: Khảo sát từ mốc năm 1990 đến năm 2018, gắn với giai đoạn du lịch địa phương chịu tác động mạnh mẽ từ các chính sách phát triển kinh tế thị trường và hoạt động du lịch.
  • Nội dung: Tập trung phân tích, đánh giá sự biến đổi trong văn hóa ứng xử với các nguồn lực mưu sinh, văn hóa thể hiện trong hoạt động mưu sinh và các nghi lễ gắn với mưu sinh của cư dân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia thành 3 nhóm lĩnh vực chính:

Thứ nhất, nhóm các nghiên cứu về biến đổi văn hóa:

  • Ở nước ngoài: Tác giả điểm lại các nghiên cứu sơ khai theo thuyết tiến hóa đơn tuyến của E.B. Tylor và L.H. Morgan (1818–1881); các công trình về giao lưu văn hóa nông thôn - đô thị của Halpern (1967); công trình nghiên cứu về hiện đại hóa và duy trì giá trị truyền thống của Ronald Inglehart và Wayne E. Baker; nghiên cứu cấu trúc vùng văn hóa của David Popenoe (1991); tiếp cận biến đổi văn hóa qua giao tiếp của Paul N. Lakey (2003); góc nhìn tâm lý học tộc người của Pamela Balls Organista, Gerardo Marin và Kevin M. Chun (2010); và công trình phân tích các yếu tố tiên quyết, chiến lược và kết quả biến đổi văn hóa của Ozgur Celenk và Fons J. Vande Vijver (2011).
  • Ở trong nước: Tiếp cận xã hội học về biến đổi xã hội của Tương Lai (1997); nghiên cứu văn hóa nông thôn của Lương Hồng Quang (1997–1999); biến đổi văn hóa làng xã của Tôn Nữ Quỳnh Trân, Tô Duy Hợp (2000), Hà Huy Thành (2002); đề tài cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Văn hóa (2007); nghiên cứu đặc điểm biến đổi của Nguyễn Thanh Tuấn (2008) và cấu trúc đô thị của Lê Thanh Sang (2008); nghiên cứu biến đổi văn hóa làng xã vùng Bắc Ninh của Nguyễn Thị Phương Châm (2009); luận án tiến sĩ về văn hóa đô thị của Phan Đăng Long (2011); và luận án tiến sĩ về biến đổi văn hóa làng nghề của Vũ Diệu Trung (2013).

Thứ hai, nhóm các nghiên cứu về văn hóa mưu sinh và sinh kế:

  • Ở nước ngoài: Thuật ngữ livelihood gắn với tiếp cận của Robert Chambers (thập niên 1980), nghiên cứu của nhóm Makarian (Erevan, Liên Xô cũ) và khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID). Các nghiên cứu cụ thể gồm có luận án của Phùng Thị Tô Hạnh (2004, Thụy Điển) về chuyển đổi chiến lược mưu sinh của phụ nữ ngoại thành Hà Nội; nghiên cứu của Corinne Valdivia và các cộng sự (2012) về chiến lược mưu sinh cộng đồng người Mỹ Latinh; nghiên cứu của Jenkins (2007) về tác động xã hội của du lịch; công trình của Gerard Sasges tập hợp 67 câu chuyện nghề nghiệp của người lao động đô thị Việt Nam.
  • Ở trong nước: Lý thuyết sinh kế DFID được vận dụng qua các công trình của Trần Bình, Nguyễn Văn Tạo, Trần Đức Viên, Nguyễn Quang Vinh, Mai Văn Thành (2014), Nguyễn Duy Thắng, Nguyễn Vũ Hoàng, Hoàng Bá Thịnh. Các nghiên cứu chuyên biệt về sinh kế có luận án nhân học của Nguyễn Văn Tạo (2016) tại Gia Lộc (Hải Dương); báo cáo của Lê Thị Thỏa tại Viện Dân tộc học; nghiên cứu về mưu sinh bằng xe máy (bikelihood) của Lê Ngọc Huy và Vũ Việt Dũng; công trình của Lý Tùng Hiếu (2013); bài viết của Bình Minh (2013) về biến đổi sinh kế của người H'Mông tại Sa Pa; luận án của Bùi Thị Bích Lan (2013) về người Kháng tại Chiềng Bôm (Sơn La); các công trình của Trần Bình (2013, 2015) về dân tộc thiểu số Đông Bắc và người Dao Tuyên Quang; và nghiên cứu của Nguyễn Văn Sửu (2014) về biến đổi sinh kế nông dân ven đô Hà Nội do thu hồi đất nông nghiệp.

Thứ ba, nhóm nghiên cứu về phát triển du lịch Hương Sơn:

  • Luận văn kinh tế học của Nguyễn Hồng Minh (2008) về phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Hà Tây cũ; cuốn cẩm nang du lịch nông thôn của Hà Văn Siêu và Ando Katsuhiro (2014).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận sinh kế/mưu sinh theo chuyên ngành Nhân học, Xã hội học hoặc Kinh tế học, tập trung vào cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao hoặc vùng nông thôn bị đô thị hóa. Chưa có nghiên cứu nào phân tích sự biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân vùng đồng bằng bán sơn địa gắn với không gian di sản văn hóa tâm linh như Hương Sơn dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống dữ liệu thực chứng và khung lý luận văn hóa học về văn hóa mưu sinh trong bối cảnh phát triển du lịch.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án vận dụng 4 luận điểm lý thuyết nền tảng:

  1. Luận điểm về bối cảnh phát triển kinh tế (kinh tế du lịch) là tiền đề dẫn tới biến đổi văn hóa: Kế thừa quan điểm của Karl Marx, Max Weber, Ronald Inglehart và Wayne E. Baker, khẳng định động lực kinh tế du lịch tạo ra sự biến đổi trong cấu trúc xã hội, hoạt động và ứng xử mưu sinh của cư dân.
  2. Lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation): Phân tích sự tương tác hai chiều giữa cư dân bản địa Hương Sơn và du khách thập phương, dẫn đến sự biến đổi mô thức văn hóa mưu sinh truyền thống.
  3. Luận điểm văn hóa mưu sinh bền vững: Dựa trên khung sinh kế bền vững của DFID, Robert Chambers và Makarian, xem xét việc ứng xử và cân bằng giữa khai thác và tái tạo 5 nguồn lực mưu sinh.
  4. Luận điểm về phát triển du lịch bền vững: Vận dụng Tuyên bố 90 của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), gồm 5 biểu hiện phát triển du lịch tại điểm đến và 6 nguyên tắc khai thác gắn liền với bảo tồn tài nguyên.

Các khái niệm công cụ được xác lập:

  • Văn hóa: Dựa trên định nghĩa của Hồ Chí Minh, coi văn hóa là tổng hợp các phương thức sinh hoạt cùng những biểu hiện nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn.
  • Biến đổi văn hóa: Quá trình thay đổi mô thức văn hóa ban đầu của chủ thể do bối cảnh phát triển, áp lực nghề nghiệp hoặc biến đổi môi trường tự nhiên.
  • Mưu sinh (Livelihood / Mou sheng): Hoạt động của cá nhân, hộ gia đình kết hợp các nguồn lực nhằm kiếm sống, sinh tồn hoặc cải thiện đời sống.
  • Văn hóa mưu sinh: Hệ thống hữu cơ những yếu tố vật chất và tinh thần hình thành từ sự thích ứng, cách ứng xử của chủ thể mưu sinh với môi trường tự nhiên và xã hội trong các phương thức sinh hoạt nhằm bảo đảm sinh tồn, giảm nghèo hoặc phát triển đời sống.

Khung phân tích của luận án khảo sát biểu hiện văn hóa mưu sinh trên 3 bình diện:

  1. Văn hóa ứng xử với 5 nguồn lực mưu sinh (tự nhiên, vật chất, xã hội, con người, tài chính);
  2. Văn hóa thể hiện trong các hoạt động mưu sinh (nghề nghiệp, công cụ, kỹ năng, kinh nghiệm);
  3. Văn hóa thể hiện trong các nghi lễ gắn với mưu sinh (nghi lễ cộng đồng và nghi lễ gia đình).

Luận án nhận diện 3 xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh: (1) Xu hướng thích ứng hoàn toàn (đổi nghề sang làm du lịch); (2) Xu hướng giữ nguyên nghề nghiệp truyền thống (nông - lâm nghiệp); (3) Xu hướng biến đổi đan xen (kết hợp nông nghiệp với dịch vụ mùa vụ).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Xử lý các công trình lý luận trong và ngoài nước, báo cáo hành chính, tư liệu địa chí về Hương Sơn.
  • Phương pháp điền dã thực địa:
    • Quan sát trực tiếp và quan sát tham dự: Tác giả thực hiện phương thức "3 cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) tại gia đình ông bà Vinh Sắn (thôn Yến Vĩ), tham gia các hoạt động làm rừng, trồng rau sắng, làm mắm tép, bán quán, chèo đò; tham gia trải nghiệm trong vai trò hướng dẫn viên du lịch và điều hành tour tại Công ty Du lịch Dầu khí OSC, Du lịch Phương Đông, Du lịch Hòa Bình.
    • Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn 4 nhóm đối tượng gồm (1) Chuyên gia nghiên cứu văn hóa, du lịch; (2) Cán bộ quản lý du lịch tại địa phương; (3) Lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành; (4) Cư dân xã Hương Sơn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện khảo sát từ năm 2002 đến năm 2017. Tổng số phiếu phát ra và thu về hợp lệ là 350 phiếu, khảo sát 3 nhóm đối tượng: (1) Người trong độ tuổi lao động (18–60 tuổi); (2) Người hết tuổi lao động (61–80 tuổi); (3) Khách du lịch. Quá trình thu thập phiếu có sự hỗ trợ của sinh viên ngành Việt Nam học (khóa 12, 13, 15) Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.
  • Phương pháp so sánh, thống kê: So sánh đối chiếu văn hóa mưu sinh giữa hai giai đoạn: trước năm 1990 và sau năm 1990.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn xã Hương Sơn

Chương này làm rõ bối cảnh tự nhiên, dân cư, kinh tế - văn hóa và thực trạng hoạt động du lịch tại xã Hương Sơn:

  • Đặc điểm địa lý và dân cư: Xã Hương Sơn nằm ở phía nam huyện Mỹ Đức, diện tích tự nhiên 8.284,73 ha, gồm 6 thôn: Đục Khê, Yến Vĩ, Hội Xá, Phú Yên, Tiên Mai, Hạ Đoạn. Thôn Yến Vĩ sở hữu vị trí thuận lợi nhất về dịch vụ thuyền đò và dịch vụ du lịch.
  • Tài nguyên sinh thái: Rừng Hương Sơn đặc trưng bởi núi đá vôi với 8 hệ sinh thái, thống kê sơ bộ có khoảng 350 loài thảo mộc (thuộc 92 họ, 6 ngành thực vật bậc cao), nhiều đặc sản (rau sắng, mơ, củ mài) và các loài động vật quý hiếm trong Sách đỏ (gà lôi trắng, trăn đất, vọoc má trắng, kỳ đà nước). Suối Yến dài hơn 4 km giữ vai trò trục giao thông thủy chính.
  • Đời sống văn hóa: Tập tục việc hiếu và việc hỷ có sự giản lược so với truyền thống (tục thách cưới chuyển dần sang thỏa thuận tiền mặt; thủ tục tang lễ rút gọn, tỷ lệ hỏa táng gia tăng từ sau năm 2000).
  • Thực trạng dịch vụ du lịch (thống kê năm 2017):
    • Dịch vụ thuyền đò: 95% khách tiếp cận khu di tích qua đường thủy suối Yến; có 4.500 đò sắt/gỗ gắn biển đăng ký, mỗi đò chở 6–8 khách; thu nhập lái đò theo định mức 120.000 đồng/ngày cộng tiền bồi dưỡng.
    • Cáp treo Chùa Hương: Công ty TNHH Mai Lâm vận hành từ năm 2006, chiều dài 1.218 m (Thiên Trù – Hương Tích), công suất 1.500 khách/giờ.
    • Cơ sở kinh doanh: Toàn xã có trên 400 cửa hàng dịch vụ ăn uống và 300 cơ sở lưu trú (phần lớn là nhà trọ, nhà nghỉ tư nhân mang tính thời vụ).
    • Lượng khách: Năm 2017 đạt 1,24 triệu lượt; giai đoạn 2009–2017 ghi nhận sự gia tăng của khách quốc tế từ 1.000 lên 12.241 lượt. Thu nhập bình quân của người làm du lịch năm 2017 đạt khoảng 38 triệu đồng/người/năm.

Bảng cơ cấu giá vé thắng cảnh và dịch vụ đò tại Hương Sơn năm 2018:

Hạng mục vé Mức giá (VNĐ) Nội dung chi tiết cấu thành
Vé tham quan thắng cảnh 80.000 Đã bao gồm phí bảo hiểm du khách
Vé đò tuyến Hương Tích 50.000 Chi trả người vận chuyển, in vé, tuyên truyền, bán vé và thuế
Vé đò tuyến Long Vân 35.000 Chi trả người vận chuyển và chi phí quản lý điều hành
Vé đò tuyến Tuyết Sơn 35.000 Chi trả người vận chuyển và chi phí quản lý điều hành

Chương 2: Văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trước khi phát triển du lịch (trước năm 1990)

Chương 2 phục dựng bức tranh văn hóa mưu sinh truyền thống dựa trên nền kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp tự cung tự cấp:

  • Ứng xử với nguồn lực tự nhiên:
    • Rừng: Cư dân khai thác tự do gỗ, đốt than, lấy củi, thu hái dược liệu, săn bắn động vật và làm nương rẫy trên các thung núi đá vôi.
    • Đất đai: Nông nghiệp là sinh kế chủ đạo nhưng hiệu quả thấp. Đất ruộng trũng thường xuyên ngập lũ sông Đáy và lũ rừng Ngang, ruộng bị "ảnh sơn thâm tuấn" (bóng núi che khuất thiếu ánh sáng) khiến lúa nghẽn đòng, tỷ lệ bông bạc cao. Việc xác lập quyền sở hữu đất trước năm 1990 không qua giấy tờ công chứng hành chính mà thực hiện qua giấy viết tay hoặc giao kết miệng có người làm chứng.
    • Chăn nuôi: Phương thức chăn thả tự nhiên, vận hành theo chỉ tiêu "5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động/1 ha gieo trồng".
  • Ứng xử với nguồn lực con người:
    • Trình độ học vấn thấp, nhận thức chỉ dừng ở mức biết chữ; người có học vấn chủ yếu làm nghề thầy đồ hoặc viết sớ chữ Nho trong mùa hội.
    • Công cụ lao động thích ứng với địa hình khắc nghiệt: sáng tạo ra "ván cấy" để cấy lúa ruộng ngập úng, "cuốc con gà" (cuốc nhỏ lưỡi bén) để bổ hốc gieo trồng trên sườn thung dốc, dao quắm đi rừng, thuyền thúng và thuyền gỗ chèo đò.
    • Đời sống kinh tế bấp bênh, trên 80% hộ dân thiếu gạo, phải ăn ngô, sắn, đào củ mài, củ báng, củ súng để sinh tồn.

Chương 3: Thực trạng biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch (sau năm 1990)

Chương này đánh giá các biểu hiện biến đổi văn hóa mưu sinh sau mốc 1990:

  • Biến đổi ứng xử với các nguồn lực:
    • Nguồn lực tự nhiên: Đất đai chuyển đổi công năng từ đất nông nghiệp sang đất kinh doanh dịch vụ, bến bãi, cửa hàng; suối Yến chuyển đổi hoàn toàn từ chức năng thủy sản sang tuyến vận tải du lịch; tài nguyên rừng chuyển từ khai thác lâm sản thô sang phục vụ cảnh quan và kinh doanh đặc sản du lịch.
    • Nguồn lực vật chất và tài chính: Nhà ở truyền thống được cải tạo thành nhà trọ, cửa hàng ăn uống; vốn tích lũy từ du lịch được tái đầu tư mua sắm đò sắt, phương tiện cơ giới, nâng cấp hạ tầng.
    • Nguồn lực xã hội: Hình thành các mối quan hệ mưu sinh mới (chủ đò - nhà hàng - nhà trọ, liên kết lữ hành, mạng lưới trung gian môi giới).
  • Biến đổi trong hoạt động mưu sinh: Chuyển dịch cơ cấu lao động từ sản xuất nông nghiệp sang dịch vụ du lịch (chèo đò, bán hàng lưu niệm, phục vụ ăn uống, trông giữ xe, lái cáp treo). Sản phẩm lưu niệm có hiện tượng thương mại hóa, nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan và các địa phương khác thay vì tự sản xuất. Xuất hiện các hoạt động dịch vụ trung gian tiêu cực (đổi tiền lẻ lấy chênh lệch, "cò" mồi dẫn khách, tranh giành khách chèo đò).
  • Biến đổi trong nghi lễ mưu sinh: Các nghi lễ nông nghiệp truyền thống nhạt nhòa, thay vào đó là sự gia tăng các nghi thức cầu tài, cầu lộc, cúng Thần Tài tại các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch nhằm cầu mong "buôn may bán đắt" trong mùa lễ hội.

Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi và vấn đề đặt ra với sự biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch

  • Các yếu tố tác động: Sự chuyển dịch cơ chế kinh tế thị trường, chính sách quy hoạch du lịch của Nhà nước và thành phố Hà Nội, tác động giao lưu văn hóa qua du khách thập phương, và sự phân hóa lợi ích kinh tế giữa các thôn trong xã.
  • Các xu hướng biến đổi:
    • Xu hướng thích ứng hoàn toàn (chiếm tỷ lệ lớn tại thôn Yến Vĩ, Đục Khê): chuyển đổi hẳn sang làm dịch vụ du lịch chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp.
    • Xu hướng giữ nguyên nghề truyền thống: duy trì canh tác nông nghiệp tại các thôn xa khu di tích (Phú Yên, Hội Xá).
    • Xu hướng đan xen: làm nông nghiệp trong mùa nông nhàn và tham gia chèo đò, làm dịch vụ trong 3 tháng xuân hội Chùa Hương.
  • Vấn đề đặt ra và chiến lược: Mâu thuẫn giữa khai thác kinh tế và bảo tồn di sản; tình trạng ô nhiễm môi trường dòng suối Yến và khu di tích; tính thời vụ cao dẫn đến sự bất ổn định sinh kế trong 9 tháng còn lại của năm; sự xói mòn chuẩn mực ứng xử truyền thống của người dân địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án hệ thống hóa và làm rõ khung lý thuyết về văn hóa mưu sinh và biến đổi văn hóa mưu sinh dưới góc nhìn của chuyên ngành Văn hóa học, phân biệt với các tiếp cận thuần túy của Nhân học kinh tế hay Xã hội học phát triển.
  2. Hoàn thiện khung phân tích thực nghiệm gồm 5 nguồn lực mưu sinh kết hợp 3 biểu hiện văn hóa (ứng xử nguồn lực, hoạt động nghề nghiệp, nghi lễ tâm linh) áp dụng cho cộng đồng cư dân nông nghiệp chuyển đổi sang du lịch tại không gian di sản.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phục dựng bức tranh văn hóa mưu sinh truyền thống trước năm 1990 của cư dân xã Hương Sơn, bảo lưu các tri thức dân gian bản địa về canh tác nông nghiệp vùng trũng và khai thác rừng đá vôi.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng chuyển đổi nghề nghiệp, phân hóa thu nhập và các hệ lụy văn hóa - xã hội tại địa bàn Hương Sơn từ sau năm 1990 đến năm 2018.
  3. Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức và Ban Quản lý Di tích Hương Sơn trong việc hoạch định chính sách quản lý lễ hội, kiểm soát dịch vụ thuyền đò, và định hướng phát triển sinh kế bền vững gắn với bảo tồn di tích.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Nâng cao tính chuyên nghiệp và văn hóa ứng xử của cư dân tham gia chèo đò và dịch vụ du lịch;
  • Quy hoạch lại hệ thống dịch vụ ăn uống, lưu trú và bán hàng lưu niệm, kiểm soát chất lượng và nguồn gốc sản phẩm;
  • Xử lý dứt điểm các hiện tượng tiêu cực trong mùa lễ hội như nạn "cò" mồi, đổi tiền lẻ hưởng chênh lệch, chèo kéo và ép giá du khách;
  • Phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm nông nghiệp nhằm khắc phục tính mùa vụ, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho cư dân trong 9 tháng không có lễ hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn địa bàn khảo sát trọng tâm tại xã Hương Sơn (huyện Mỹ Đức), chưa mở rộng khảo sát so sánh sâu với các xã khác cùng nằm trong không gian phụ cận của thắng cảnh Hương Sơn (như An Tiến, An Phú, Hùng Tiến). Dữ liệu điều tra xã hội học dừng lại ở thời điểm khảo sát năm 2017–2018.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu biến đổi văn hóa mưu sinh tại các quần thể di sản văn hóa tâm linh tương đồng ở miền Bắc Việt Nam (như Yên Tử, Bái Đính, Tam Chúc); theo dõi biến động sinh kế của cư dân địa phương dưới tác động của các dự án quy hoạch hạ tầng du lịch quy mô lớn trong giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Du lịch học, Xã hội học và Nhân học nghiên cứu về văn hóa sinh kế và biến đổi văn hóa làng xã.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các học phần Văn hóa học ứng dụng, Quản lý di sản, Văn hóa nông thôn Việt Nam.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và nhà hoạch định chính sách: Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn, các cơ quan quản lý văn hóa, thể thao và du lịch tại địa phương trong công tác tổ chức lễ hội và quản lý sinh kế cộng đồng cư dân vùng di sản.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Khung phân tích văn hóa mưu sinh (Chương 1) và tư liệu thực địa về văn hóa chèo đò, công cụ lao động cổ truyền, ứng xử với nguồn lực tự nhiên vùng bán sơn địa Hương Sơn (Chương 2 và Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "Văn hóa mưu sinh" được tác giả luận án định nghĩa như thế nào?
Trả lời: Luận án định nghĩa văn hóa mưu sinh là hệ thống hữu cơ những yếu tố vật chất và tinh thần từ sự thích ứng, cách ứng xử của chủ thể mưu sinh với môi trường tự nhiên, xã hội trong các phương thức sinh hoạt nhằm bảo đảm sinh tồn, giảm nghèo hay phát triển cuộc sống.

2. Khung phân tích sự biến đổi văn hóa mưu sinh của luận án gồm những nội dung nào?
Trả lời: Khung phân tích gồm 3 nội dung chính: (1) Văn hóa ứng xử với 5 nguồn lực mưu sinh (tự nhiên, vật chất, xã hội, con người, tài chính); (2) Văn hóa thể hiện trong các hoạt động mưu sinh (nghề nghiệp, công cụ, kỹ năng, kinh nghiệm); (3) Văn hóa thể hiện trong các nghi lễ gắn với mưu sinh (nghi lễ cộng đồng và nghi lễ gia đình).

3. Tác giả đã sử dụng những công cụ điền dã thực địa cụ thể nào để thu thập dữ liệu?
Trả lời: Tác giả sử dụng quan sát trực tiếp, quan sát tham dự qua phương thức "3 cùng" (nghỉ dài ngày tại gia đình người dân ở thôn Yến Vĩ, trực tiếp tham gia chèo đò, làm nương, trồng rau sắng, làm mắm tép; đóng vai hướng dẫn viên du lịch và điều hành tour), phỏng vấn sâu 4 nhóm đối tượng và điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên mẫu 350 người.

4. Trước năm 1990, cư dân xã Hương Sơn đã sáng tạo ra những công cụ lao động đặc thù nào để thích ứng với địa hình canh tác khó khăn?
Trả lời: Cư dân đã sáng tạo ra "ván cấy" để phục vụ cấy lúa trên các chân ruộng trũng ngập nước và "cuốc con gà" (loại cuốc nhỏ, lưỡi bén đất) để bổ hốc, tạo lỗ gieo trồng trên địa hình sườn thung dốc đá vôi.

5. Luận án chỉ ra những xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh chủ yếu nào trong bối cảnh phát triển du lịch tại Hương Sơn?
Trả lời: Luận án chỉ ra 3 xu hướng biến đổi: (1) Xu hướng thích ứng hoàn toàn (chuyển đổi hẳn từ nông nghiệp sang làm kinh tế dịch vụ du lịch); (2) Xu hướng giữ nguyên nghề nghiệp truyền thống (tiếp tục làm nông - lâm nghiệp, ít chịu tác động của du lịch); (3) Xu hướng biến đổi đan xen (kết hợp linh hoạt giữa nông nghiệp và dịch vụ theo mùa vụ lễ hội).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Hải Yến là công trình nghiên cứu hệ thống về sự chuyển đổi phương thức kiếm sống và nếp sống văn hóa của cư dân xã Hương Sơn dưới tác động của hoạt động du lịch từ năm 1990 đến năm 2018. Thông qua việc vận dụng lý thuyết sinh kế và tiếp biến văn hóa, tác giả đã làm rõ quy luật biến đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế dịch vụ tâm linh, chỉ ra các mặt tích cực về thu nhập cùng những mâu thuẫn trong bảo tồn di sản. Công trình cung cấp hệ thống cứ liệu thực địa chi tiết và đề xuất các định hướng nhằm xây dựng mô hình văn hóa mưu sinh bền vững cho cộng đồng cư dân vùng di tích Hương Sơn.