Luận án tiến sĩ biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã hương sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội trong bối cảnh phát triển du lịch

Luận án tiến sĩ phân tích biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã hương sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội trong bối cảnh phát, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

232
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến biến đổi văn hóa mưu sinhphát triển du lịch tại Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội. Các nghiên cứu được chia thành ba lĩnh vực chính: lý thuyết về biến đổi văn hóa, văn hóa mưu sinh, và phát triển du lịch. Các nghiên cứu nước ngoài và trong nước đều nhấn mạnh sự thay đổi của văn hóa trong bối cảnh hiện đại hóa và đô thị hóa, đặc biệt là sự tác động của du lịch đến văn hóa địa phương.

1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Các nghiên cứu nước ngoài tập trung vào lý thuyết về biến đổi văn hóa và sự tương tác giữa các nền văn hóa. Các tác giả như E.Morgan và David Popenoe đã đề cập đến sự thay đổi văn hóa trong quá trình hiện đại hóa, đặc biệt là sự giao thoa văn hóa giữa các cộng đồng. Nghiên cứu của Pamela Balls Organista và cộng sự cũng nhấn mạnh vai trò của biến đổi văn hóa trong việc hình thành hành vi và thái độ của các cá nhân khi tiếp xúc với nền văn hóa mới.

1.2 Nghiên cứu trong nước

Trong nước, các nghiên cứu về biến đổi văn hóa tập trung vào sự thay đổi của làng xã và nông thôn trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Các tác giả như Tô Duy Hợp và Nguyễn Thị Phương Châm đã phân tích sự biến đổi của văn hóa truyền thống dưới tác động của kinh tế thị trường và du lịch. Các nghiên cứu này cung cấp cơ sở lý luận quan trọng để hiểu rõ hơn về biến đổi văn hóa mưu sinh trong bối cảnh phát triển du lịch tại Hương Sơn.

II. Văn hóa mưu sinh của cư dân Hương Sơn trước khi phát triển du lịch

Chương này phân tích văn hóa mưu sinh của cư dân Hương Sơn trước năm 1990, khi du lịch chưa phát triển mạnh. Các hoạt động mưu sinh chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đánh bắt cá, và các nghề thủ công truyền thống. Văn hóa mưu sinh được thể hiện qua cách ứng xử với các nguồn lực tự nhiên, các nghi lễ gắn liền với hoạt động mưu sinh, và các giá trị văn hóa truyền thống.

2.1 Văn hóa ứng xử với các nguồn lực mưu sinh

Cư dân Hương Sơn có cách ứng xử hài hòa với các nguồn lực tự nhiên như đất đai, sông nước, và rừng. Các hoạt động mưu sinh được thực hiện dựa trên nguyên tắc bảo vệ môi trường và duy trì sự cân bằng sinh thái. Các nghi lễ như cúng tế thần linh, cầu mưa, và cầu mùa màng bội thu là một phần không thể thiếu trong văn hóa mưu sinh truyền thống.

2.2 Văn hóa thể hiện trong các hoạt động mưu sinh

Các hoạt động mưu sinh như trồng lúa, đánh bắt cá, và làm nghề thủ công được thực hiện theo phương thức truyền thống, dựa trên kinh nghiệm và kiến thức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các giá trị văn hóa như tinh thần cộng đồng, sự đoàn kết, và tôn trọng thiên nhiên được thể hiện rõ nét trong các hoạt động này.

III. Thực trạng biến đổi văn hóa mưu sinh trong bối cảnh phát triển du lịch

Chương này tập trung vào sự biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân Hương Sơn sau năm 1990, khi du lịch bắt đầu phát triển mạnh. Các hoạt động mưu sinh truyền thống dần được thay thế bằng các dịch vụ du lịch như hướng dẫn viên, bán hàng lưu niệm, và cung cấp dịch vụ ăn uống. Sự biến đổi này đã tác động đến cách ứng xử với các nguồn lực tự nhiên, các nghi lễ truyền thống, và đời sống văn hóa của cộng đồng.

3.1 Biến đổi trong ứng xử với các nguồn lực mưu sinh

Sự phát triển của du lịch đã làm thay đổi cách ứng xử của cư dân với các nguồn lực tự nhiên. Các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ du lịch đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên. Các nghi lễ truyền thống gắn liền với mưu sinh cũng dần bị mai một do sự thay đổi trong cách thức sinh kế.

3.2 Biến đổi trong các hoạt động mưu sinh

Các hoạt động mưu sinh truyền thống như trồng lúa và đánh bắt cá đã được thay thế bằng các dịch vụ du lịch. Cư dân Hương Sơn đã chuyển sang làm hướng dẫn viên, bán hàng lưu niệm, và cung cấp dịch vụ ăn uống cho khách du lịch. Sự biến đổi này đã mang lại thu nhập cao hơn nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống.

IV. Yếu tố tác động và xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh

Chương này phân tích các yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân Hương Sơn, bao gồm sự phát triển của du lịch, chính sách quản lý, và sự thay đổi trong nhận thức của cộng đồng. Các xu hướng biến đổi được dự báo dựa trên sự tương tác giữa các yếu tố này, đồng thời đặt ra các vấn đề cần giải quyết để phát triển du lịch bền vững và bảo tồn văn hóa địa phương.

4.1 Yếu tố tác động

Sự phát triển của du lịch là yếu tố chính dẫn đến biến đổi văn hóa mưu sinh tại Hương Sơn. Các chính sách quản lý và đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thay đổi này. Ngoài ra, sự thay đổi trong nhận thức của cộng đồng về giá trị của du lịch và văn hóa truyền thống cũng là yếu tố không thể bỏ qua.

4.2 Xu hướng biến đổi

Xu hướng chính của biến đổi văn hóa mưu sinh là sự chuyển dịch từ các hoạt động truyền thống sang các dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, sự biến đổi này cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển du lịch bền vững. Các giải pháp cần được đề xuất để cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã hương sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội trong bối cảnh phát triển du lịch

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận án bố cục thành 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn xã Hƣơng Sơn; Chƣơng 2. Văn hóa mƣu sinh của cƣ dân xã Hƣơng Sơn trƣớc khi phát triển du lịch (trƣớc năm 1990); Chƣơng 3. Thực trạng biến đổi văn hóa mƣu sinh của cƣ dân xã Hƣơng Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch (sau năm 1990); Chƣơng 4.

Những yếu tố tác động, xu hƣớng biến đổi và vấn đề đặt ra với sự biến đổi văn hóa mƣu sinh của cƣ dân xã Hƣơng Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN XÃ HƢƠNG SƠN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Qua khảo cứu các công trình liên quan, NCS chia vấn đề nghiên cứu thành 3 lĩnh vực: 1) Những nghiên cứu lý thuyết về sự biến đổi văn hóa nói chung; 2) Những nghiên cứu về Văn hóa mƣu sinh; và 3) Những nghiên cứu về phát triển du lịch xã Hƣơng Sơn nói chung và vùng văn hóa Hƣơng Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội nói riêng. Nghiên cứu về biến đổi văn hóa 1.

Nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu về biến đổi VH đầu tiên xuất hiện ở Mỹ gắn với tên tuổi các nhà khoa học nhƣ: E.Morgan (1818- 1881) với quan điểm ủng hộ Thuyết tiến hóa văn hóa khi phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung mẫu biến đổi xã hội và BĐVH. Mô hình đơn tuyến này đƣợc nhìn nhận là kém văn minh, con ngƣời sống và bị ràng buộc chặt chẽ bởi phong tục do vậy SBĐVH diễn ra nhìn chung chậm; trong khi đó, BĐVH phƣơng Tây đƣợc đánh giá là nhanh, năng động. Quan điểm của hai tác giả là cơ sở để phát triển thuyết “Châu Âu trung tâm”, để ngƣời Đức khẳng định “Đức là dân tộc thƣợng đẳng” một thời, hay ngƣời Mỹ khẳng định “Mỹ nhƣ một con lạc đà đi những vết chân lớn, những quốc gia đi sau chỉ cần theo những bƣớc chân đó để lên tới thiên đƣờng” [1]. Do vậy, mặc dù là một trong những những lý thuyết đầu tiên về vấn đề VH và BĐVH, nhƣng hiện nay vẫn bị đánh giá là thiên kiến, đề cao chủ nghĩa dân tộc vị kỷ.Halpern đã công bố những khái niệm về sự giao lƣu và BĐVH của hai hay nhiều nền VH ở nông thôn, đô thị; cuộc cách mạng văn hóa nông thôn, ý nghĩa của những chƣơng trình biến đổi và tƣơng lai của cộng đồng làng quê điển hình ở Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ [112].

Quan niệm nghiên cứu này có phần giống với Ronald Inghart và Waye E.Baker trong cuốn: Hiện đại hóa, biến đổi văn hóa và sự duy trì giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, Ronald Inghart và Wayne E.Baker đã có một bƣớc tiến xa hơn trong việc đƣa ra thêm thông tin về hệ 10 thống lý thuyết và SBĐVH trong xã hội trong tiến trình hiện đại hóa Những nghiên cứu này là tiền đề để phát triển các lý thuyết về BĐVH về sau của các tác giả: G. Năm 1991, mở rộng hơn những nghiên cứu về BĐVH, David Popenoe [25, tr.82-87] đã đƣa ra các khái niệm vùng VH, loại hình VH, trung tâm VH, tổ hợp VH, biến đổi trung tâm hay ngoại vi vùng VH… Năm 2003, Paul N.Lakey [121] đã chỉ ra quá trình biến đổi, thích nghi với văn hóa mới của cƣ dân khi tiếp xúc với nền văn hóa khác dƣới góc độ giao tiếp, khẳng định vai trò của giao tiếp trong BĐVH. Nghiên cứu về SBĐVH dƣới góc nhìn tâm lý học, năm 2010 [120] các tác giả Pamela Balls Organista, Gerardo Marin, và Kevin M.

Chun có đề cập tới vấn đề BĐVH với những nội dung quan trọng của khái niệm, vai trò của biến đổi văn hóa khi nghiên cứu tâm lý các tộc ngƣời. Theo Pamela, Kevin và Martin: BĐVH đƣợc đề cập để lý giải hay phán đoán hành vi cá nhân khi tiếp xúc với một nền văn hóa mới. Các cá nhân thay đổi theo các chiến lƣợc BĐVH mà họ chọn lựa, đồng thời có sự liên hệ tới các áp lực BĐVH. BĐVH hình thành hành vi và thái độ để xác định các khuôn mẫu.

Tiếp biến văn hóa diễn ra tất yếu ở chủ thể trƣớc thế giới quan hình thành thái độ, giá trị và hành vi… trong quá trình di cƣ và tiếp nối thế hệ của họ. Trong đánh giá về các vấn đề BĐVH, phƣơng pháp tiếp cận (2011), Ozgur Celenk và Fons J. Vande Vijver đƣa ra quan niệm về BĐVH đƣợc hiểu là: “là quá trình thay đổi khi những cá thể từ các nền VH khác nhau có sự tiếp xúc trực tiếp với nhau lâu dài và liên tục dẫn đến SBĐ của bản thân cá thể (giá trị, thái độ, niềm tin và phẩm chất) cũng như SBĐ của nhóm cá thể (hệ thống xã hội và văn hóa). Những hình thức quan trọng nhất của quá trình BĐVH bao gồm các yếu tố tiên quyết (điều kiện BĐVH), chiến lược (xu hướng BĐVH) và kết quả (của BĐVH)” [119].

Nhƣ vậy, sau 10 năm phát triển vấn đề BĐVH trên thế giới, (so với thời David Popenoe với tác phẩm Đời sống đô thị và SBĐ đã nêu trên), bên cạnh những kế thừa từ các công trình nghiên cứu cũ về khái niệm, bản chất của BĐVH, đến thời kỳ nghiên cứu của mình (năm 2011) tác giả Ozgur Celenk đã có những bƣớc tiến trong nghiên cứu về SBĐVH so với những nghiên cứu thời kỳ trƣớc đó nhƣ: những biểu hiện của BĐVH và dự báo đƣợc những xu hƣớng BĐVH. Nghiên cứu ở trong nước Thuật ngữ “acculturation” trong nƣớc đƣợc hiểu nhƣ sự: giao lƣu, tiếp biến, tiếp nhận, tƣơng tác, tiếp thu. Những hiện tƣợng hay vấn đề về BĐVH nói chung ở trong nƣớc cũng rất sớm đã có nhiều công trình khoa học, bài viết đề cập đến các mức độ đậm nhạt khác nhau, đơn cử: Năm 1997, tác giả Tƣơng Lai đã đƣa ra các cơ sở lý luận về biến đổi xã hội, tiếp cận về SBĐVH dƣới góc nhìn xã hội học [43]. Tác giả Lƣơng Hồng Quang cho ra đời công trình nghiên cứu về văn hóa nông thôn trong phát triển sau 2 năm (1997- 1999); Tôn Nữ Quỳnh Trân cùng đồng nghiệp đã công bố công trình nghiên cứu về VH làng xã trƣớc thách thức của đô thị hóa, trong đó có đề cập tới SBĐ của đời sống xã hội và nông thôn trƣớc tác động của xã hội hóa, sự xuất hiện những nhân tố mới trong đời sống cộng đồng cƣ dân vùng nghiên cứu.

Năm 2000, tác giả Tô Duy Hợp [37] viết về những biến đổi của làng xã Việt truyền thống trong bối cảnh phát triển đƣơng đại. Không gian nghiên cứu tại đồng bằng Sông Hồng; tác giả Hà Huy Thành (2002) cũng đƣa ra những lý luận về BĐVH về các vấn đề thực tiễn đô thị hóa Việt Nam. Vấn đề nghiên cứu về BĐVH làng, sự phát triển và tác động của kinh tế thị trƣờng ở nông thôn đƣợc nghiên cứu trong các đề tài cấp Bộ: của Viện Nghiên cứu VH (2007) tại Hà Nội về Biến đổi văn hóa làng xã trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa; của Nguyễn Thanh Tuấn (2008) [81] về những đặc điểm của SBĐ; của Lê Thanh Sang (2008), tiếp tục phát triển của tác giả Hà Huy Thành về đô thị hóa và đồng thời cũng đƣa ra cấu trúc đô thị Việt Nam trƣớc và sau đổi mới của những năm 1979 - 1989. Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu nêu trên đƣa ra những mô tả về VH đô thị thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những cơ sở dữ liệu ban đầu về sự chuyển biến của VH đô thị trong bối cảnh xã hội mới, nguyên nhân SBĐ xã hội và những định hƣớng giá trị trong SBĐ đô thị.

Năm 2009, Nguyễn Thị Phƣơng Châm đƣa ra những công bố mới về BĐVH nông thôn trong bối cảnh đất nƣớc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đời sống tôn giáo, tín ngƣỡng, quan hệ xã hội cho đến các biểu hiện văn hóa cụ thể của làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng [20]. Công trình đã phân tích các lý thuyết về BĐVH và cũng 12 mối liên hệ hữu cơ giữa các nhân tố phát triển của cƣ dân gốc nông nghiệp trong quá trình hiện đại hóa đất nƣớc. Vấn đề BĐVH đô thị cũng đã đƣợc thực hiện trong luận án tiến sĩ Văn hóa học của Phan Đăng Long năm 2011 [49] đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận về BĐVH đô thị từ sau đổi mới, những biểu hiện của SBĐ đó trong đô thị hiện nay. Trong luận án tác giả cũng đƣa ra các dự báo hay xu hƣớng phát triển của những biến đổi này so với tiến trình phát triển đô thị thời kì mở cửa.

Từ góc nhìn văn hóa học, luận án tiến sĩ của Vũ Diệu Trung [85] đã công bố về những biến đổi văn hóa làng nghề ở Sơn Đồng; Bát Tràng; Đồng Xâm, Thái Bình (2013), đƣa ra các khái niệm làng nghề, văn hóa làng nghề, BĐVH làng nghề. Những biểu hiện BĐVH làng nghề đƣợc đề cập trên phƣơng diện: 1) Không gian, cảnh quan và di tích; 2) Biến đổi phƣơng thức truyền nghề và bí quyết giữ gìn nghề nghiệp; 3) Biến đổi hình thức tổ chức sản xuất; 4) Biến đổi về quan niệm và quan hệ xã hội; 5) Biến đổi tín ngƣỡng, lễ hội và phong tục tập quán. Luận án cũng đƣa ra các giải pháp cho các nhà quản lý trong khai thác di sản văn hóa làng nghề. Thực ra, những nghiên cứu về BĐVH trong nƣớc mới chủ yếu giới thiệu hoặc vận dụng lý thuyết về BĐVH để nghiên cứu các vấn đề về biến đổi văn hóa.

Nghiên cứu về văn hóa mưu sinh 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ “Mƣu sinh” (sinh kế hay phƣơng kế sinh nhai) - livelihood đã đƣợc nghiên cứu từ lâu trong nhiều công trình khoa học xã hội trên thế giới, gắn với nhiều tác giả của những chuyên ngành khác nhau. Hiện nay, tồn tại hai nguồn lý luận khác nhau khẳng định về ngƣời đầu tiên tiếp cận khái niệm này: 1) Theo tìm hiểu của NCS; Bùi Thị Bích Lan (2013); Nguyễn Đức Hữu (2015); Nguyễn Văn Tạo (2016) - trong khuôn khổ các luận án những năm gần đây và trong tài liệu của Nguyễn Văn Sửu [62]: Vào những năm 80 của thế kỷ trƣớc, Robert Chambers là ngƣời đầu tiên tiếp cận khái niệm livelihood. 2) Theo tác giả Trần Bình và những nhà nghiên cứu ngành văn hóa dân tộc khẳng định: Nhóm các nhà nghiên cứu Makarian (Eurevan, Liên Xô cũ) là những ngƣời đầu tiên nghiên cứu về VHMS trên 13 thế giới [67].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Biến đổi văn hóa mưu sinh ở Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội trong phát triển du lịch là một tài liệu sâu sắc khám phá sự thay đổi trong các hoạt động mưu sinh truyền thống tại khu vực Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội, dưới tác động của phát triển du lịch. Tài liệu này không chỉ phân tích cách thức cộng đồng địa phương thích nghi với các cơ hội kinh tế mới mà còn làm nổi bật sự giao thoa giữa văn hóa truyền thống và hiện đại. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách du lịch có thể trở thành động lực thúc đẩy bảo tồn văn hóa và phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ sạp thái ở tây bắc xưa và nay nghiên cứu địa bàn huyện điện biên tỉnh điện biên 02, nơi khám phá sự biến đổi văn hóa và kinh tế trong bối cảnh phát triển hiện đại. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005 cung cấp góc nhìn về cách chính sách ảnh hưởng đến văn hóa và kinh tế địa phương. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học quản trị tốt trong lĩnh vực hộ tịch từ thực tiễn tỉnh hà nam giúp hiểu rõ hơn về quản lý và phát triển cộng đồng.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự biến đổi văn hóa và kinh tế trong bối cảnh phát triển hiện đại.