đặt vấn đề đó đã chỉ ra nhu cầu xác lập các cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, bảo đảm QCN, QCD của mình. Luận án tiến sĩ “Pháp luật bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Mai Văn Duẩn [16]; Luận án tiến sĩ “Bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Sỹ [59];. đây là các công trình nghiên cứu công phu về thực trạng pháp luật Việt Nam đối với việc bảo vệ người tố cáo. Tác giả chỉ ra nhiều điểm bất cập trong các quy định 12 của hệ thống pháp luật nước ta cũng như việc tổ chức bảo vệ người tố cáo, điều đó cho thấy quyền tố cáo của công dân chưa được đảm bảo nên người dân chưa yên tâm khi tố cáo, đặc biệt là tố cáo về tham nhũng.
Tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo đảm quyền tố cáo của công dân, đặc biệt ở khía cạnh bảo vệ người tố cáo. Luận án Tiến sĩ “Quyền được thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2014 của tác giả Thái Thị Tuyết Dung; Luận án Tiến sĩ “Quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, 2016 của tác giả Bùi Thị Hải, luận án làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về quyền tiếp cận thông tin nói chung và quyền tiếp cận thông tin trong QLHCNN nói riêng của người dân, chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin, đánh giá thực trạng thực hiện quyền tiếp cận thông tin; đề xuất các quan điểm, giải pháp xây dựng, củng cố khuôn khổ pháp lý về quyền tiếp cận thông tin nói chung và quyền tiếp cận thông tin trong QLHCNN nói riêng phù hợp với Hiến pháp, thông lệ quốc tế và hoàn cảnh, điều kiện thực tế của Việt Nam. Sách chuyên khảo: “Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017 là công trình công phu tổng quan các quyền hiến định, bao gồm cả các quyền cụ thể và quyền hàm chứa, tổ chức thực hiện. Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực về các quyền hiến định và bảo đảm thực hiện các quyền đó trong Hiến pháp năm 2013.
Luận án tiến sĩ Luật học “Những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân” [34] của tác giả Trần Thanh Hương đã làm rõ cơ sở lý luận và khái quát thực trạng bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tự do cá 13 nhân, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện bảo đảm pháp lý cho vấn đề này. Tuy chỉ tìm hiểu về lĩnh vực tự do cá nhân nhưng qua đó cũng có thể thấy được một số nội dung trong tổng thể hoạt động BĐQCD. Bài viết “Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” của tác giả Phùng Trung Tập, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát số 02/2018, theo tác giả, cá nhân là một thực thể của tự nhiên và là chủ thể của quan hệ xã hội. Cá nhân với tư cách chủ thể độc lập trong quan hệ xã hội, quan hệ dân sự, kinh tế, lao động, thương mại và các quan hệ khác trong phạm vi thời gian và không gian nhất định.
Do vậy mỗi cá nhân có đời sống riêng tư, nội hàm của đời sống riêng tư có bí mật cá nhân và do đó Các quyền nhân thân về đời sống riêng tư của cá nhân, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là các quyền nhân thân bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Bài viết được tác giả phân tích theo quy định tại Điều 21 Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Luận văn “Tòa hành chính – thiết chế cơ bản bảo vệ quyền công dân”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Thị Như, 2012; Luận án tiến sĩ“Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xét xử các vụ án hành chính ở Việt Nam” Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Vũ Thị Hòa, 2015. Các tác giả đều đồng nhất quan điểm thiết chế Tòa án hành chính có chức năng giải quyết các khiếu kiện hành chính, phán quyết tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của QĐHC hoặc HVHC của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước, khi những quyết định và hành vi đó xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; kiểm soát hữu hiệu hoạt động của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành xã hội, khắc phục những biểu hiện cửa quyền, lạm quyền, lộng quyền hoặc trốn tránh thẩm quyền, vô trách nhiệm trước nhân dân, bảo đảm, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Luận án “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà 14 nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Thanh Tịnh, 2017, theo tác giả trách nhiệm bồi thường nhà nước là một biểu hiện của NNPQ. Thực thi dân chủ, bảo đảm QCN, quyền tự do, dân chủ của công dân là yêu cầu đối với NNPQ. Thông qua cơ chế pháp luật, nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị xử lý và phải chịu chế tài theo quy định của pháp luật mà không có sự phân biệt chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật là tổ chức, cá nhân hay Nhà nước.
Việc thừa nhận trách nhiệm bồi thường nhà nước và thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi trách nhiệm pháp lý này là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tác giả làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường nhà nước; chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trước những yêu cầu của việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước, thiết lập cơ chế pháp lý thuận lợi và khả thi để bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của công dân đối với những thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong điều kiện NNPQ XHCN Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp 2013. Luận án là tài liệu tham khảo cho NCS thực hiện đề tài của mình về một trong những BĐQCD trong hoạt động của CQHCNN ở Việt Nam. - “Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (một số vấn đề có tính định hướng phương pháp luận, định hướng nghiên cứu” của GS.
Phạm Hồng Thái, ThS. Nguyễn Thị Thu Hương, tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học (28), Hà Nội, 2012. Các tác giả nghiên cứu khái quát vai trò và nội dung, thủ tục của pháp luật hành chính trong việc bảo đảm, bảo vệ QCN, QCD, tác giả đã chỉ ra những vấn đề có tính phương pháp luật, định hướng nghiên cứu bảo đảm, bảo vệ QCN, QCD trong 15 pháp luật hành chính và việc cần hoàn thiện pháp luật hành chính trong việc bảo đảm, bảo vệ các QCN, QCD ở Việt Nam hiện nay. Theo các tác giả bảo đảm, bảo vệ QCN, QCD trong pháp luật vật chất là một lĩnh vực rất rộng lớn, theo quan niệm phổ biến hiện nay, Luật hành chính là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hành chính hay quản lý hành chính nhà nước.
Lĩnh vực pháp luật này là cơ sở để xác định địa vị pháp lý hành chính của các chủ thể pháp luật hành chính: các CQHCNN; các tổ chức xã hội; công dân, các tổ chức của công dân. Trong đó, việc xác định địa vị pháp lý của công dân trong hành chính - xác định mối quan hệ giữa hành chính công và công dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó còn có các chế định pháp luật hành chính về cưỡng chế hành chính; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; chế định về thanh tra hành chính. Đây là những chế định pháp luật hành chính trực tiếp liên quan tới QCN và QCD, vừa là công cụ để bảo vệ QCN, QCD, nhưng đồng thời cũng là những chế định rất dễ vi phạm tới QCN, QCD, đặc biệt chế định về cưỡng chế hành chính.
Tài liệu nước ngoài Cuốn “Alternative to Slince Wishtleblower Protection in 10 European countries” (Những lựa chọn cho việc bảo vệ người tố cáo ở 10 nước châu Âu), các tác giả Osterhaus, Anja và Fagan, Craig (2009) thừa nhận những người tố cáo đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện tham nhũng, gian lận và quản lý yếu kém, cũng như ngăn ngừa thảm họa phát sinh từ sự bất cẩn hay hành vi sai trái [1]. Theo các tác giả, người tố cáo thường phải chịu rủi ro lớn về bản thân mình để bảo vệ lợi ích công. Việc công khai những thông tin chống lại cấp trên, đồng nghiệp, đối tác kinh doanh hay khách hàng cũng có nghĩa là người tố cáo đang mạo hiểm việc làm, thu nhập và sự an toàn của chính mình [1]. Tuy nhiên, thay vì được lắng nghe và biểu dương vì sự can đảm này, hầu hết họ lại vấp lại thái độ thờ ơ hoặc không tin tưởng, và báo 16 cáo của họ không được điều tra thỏa đáng.
Thông thường, những người tố cáo phải mất hàng năm trời kiện tụng, đấu tranh đòi thừa nhận quyền lợi của mình cho các trường hợp họ đã tố cáo được điều tra một cách đầy đủ. Hậu quả mà họ phải gánh chịu có thể là những vấn đề về sức khỏe, tình trạng trầm cảm và nghỉ hưu sớm. Chính vì vậy, pháp luật cần đóng vai trò bảo vệ đầy đủ cho người tố cáo. - Các nghiên cứu: Arnel Cezar, Pháp luật và chính sách về TNBTCNN ở Phi-Líp-Pin, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật và chính sách về TNBTCNN” - Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2007; Alfredo Santos, TNBTCNN ở Liên bang Thụy Sỹ, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật về bồi thường nhà nước” - Nhà Pháp luật Việt Pháp, Hà Nội, 10, 11 tháng 9 năm 2007; Christian A.