Tổng quan luận án

Tình trạng người chưa thành niên tham gia vào thị trường lao động tại Việt Nam gắn liền với các chuyển biến kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ lịch sử. Trước năm 1986, trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và thiết chế gia đình truyền thống, người chưa thành niên chủ yếu phụ giúp việc nhà và hầu như không xuất hiện hiện tượng tham gia quan hệ lao động. Bước sang thời kỳ đổi mới kinh tế từ năm 1986, việc cắt giảm một phần nguồn chi bao cấp trong các lĩnh vực an sinh, y tế, giáo dục đã làm gia tăng tỷ lệ trẻ em bỏ học ở các nhóm yếu thế, đồng thời sự phát triển của kinh tế tư nhân và kinh tế hộ gia đình đã tạo lực hút sử dụng lao động chưa thành niên.

Theo các báo cáo khảo sát của Cục An toàn lao động (2006) và báo cáo thanh tra của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (giai đoạn 2007–2010), thực trạng vi phạm pháp luật đối với người lao động chưa thành niên diễn ra tương đối phổ biến, tập trung vào các khía cạnh: giao kết hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và việc bố trí làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Bên cạnh đó, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu tuân thủ các cam kết theo Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu làm việc (1973) và Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (1999) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Việc chậm đổi mới các quy định pháp luật (chủ yếu tập trung tại các Điều 119 đến Điều 122 Bộ luật Lao động năm 1994 cùng ba Thông tư hướng dẫn), sự thiếu đồng bộ giữa Bộ luật Lao động với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cùng với việc thiếu vắng các nghiên cứu pháp lý chuyên sâu và toàn diện là khoảng trống nghiên cứu mà tác giả Nguyễn Đình Nhâm lựa chọn giải quyết trong luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 62.01) tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (văn bản ghi ĐẠI HỌC THIÊN HÀ NỘI KHOA LUẬT) năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Thị Hằng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về người lao động chưa thành niên và sự điều chỉnh của pháp luật đối với đối tượng này, đồng thời xác lập hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về người lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế. Luận án thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và sự điều chỉnh của pháp luật lao động đối với người lao động chưa thành niên, cũng như tác động của tiến trình hội nhập quốc tế đối với pháp luật điều chỉnh nhóm đối tượng này.
  2. Nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật lao động về người lao động chưa thành niên ở Việt Nam và việc thực thi trên thực tế, chỉ rõ các ưu điểm, hạn chế và bất cập cần khắc phục.
  3. Xác lập các yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về người lao động chưa thành niên trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã tổng kết.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống quy định pháp luật lao động trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành; các quy định liên quan trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi năm 2011), Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006; cùng hệ thống tiêu chuẩn lao động quốc tế (trọng tâm là Công ước 138, Công ước 182) và pháp luật của một số quốc gia. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở nhóm đối tượng người lao động chưa thành niên trong mối quan hệ lao động "làm công ăn lương", đồng thời mở rộng nghiên cứu sang giai đoạn "tiền quan hệ lao động" (việc làm, học nghề) và các mối quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề lao động chưa thành niên và lao động trẻ em đã được tiếp cận qua nhiều công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các giác độ khác nhau:

Nghiên cứu quốc tế:

  • Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lao động Philippin (1994) với công trình "Nghiên cứu tổng hợp về lao động trẻ em ở Philippin", phân tích nguyên nhân và định hướng chính sách nhằm loại bỏ tuyển dụng trái phép trẻ em dưới 15 tuổi hoặc làm việc độc hại dưới 18 tuổi.
  • Công trình của Bharati Pflug (2002) "Tổng quan về lao động trẻ em giúp việc gia đình ở Châu Á", tập trung làm rõ thực trạng, nguyên nhân, tác động tiêu cực và đề xuất giải pháp pháp lý tại ba quốc gia Indonesia, Nepal và Thái Lan trong phạm vi lao động giúp việc gia đình.
  • Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (2006) mang tên "Chấm dứt lao động trẻ em: trong tầm tay", cung cấp bức tranh toàn cảnh về lao động trẻ em trên thế giới và khuyến nghị các chương trình hành động kinh tế - xã hội ở cấp quốc gia.

Nghiên cứu trong nước:

  • Nhóm giáo trình đào tạo luật: Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật Đại học Cần Thơ, tiếp cận vấn đề theo hướng cụ thể hóa điều luật trong các chế định việc làm, tiền lương, thời giờ làm việc.
  • Nhóm báo cáo khảo sát kinh tế - xã hội: Báo cáo của Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Anh phối hợp Viện Nghiên cứu Thanh niên (1997, 1998) về lao động trẻ em nông thôn và Thành phố Hồ Chí Minh; Báo cáo của Khoa Tâm lý học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (2000) về trẻ em giúp việc gia đình tại Hà Nội; Báo cáo của Viện Xã hội học (2000) về trẻ em tại bãi rác Nam Sơn; Báo cáo của Vụ Chính sách lao động và việc làm (2000) tại làng gốm Bát Tràng; Báo cáo của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2009) tại 8 tỉnh, thành phố; Báo cáo của Hội Y học Lao động Việt Nam (2009) tại các làng nghề truyền thống.
  • Nhóm bài viết tạp chí chuyên ngành: Tác giả Nguyễn Hữu Chí (2003) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11; Đào Mộng Điệp (2004) trên Thông tin khoa học số 13 Trường Đại học Huế; Chu Mạnh Hùng (2005) trên Tạp chí Luật học số 5; Phạm Thị Thúy Nga (2006) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2; Đỗ Ngân Bình (2009) trên Tạp chí Luật học số 2.
  • Nhóm luận văn chuyên khảo: Vũ Thị Hằng (2000), Phan Văn Hùng (2002), Dương Thị Kiều Oanh (2003), Nguyễn Đình Tự (2004), Lê Việt Hà (2006), Lê Thị Huyền Trang (2008).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trên chủ yếu dừng lại ở góc độ kinh tế - xã hội, khảo sát diện hẹp hoặc phân tích quy định pháp luật ở mức độ khái quát, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống dưới hình thức một luận án tiến sĩ luật học về chế độ pháp lý điều chỉnh người lao động chưa thành niên trong bối cảnh các cam kết hội nhập quốc tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai theo các nhóm:

  • Phương pháp tổng hợp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 nhằm hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và tổng hợp các nhóm quy định điều chỉnh người lao động chưa thành niên.
  • Phương pháp phân tích, so sánh và logic: Được áp dụng xuyên suốt ở cả ba chương nhằm mổ xẻ nội dung điều luật, so sánh quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của ILO và pháp luật của các quốc gia khác (Anh, Thụy Điển, Slovakia, Malaysia, Oman, Síp, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc...).
  • Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê và phỏng vấn trực tiếp: Áp dụng tại Chương 2 nhằm thu thập dữ liệu thực tế về tình hình thi hành pháp luật, thanh tra, xử lý vi phạm tại các doanh nghiệp và cơ sở sử dụng lao động.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn kiện pháp lý trong nước qua các thời kỳ (Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950, Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963, Thông tư liên tịch số 06-TT/LT ngày 6/9/1963, Thông tư số 01/LĐTBXH-TT ngày 9/1/1988, Thông tư số 09/LĐTBXH-TT ngày 18/4/1989, Pháp lệnh Hợp đồng lao động năm 1990, Pháp lệnh Bảo hộ lao động năm 1991, Bộ luật Lao động năm 1994, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004); các công ước quốc tế (Công ước ILO số 138, 182, 6, 16, 77, 78, 124; Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989); báo cáo thống kê mức sống dân cư năm 2010 và các tài liệu chuyên ngành luật học.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về người lao động chưa thành niên và pháp luật về người lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm, phân loại và các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên.

Tác giả phân tích khái niệm người chưa thành niên dựa trên các cách tiếp cận đa ngành:

  • Nhân trắc học: Căn cứ vào quá trình tăng trưởng chiều cao đứng và chiều cao ngồi, chia thành hai mốc chính (từ 12 đến 17 tuổi ở nữ, 18 tuổi ở nam; và từ 19-20 tuổi ở nữ, 21-22 tuổi ở nam).
  • Tâm lý học: Nhóm tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi, giai đoạn phát triển tư duy trừu tượng độc lập, tư duy lý luận và hình thành định hướng nghề nghiệp thực tế.
  • Sinh học: Nhóm tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi là giai đoạn hoàn thiện quá trình cốt hóa hệ xương, ổn định tim mạch, chức năng thần kinh và hoàn thiện các thuộc tính thể chất để đáp ứng khả năng lao động.
  • Luật học: Sử dụng mốc dưới 18 tuổi làm giới hạn năng lực pháp lý và trách nhiệm pháp lý (Quy tắc Bắc Kinh 1985, Công ước Quyền trẻ em 1989).

Trên cơ sở đánh giá các định nghĩa hiện hành và quan điểm của các học giả (Phan Văn Hùng, Nguyễn Hữu Chí), luận án đưa ra định nghĩa:

"Người lao động chưa thành niên là người lao động có đặc điểm riêng, gồm những người dưới 18 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động."

Khái niệm này bao hàm ba yếu tố cấu thành: giới hạn độ tuổi dưới 18; khả năng lao động (năng lực pháp luật và năng lực hành vi gồm cả thể lực và trí lực); và việc thiết lập quan hệ lao động thông qua hợp đồng lao động.

Về phân loại, luận án xác định các tiêu chí phân loại chính:

  • Theo độ tuổi và tuổi đi học: nhóm từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi, và nhóm dưới 13 tuổi.
  • Theo giới tính: lao động chưa thành niên nam và lao động chưa thành niên nữ.
  • Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật: người lao động chưa thành niên đã qua đào tạo nghề và chưa qua đào tạo nghề.
  • Theo điều kiện môi trường lao động: làm việc trong môi trường bình thường và môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Về nguyên tắc điều chỉnh pháp luật, luận án xác lập ba nguyên tắc cốt lõi:

  1. Tôn trọng quyền được tham gia quan hệ lao động của người lao động chưa thành niên.
  2. Bảo vệ người lao động chưa thành niên thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu (về quyền, lợi ích) và tối đa (về nghĩa vụ) trên cơ sở độ tuổi, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động chưa thành niên so với quy định pháp luật.
  3. Bảo vệ người lao động chưa thành niên trong mối tương quan với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.

Bảng tổng hợp các tiêu chuẩn độ tuổi lao động tối thiểu theo Công ước số 138 của ILO được luận án viện dẫn:

Hoàn cảnh áp dụng Loại hình công việc Độ tuổi tối thiểu quy định Điều kiện kèm theo
Hoàn cảnh thông thường Công việc thông thường (không nguy hại) Đủ 15 tuổi trở lên Không thấp hơn tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc
Hoàn cảnh thông thường Công việc nhẹ nhàng Đủ 13 tuổi hoặc 15 tuổi Không ảnh hưởng sức khỏe, phát triển và học tập
Hoàn cảnh thông thường Công việc nguy hại Đủ 18 tuổi trở lên Làm tổn hại sức khỏe, an toàn hoặc nhân cách
Hoàn cảnh đặc thù (nước đang phát triển) Công việc thông thường Đủ 14 tuổi trở lên Áp dụng khi kinh tế và giáo dục chưa phát triển
Hoàn cảnh đặc thù (nước đang phát triển) Công việc nhẹ nhàng Đủ 12 tuổi hoặc 14 tuổi Chưa hoàn thành giáo dục bắt buộc
Hoàn cảnh đặc thù (nước đang phát triển) Công việc nguy hại Đủ 16 tuổi trở lên Bảo đảm an toàn, phẩm hạnh và được đào tạo nghề
Ngoại lệ đặc biệt Biểu diễn nghệ thuật Dưới độ tuổi tối thiểu Phải có giấy phép cá biệt quy định rõ thời giờ, điều kiện

Chương 2: Thực trạng pháp luật về người lao động chưa thành niên

Nội dung chương này đi sâu phân tích hệ thống pháp luật thực định của Việt Nam điều chỉnh người lao động chưa thành niên qua ba nhóm quy định:

  1. Nhóm quy định về cơ sở, tiền đề và thiết lập quan hệ lao động: Phân tích các quy định liên quan đến giải quyết việc làm, đào tạo nghề, định hướng nghề nghiệp và điều kiện, thủ tục giao kết hợp đồng lao động đối với từng độ tuổi của người lao động chưa thành niên.
  2. Nhóm quy định trong quá trình tham gia và chấm dứt quan hệ lao động: Đánh giá thực trạng điều chỉnh về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, các biện pháp an toàn vệ sinh lao động, chế độ bảo hiểm xã hội, việc xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm bồi thường vật chất và các căn cứ thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động.
  3. Nhóm quy định về thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp lao động: Xem xét cơ chế kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật lao động, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng lao động chưa thành niên sai quy định, và quy trình giải quyết các tranh chấp lao động phát sinh.

Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật về người lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế

Chương này tập trung xác định các yêu cầu nền tảng và đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp nhằm khắc phục các bất cập của pháp luật hiện hành:

  1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật: Phải đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa Bộ luật Lao động với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự và các văn bản liên quan; bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia (Công ước 138, Công ước 182 của ILO); và hài hòa lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động.
  2. Các giải pháp cụ thể: Đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể về độ tuổi lao động tối thiểu, danh mục nghề, công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên; tiêu chuẩn thời giờ làm việc, nghỉ ngơi; tăng cường chế tài xử phạt vi phạm; nâng cao năng lực hệ thống thanh tra lao động và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội hỗ trợ thanh thiếu niên học nghề, tìm kiếm việc làm an toàn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập các đóng góp khoa học mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

  • Về lý luận: Hệ thống hóa và luận giải các vấn đề lý luận về người lao động chưa thành niên trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Làm rõ khái niệm, các đặc điểm sinh - tâm lý và thể chất đặc thù của người lao động chưa thành niên làm cơ sở cho sự điều chỉnh pháp lý riêng biệt; luận giải mục đích, ý nghĩa và ba nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với đối tượng này; chỉ ra các tác động chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế tới hệ thống pháp luật lao động quốc gia.
  • Về nghiên cứu so sánh: Phân tích kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các quốc gia và hệ thống công ước của ILO, tạo cơ sở tham chiếu cho việc sửa đổi pháp luật Việt Nam.
  • Về thực tiễn: Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật thực định của Việt Nam về người lao động chưa thành niên, chỉ ra những khoảng trống, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật và những vướng mắc trong khâu tổ chức thực thi.
  • Về giải pháp: Xác định các yêu cầu khách quan và đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể, có luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung chủ yếu vào nhóm người lao động chưa thành niên làm việc theo quan hệ lao động "làm công ăn lương" chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động và các mối quan hệ tiền quan hệ lao động liên quan trực tiếp. Do giới hạn về mặt học thuật và phạm vi chuyên ngành Luật Kinh tế, luận án chưa đi sâu phân tích toàn diện nhóm lao động chưa thành niên làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức không có hợp đồng lao động (như lao động tự do, lao động giúp việc gia đình không chính thức). Đây là khoảng trống nghiên cứu có thể tiếp tục mở rộng trong các công trình khoa học tiếp theo khi điều kiện khảo sát thực tế cho phép.


Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Cơ quan lập pháp và các cơ quan quản lý nhà nước về lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) trong quá trình rà soát, hoạch định chính sách và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lao động chưa thành niên.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật, đặc biệt là chuyên ngành Luật Kinh tế và Luật Lao động, trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp lý.
  • Cán bộ thanh tra lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức xã hội quan tâm đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra khái niệm người lao động chưa thành niên như thế nào?
Luận án định nghĩa: "Người lao động chưa thành niên là người lao động có đặc điểm riêng, gồm những người dưới 18 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động." Khái niệm nhấn mạnh ba yếu tố: độ tuổi dưới 18, khả năng lao động (năng lực pháp luật và năng lực hành vi gồm thể lực, trí lực) và có quan hệ hợp đồng lao động.

2. Công ước số 138 của ILO quy định các mức độ tuổi lao động tối thiểu như thế nào trong hoàn cảnh thông thường?
Theo khoản 3 Điều 2, khoản 1, 2 Điều 7 và khoản 1 Điều 3 Công ước số 138: đối với công việc thông thường, độ tuổi tối thiểu là từ đủ 15 tuổi (không thấp hơn tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc); đối với công việc nhẹ nhàng, độ tuổi tối thiểu là từ đủ 13 tuổi hoặc 15 tuổi; đối với công việc nguy hại có thể làm tổn hại sức khỏe, an toàn hoặc nhân cách, độ tuổi tối thiểu phải từ đủ 18 tuổi.

3. Luận án xác định các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật cơ bản nào đối với người lao động chưa thành niên?
Luận án xác định 3 nguyên tắc: (1) Tôn trọng quyền được tham gia quan hệ lao động của người lao động chưa thành niên; (2) Bảo vệ người lao động chưa thành niên thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu (về quyền, lợi ích) và tối đa (về nghĩa vụ) trên cơ sở độ tuổi, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn; (3) Bảo vệ người lao động chưa thành niên trong mối tương quan với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.

4. Dữ liệu thực tế nào được luận án trích dẫn về tỷ lệ trẻ em không đến trường tại Việt Nam?
Luận án dẫn số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2010: tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học lên trung học phổ thông đạt 71,9% (28,1% không tiếp tục học lên); có 6% trong tổng số các em từ 15 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường; và 5,9% trong tổng số các em trong độ tuổi không theo học phổ thông cơ sở.

5. Luận án phân loại người lao động chưa thành niên theo những tiêu chí nào?
Luận án phân loại theo các tiêu chí: độ tuổi và độ tuổi đi học (nhóm dưới 13 tuổi, nhóm từ 13 đến dưới 15 tuổi, nhóm từ 15 đến dưới 18 tuổi); giới tính (nam, nữ); trình độ chuyên môn kỹ thuật (đã qua đào tạo nghề, chưa qua đào tạo nghề); và điều kiện môi trường lao động (môi trường bình thường, môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).


Kết luận

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế" của tác giả Nguyễn Đình Nhâm là công trình nghiên cứu chuyên khảo cấp tiến sĩ hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về lao động chưa thành niên tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ các thuộc tính pháp lý, nguyên tắc điều chỉnh và đánh giá thực trạng các nhóm quy định pháp luật lao động thực định trong tương quan với các tiêu chuẩn của ILO. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác hoàn thiện thể chế pháp luật lao động và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách bảo vệ lao động trẻ em trong tiến trình hội nhập quốc tế.